Đoạn đường đi vào lịch sử dân tộc

| 19/12/2013 | 0 Comments

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 9 | TRỊNH VĂN THẢO

Trao Đổi Với Giáo Sư Lê Thành Khôi Đôi nét về   đoạn đường đi vào lịch sử dân tộc

LTS: Sinh trưởng trong một gia đình theo truyền thống Nho giáo và đạo Phật, lại được đào tạo đa ngành rất vững chắc, Giáo sư Lê Thành Khôi là gương mặt trí thức lớn của Việt Nam tại hải ngoại, thấm nhuần sâu sắc cả hai nền văn hoá Đông, Tây. Sự nghiệp khoa học của Giáo sư hết sức đồ sộ, viết bằng nhiều ngôn ngữ. Giáo sư làm công tác tư vấn, nghiên cứu và giảng dạy cho nhiều tổ chức quốc tế và là người luôn thiết tha gắn bó với quê hương. VHPG trích giới thiệu bài trao đổi của Trịnh Văn Thảo, Giáo sư Đại học Aix en Provence, Marseille, Pháp, với Giáo sư Lê Thành Khôi.

le-thanh-khoiTrong nỗ lực tìm hiểu hành trình tri thức và quan niệm viết sử Việt Nam của Giáo sư Lê Thành Khôi, chúng tôi đã đề nghị Giáo sư trả lời một số câu hỏi được ghi sẵn. Thay vì tự chấp bút, trong bài này chúng tôi xin giữ vai “kép phụ”, làm người phỏng vấn nhằm gợi lên một vài câu hỏi có liên quan đến hành trình trí thức cùng sử quan của Giáo sư trong quyển Histoire du Viet Nam des origins à 1858 (“Lịch sử Việt Nam: từ khởi thuỷ đến năm 1858”, Paris, Sudestasie, 1992, 452 trang) – đặc biệt là chương III. Để có cái nhìn toàn cảnh, sau mỗi phần trả lời của Giáo sư, chúng tôi xin ghi thêm đôi lời chú giải về bối cảnh lịch sử và văn hoá.

Sau đây là những câu trả lời của Giáo sư Lê Thành Khôi.

1.Về ảnh hưởng của gia đình

Trong gia đình, mẹ tôi rất sùng mộ đạo Phật, ngày nào cũng tụng kinh. Có lẽ ít nhiều do ảnh hưởng đó nên hiện nay nhằm biên soạn quyển Lịch sử và tuyển tập văn học Phật giáo Việt Nam bằng tiếng Pháp, tôi cảm thấy thật thú vị khi dịch một số văn thơ đượm hương vị Thiền, đặc biệt những tác phẩm vào thời Lý Trần, trong đó có nhiều tác phẩm chưa bao giờ được chuyển sang tiếng Tây phương. Còn cha tôi thì thiên về Khổng giáo, từng cộng tác với ông Nguyễn Hữu Tiến viết cuốn Việt văn hợp tuyển giảng nghĩa, xuất bản ở Hà Nội vào năm 1925. Trong nhà tôi ngày trước có nhiều sách ta và sách Tây, nhờ vậy tôi có dịp đọc nhiều ngay từ thuở bé. Cha mẹ tôi và bà nội tôi thường kể cho tôi nghe những chuyện cổ tích và lịch sử. Phù Đổng Thiên Vương có lẽ là chuyện tôi thích nhất.

Chú giải: Hầu hết các nhà tri thức Việt Nam đều nhấn mạnh vai trò của gia đình trong sự “khai tâm” vào môn lịch sử. Phần đông đều ghi nhớ những câu chuyện dã sử, cổ tích hay thần thoại ít nhiều có liên hệ với lịch sử Việt Nam, qua lời kể của ông, bà hay chị vú ngày còn bé ở nhà quê… trên tấm phản gỗ giữa đêm thâu…

Thân phụ của Giáo sư Lê Thành Khôi là Giáo sư Lê Thành Ý (1893-1937) dạy về văn học. Cùng với các học giả Dương Quảng Hàm, Lê Thước, Nguyễn Lân, Giáo sư Lê Thành Ý thuộc thế hệ những nhà mô phạm lớn của hệ thống giáo dục thời Pháp-Việt. Về điểm này, chúng tôi đã có dịp trình bày chi tiết trong cuốn Trịnh Văn Thảo, L’Ecole Francaise en Indochine (“Quy chế và chính sách giáo dục của Pháp ở Đông Dương”, Paris, Karthala, 1995, 260 trang). Trong chúng ta, chắc hẳn nhiều người vẫn còn giữ lại những kỷ niệm tương tự như câu chuyện Phù Đổng Thiên Vương của Giáo sư Lê Thành Khôi.

Ngoài ảnh hưởng gia đình, đa số các nhà trí thức cũng nhấn mạnh ảnh hưởng của sách vở, đặc biệt những cuốn tiểu thuyết đọc vỡ lòng. Ví dụ, trong thời niên thiếu của Giáo sư Nguyễn Thế Anh, Tiêu Sơn tráng sĩ của Khái Hưng là tác phẩm có sức lôi cuốn nhất.

2.Về ảnh hưởng của nhà trường Tôi sinh ra ở Hà nội, hồi nhỏ theo học trường Pháp. Từ lớp 11, tôi học ở Lycée Albert Sarraut. Lý do là cha tôi được bổ làm giáo sư ở đấy, dạy về Ngôn ngữ và Văn học Việt Nam. Trong ban Triết, tôi học cổ điển học, cụ thể là học về Ngôn ngữ và Văn hoá La-tinh và Hy Lạp. Lúc bấy giờ tôi thích thơ hơn là sử, văn Hy hơn văn La. Tôi say mê đến nỗi có lần đem một đoạn từ Odyssée – tôi hãy còn nhớ rõ là đoạn “Nausicaa”- dịch ra tiếng Pháp theo thể thơ Alexandrin mỗi hàng có 12 âm tiết. Và tôi làm thơ Pháp, đầu năm 1945 tôi cho ra đời tập L’offrande des tubéreuses (Trang tặng những cành hoa huệ, Nhà in Taupin, Hà Nội). Đây là tác phẩm đầu lòng của tôi.

Ở trường Pháp không dạy lịch sử Việt Nam. Bù vào đấy tôi đọc sách ở nhà. Sau khi đỗ tú tài, tôi theo học Luật, Y khoa và Mỹ thuật.    

Chú giải: Về quá trình học tập thuở ấy, con đường “cái quan” mà Giáo sư Lê Thành Khôi đã đi qua chỉ dành cho một số ít học sinh, con các nhà khoa bảng, trung lưu hay cho một số ít học sinh con em của những gia đình nghèo nhưng nhờ học hành xuất sắc nên được nhận vào trường sau khi đã vượt qua những kỳ khảo hạch hóc búa (Xem Trịnh Văn Thảo, sách đã dẫn). Dưới thời thuộc địa, môn lịch sử Việt Nam là một môn học cấm kỵ từ cấp tiểu học cho đến cấp trung học. Trong quy chế đại học, một vài giáo trình của Léonard Aurousseau, Charles Maybon hay Đại tá Bonifacy có liên quan đến lịch sử Việt Nam được dùng để giảng dạy cho sinh viên trường Luật và trường Cao đẳng. Chính vì thế nên những công trình nghiên cứu về văn học và lịch sử của Dương Quảng Hàm (Việt Nam văn học sử yếu), của Trần Trọng Kim (Việt Nam sử lược), v.v… có ý nghĩa rất quan trọng trong thời điểm này.

3.Tiếp xúc với khoa Sử trong các đại học Pháp Tháng 12, 1946 (khởi đầu thời kỳ toàn quốc kháng chiến 9 năm, kết thúc với chiến thắng Điện Biên Phủ), tôi bị kẹt ở Hà Nội. Sợ bị lợi dụng, một năm sau đó, cha mẹ tôi cho tôi sang Pháp học. Tôi theo học kinh tế ở trường Luật và Kinh tế (lúc bấy giờ chưa tách rời), đỗ tiến sĩ với luận án về kinh tế Nhật Bản. Cũng trong thời gian này, tôi theo học Emile Gaspardone, giáo sư về Lịch sử Việt Nam ở Collège de France. Gaspardone là một nhà nghiên cứu rất nghiêm túc, tỉ mỉ, cặn kẽ, luôn luôn tôn trọng nguyên tắc “nói có sách mách có chứng”, sẵn sàng thảo luận và chấp nhận những ý kiến khác với ý kiến của mình. Ý định viết một cuốn sử Việt Nam trình bày cách nhìn Việt Nam, phản bác những thuyết sai lầm hay có ác ý muốn bóp méo sự thật của thực dân, nảy sinh trong tôi từ lúc đó. Để đọc được những tài liệu xưa của nước ta, tôi bắt đầu học Hán ngữ (và luôn thể Việt ngữ) ở trường Ngôn ngữ Đông phương (Ecole nationnale des Langues Orientales vivantes), ba năm sau thi xong, đỗ thủ khoa. Tôi còn lấy thêm bằng cử nhân Văn khoa (trong đó có Sử). Tôi viết xong quyển Le Viet Nam: Histoire et Civilisation (Việt Nam: Lịch sử và Văn minh) năm 1954, được Editions de Minuit nhận xuất bản năm 1955, là cuốn sử đầu tiên viết bằng tiếng Tây phương có cái nhìn mới (khác với sách của thực dân), ra 3,4 tháng trước quyển Contribution à I’histoire de la nation Vietnamienne (Đóng góp vào lịch sử nước Việt Nam) của Jean Chesneaux. Trước và trong lúc viết, tôi đã đọc nhiều Marx, Engels, cùng những sách về lịch sử thế giới, phương pháp luận sử học và biện chứng duy vật (sau này mới xem đến Kinh Dịch).

Ý định viết một cuốn sử Việt Nam cho người ngoại quốc đọc trước hết là một ý định chính trị, sau mới là ý định khoa học (nhưng tránh tuyên truyền).

Chú giải: Giáo sư Emile Gaspardone mà Giáo sư Lê Thành Khôi có đề cập trên là một nhà Ngôn ngữ học và Đông phương học lỗi lạc. Chính Giáo sư Gaspardone đã phê bình nghiêm khắc xu hướng “trọng Hoa, khinh Việt” của một số nhà nghiên cứu ở Trường Viễn Đông Bác Cổ. Quyển Le Viet Nam: Histoire et Civilisation được Nhà Xuất bản Minuit (bắt nguồn từ thời kháng chiến chống Đức Quốc xã) phát hành năm 1955 đánh dấu một kỷ nguyên mới trong ngành Sử học Việt Nam, cùng thời với cuốn Contribution à L’histoire de la nation Vietnamienne của sử gia Jean Chesneaux (do Les Edistions Sociales, có quan hệ với Đảng Cộng sản Pháp, xuất bản). Hai tác giả được đào tạo trong những môi trường chuyên môn, nghề nghiệp và ý thức chính trị khác nhau. Jean Chesneaux là Thạc sĩ Sử học, gia nhập Đảng Cộng sản cũng như nhiều trí thức ở Pháp sau Thế chiến II và Giáo sư Lê Thành khôi có thể được xem là một trí thức Việt kiều và người bạn “đồng hành” của Chính phủ Hồ Chí Minh. Cách nhìn và phương pháp phân tích các sự kiện lịch sử có khác nhau. Quan điểm duy vật của sử quan Jean Chesneaux cho phép ông vận dụng lý thuyết và những khái niệm như “phong kiến”, “tư bản” hay phân kỳ lịch sử Việt Nam theo cách phân kỳ lịch sử Âu châu (cổ đại, trung đại, cận đại và hiện đại v.v…). Tuy nhiên, khác với những công trình nghiên cứu cùng thời, cả hai tác giả đều chú trọng đến cách sử dụng sử liệu một cách nghiêm túc, đối chiếu và dẫn chứng. Ngoài ra, mẫu số chung giữa hai nhà nghiên cứu là tôn trọng cá tính dân tộc Việt Nam, không coi nó như là một sản phẩm văn hoá và chính trị suy thoái của mô hình Trung Quốc được các nhà thông thái Đông phương học của Trường Viễn Đông Bác Cổ – kể cả một nhân vật xuất sắc như Paul Mus – tạo dựng thành khuôn vàng thước ngọc.

4. Nhận xét về ngành sử học trong và ngoài nước hiện nay Kiến thức khiêm tốn của tôi không cho phép tôi đánh giá ngành Sử học ở trong và ngoài nước một cách đầy đủ. Nhưng tôi nghĩ rằng ngành Sử và ngành Văn học là hai ngành mạnh nhất ở Việt Nam, so với những ngành như Tâm lý học hay Xã hội học. Sử học (và Khảo cổ học) đã đạt được nhiều thành tựu đáng khen ngợi, đóng góp cho sự hiểu biết về quá khứ của nước nhà.

Nói về những hạn chế, trước đây, do ảnh hưởng của tư duy cũ, cũng có một số nhà nghiên cúu đã đặt tuyên truyền chính trị trên sự thật khoa học. Chẳng hạn, vào năm 1955, khi quyển sách nói trên của tôi vừa ra đời, có người viết trên báo nghiên cứu lịch sử ở trong nước cho rằng tôi đã lầm lẫn khi viết là Gia Long đã thống nhất nước nhà năm 1802. Theo quan điểm của nhà nghiên cứu đó, phải nói là nhà “Tây Sơn mới đúng”. Tôi có trả lời, giải thích rằng sau khi thắng, anh em Tây Sơn đã chia đất với nhau: Nguyễn Huệ chiếm Bắc Hà, Nguyễn Nhạc giữ đất đèo Hải Vân đến Bình Thuận, còn Nguyễn Lữ thì lấy được Gia Định nhưng từ cuối năm 1787 thành này đã lọt vào tay Nguyễn Ánh. Nhà nghiên cứu ấy không trả lời được, bảo rằng tôi là “tiểu tư sản”. Trong một vài cuốn sách xuất bản gần đây, vẫn có người cho rằng nhà Tây Sơn đã thống nhất Việt Nam.

Xin lấy một ví dụ khác: có nhiều sách vẫn nói đến năm lịch sử Việt Nam. Nếu vậy, thì mỗi vua Hùng trị vì 100 năm. Làm sao có được! Trong khi Đại Việt sử lược (thế kỷ thứ XIV) viết rằng Hùng Vương dựng nước vào cuối thế kỷ VII trước Công nguyên, nghĩa là mỗi vua Hùng trị vì 20 năm: như vậy thì còn khả tín. Một vấn đề khác là việc “nhập cảng” những khái niệm không thích hợp với hoàn cảnh Việt Nam, chẳng hạn như khái niệm “trung đại”. Dùng khái niệm “trung đại” có lý ở châu Âu: từ “trung đại” là để chỉ thời đại giữa cổ đại (thời Hy Lạp và La Mã) và Phục hưng. Nhưng ở Đông Á trong đó có Việt Nam đâu có gì gọi là “Phục hưng”. Trong lịch sử nghìn năm độc lập của nước ta, thay đổi chính yếu giữa giai đoạn 939-1428 (gọi tắt là Lý-Trần); và giai đoạn 1428-1862 (gọi tắt là Lê-Nguyễn) là một sự thay đổi chính trị và tư tưởng. Trong giai đoạn 1, giai cấp thống trị là quý tộc (họ hàng nhà vua) dùng Tam giáo (với Phật giáo đứng đầu). Trong giai đoạn 2, giai cấp thống trị là Nho quan. Cần để ý “sĩ” không phải là một giai cấp, vì có sự phân chia nội bộ: người thi đỗ thì làm quan, người thi không đỗ thì trở về làng mở trường dạy học trò, nhiều khi đứng về phía dân, lãnh đạo các cuộc nổi dậy chống triều đình.

Chú giải: Quyển Histoire du Viet Nam des Origins à 1858 được Nhà Xuất bản Sudestasie (Paris) phát hành năm 1992 (gồm 452 trang cùng nhiều tranh ảnh và phụ lục) mang lại nhiều yếu tố mới mẻ so với bản in năm 1955, nhất là trong chương III khi tác giả đặt vấn đề hình thành của nhà nước Việt Nam (trang 125).

Tác giả đặt vấn đề tại sao “nhiều sử gia lại dùng từ “phong kiến” nhằm chỉ chế độ Việt Nam thời xưa bao gồm cả thời Bắc thuộc dưới sự cai trị của nhà Hán trong khi chính từ này cũng được dùng để chỉ xã hội Trung Quốc đời nhà Hán, còn các thời đại trước đó thì được gọi là “thời kỳ nô lệ” (sic). Dùng từ “phong kiến” lại không ổn do nhiều lý do nên một số nhà nghiên cứu đã đem hâm nóng lại khái niệm “phương thức sản xuất phương Đông”, một khái niệm đã bị quên lãng từ lâu, nhằm “áp dụng vào Việt Nam và Trung Quốc” (tr.127).

Vấn đề so sánh khái niệm lý thuyết với thực tại lịch sử từng nước, dĩ nhiên rất tế nhị vì thực chất và căn bản lý luận không đồng nhất. Tuy nhiên, khi thực tại lịch sử không phù hợp với lô-gích xã hội của khái niệm lịch sử, sử gia phải thận trọng để tránh những ngộ nhận trong việc nghiên cứu và nhận định lịch sử. Chẳng hạn như khái niệm “phong kiến” áp dụng vào quan hệ sản xuất xã hội, phương thức hình thành và lô-gích tái tạo giai cấp thống trị, cơ sở kinh tế (chế độ chiếm hữu tư sản), chế độ sắc phong, vai trò của ý thức hệ và tôn giáo, tương quan đẳng cấp giữa cá nhân, v.v. nếu chưa nắm được, thì chỉ đưa tới hậu quả không thể tránh khỏi là đơn thuần hoá hay chí ít là trung lập hoá nó một cách vô thưởng vô phạt. Trong kinh điển mácxit, khái niệm “phương thức sản xuất phương Đông” có triển vọng giải thích những cá tính của các nước Á châu: Nhà nước tập trung với vai trò độc đáo về kinh tế, quân sự, xã hội, tự trị ở nông thôn,… Tuy nhiên, những cuộc tranh luận sôi nổi vào thập niên 1970 đã không mang lại những kết luận thoả đáng vì theo một số học giả mácxit, khái niệm này chỉ áp dụng vào những xã hội quá độ chưa có giai cấp xã hội rõ ràng, như vậy nó không thể áp dụng vào các nước tiền tư bản như Trung Quốc hay Ấn Độ. Sau khi so sánh và phân tích chi li chế độ điền địa, quan hệ xã hội, vai trò của nhà nước Nho quan trong nhiệm vụ bảo vệ biên giới (quân sự), xây đê điều và canh tác ruộng đất, quan hệ giai cấp,… với kinh điển mácxit và kinh nghiệm lịch sử châu Âu, tác giả cho rằng những khái niệm này không thể áp dụng vào hoàn cảnh lịch sử Việt Nam và đi đến kết luận là nên phân chia thời đại Việt Nam từ kỷ nguyên độc lập như sau: Thời đại quân chủ thân tộc (la monarchie patrimoniale, xem định nghĩa ở tiết 3, tr 172, sách đã dẫn) gồm các đời Lý-Trần (thế kỷ X-XV), thời đại quân chủ quan lieu (hay Nho quan) từ nhà Lê đến nhà Nguyễn (thế kỷ XV-XX).

Dĩ nhiên, việc phân chia thời đại bao giờ cũng dính liền với quan điểm viết sử của cộng đồng sử gia, đòi hỏi sự thống nhất tư tưởng và tiêu chuẩn khoa học. Sự lựa chọn này phải hợp lý và quyển Histoire du Viet Nam des origins à 1858 đã thực sự đánh dấu bước đầu lịch sử đó.

Aix en Provence, tháng 11-2004 Viết trong niềm tưởng nhớ Giáo sư Lê Thành Ý Học trò cũ của thầy ở một ngôi trường trung học phố La- tinh, Paris. (Theo Từ Đông sang Tây, NXB Đà Nẵng, 2005)   

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 9 | TRỊNH VĂN THẢO

Tags: , , ,

Category: Nhân Vật, Trịnh Văn Thảo

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *