Bến đỗ đầu đời

| 07/10/2015 | 0 Comments

Ngôi chùa thân yêu | Kiều Nguyện

 ben-do-dau-doi

Đã có ý nguyện xuất gia từ lâu, học xong lớp 1, tôi xin phép ba mẹ cho tôi đi tu. Ba mẹ tôi tôn trọng ý kiến của con và tán thành ý nguyện đó. Vì gia đình tôi là Phật tử thuần thành. Tuy ban đầu ông nội tôi phản đối kích liệt nhưng rồi cũng đành để tôi xuất gia. Tôi cũng qua được cửa ải của các anh chị không mấy khó khăn lắm. Cuối cùng mẹ tôi gửi tôi đến một ngôi chùa ở Huế vào một buổi chiều nắng oi nồng của miền Trung. Huế vẫn soi mình bên dòng sông Hương hiền hòa, núi Ngự vẫn vững chãi như ngày nào trên đất Thần kinh. Xe đưa hai mẹ con vào một ngôi chùa mà mẹ tôi bảo đó là nơi tôi sẽ tu học. Một ngôi chùa nhỏ nằm nếp mình trong Thành; trước mặt chùa là một khoảnh vườn trồng toàn cây xanh. Ngôi chùa thoáng mát, và mẹ con tôi đã gặp ngay vị Ni sư gần sáu mươi đang cầm tràng hạt niệm Phật trước sân chùa.

Ở tại chùa được hai ngày, mẹ tôi phải về lại Quảng Trị để tiếp tục công việc của mình. Tôi tiễn mẹ ra đến cỏng chùa mà lòng bùi ngùi, từ đây tôi mãi xa gia đình.

Ban đầu mọi sinh hoạt trong chùa đều xa lạ đối với tôi. Từ cách ăn uống, sinh hoạt, nói năng đều có quy luật, có trên có dưới, đi thưa về trình, ăn cơm thì phải đúng giờ, lại phải cúng và niệm Phật trước khi ăn; muốn nói điều gì với Ni sư hay quý Sư cô đều phải chắp tay, thưa dạ đầu tiên…Tôi phải học mọi thứ theo lễ nghi của nhà chùa.

Chùa không rộng lắm nhưng công việc nhiều ơi là nhiều. Chùa có làm thêm bánh in để trang trải kinh tế cho chùa nên chị em chúng tôi phải tranh thủ học kinh trong khi làm việc. Không phải vậy mà chị em chúng tôi bỏ qua những chi tiết, tình huống vui vẻ của thời hành điệu. Trước chùa có một cây ổi xá lị ngon ơi là ngon, cây cao lên đến mái chùa. Mỗi lần chúng tôi leo lên mái để phơi bầu bí làm dưa, cũng giống như Tề Thiên ở trong vườn táo tiên, chúng tôi ăn hết trái này đến trái khác. Vị ngọt vị chua giòn tan trong miệng, cộng với cái cảm giác được tự do trên mái nhà không ai nhìn thấy, chúng tôi đều thấy thật là sung sướng. Được tự do thể hiện phong cách ăn uống của mình thì thật là hạnh phúc đối với chúng tôi.

Chúng tôi có đến 5 chị em đang hành điệu, suốt ngày làm việc chùa, hết việc này đến việc khác, vừa làm vừa ê a “Như thỉ ngã văn, nhất thời Phật tại Xá-vệ quốc..”. Những buổi học chỉ có một thầy với vài trò do Sư cô làm giáo thọ dạy giáo lý. Những câu hỏi được đặt ra làm chúng tôi tròn xoe mắt nhìn nhau. “Tại sao Đức Phật đắp y hở vai bên phải?” “Tại sao phải cúng thí thực vào buổi chiều?” “Tại sao phải có bài chú Đại bàng kim xí điểu…?”. Ôi! Quá nhiều câu hỏi tại sao, chúng tôi như lạc vào một khu vườn bí mật tha hồ đặt câu hỏi và nhận được giải thích của Sư cô. Những câu trả lời của Sư cô chúng tôi nhớ rất rõ, con những câu kinh sao mà khó nhớ khó thuộc quá, toàn là chữ Phạn, như chú Lăng Nghiêm, Thập chú sao mà toàn chữ dà ra dà ra, đá vô đá ra lộn tùng phèo…chúng tôi toàn bị quỳ vì những từ này mà mãi vẫn không thuộc nổi.

Hình ảnh Đức Phật cao cả được hình thành trong tâm thức mỗi chúng tôi ngày càng sâu đậm theo từng buổi học ở chùa. Từ khi Thái tử Tất-đạt-đa ra đời xuất gia rồi thành đạo; khí phách của bậc Giáo chủ sáng chói trong tâm hồn chúng tôi. Hình ảnh những vị Tổ đi qua trong bước đầu nhập đạo của mấy đứa điệu như chúng tôi cũng thật tuyệt vời và đáng khâm phục. Tại sao cũng là người mà các vị Tổ lại có tinh thần trách nhiệm đối với thế hệ mai sau khiến bây giờ chúng tôi có được những bản văn luận giải, luật giải để mà học theo đạo thánh hiền? Trong sinh hoạt ở chùa, khi cất bước hay làm một hành động nào đều có một câu chú nguyện, nguyện cho tất cả chúng sanh đều thành Phật đạo.

Cây ổi xá lị trước sân chùa đã già và chúng tôi cũng lớn dần lên cả về thể xác lẫn tinh thần. Những bài học vỡ lòng vẫn còn vang vọng đâu đây theo năm tháng hành điệu. Những triết lý cao cả thánh thiện của các bậc tiền nhân, những tưởng mình có thể đạt được nhưng thỉnh thoảng giật mình nhìn lại. Ô hay! Đạo lý ấy hãy còn xa với những người đầy tham sân si như mình.

Thế rồi, Ni sư cho chúng tôi xuất chúng để theo học nội trú các trường Phật học. Ngày tôi rời chùa cũng bùi ngùi như ngày tôi tiễn mẹ về quê. Sông Hương vẫn hiền hòa như người dân xứ Huế, núi Ngự vẫn vững chãi với thời gian. Ngôi chùa đầu tiên trong đời xuất gia của tôi lúc nào vẫn hiện về, những bài học vỡ lòng về đạo lý làm người, về tinh thần trách nhiệm của một vị xuất trần thượng sĩ đã làm tan chảy trái tim non nớt của tôi.

Cây ổi trước chùa đã bị đốn để có đất xây chánh điện rộng hơn. Chùa Thành Nội nay đã khang trang lên nhiều. Và tôi mừng cho chốn già lam được phong quang hơn nhưng kỷ niệm của bước đầu xuất gia với ngôi chùa năm nào vẫn còn mãi trong tôi. Tiếng chuông chùa tôi vẫn nghe hằng ngày nhưng tiếng chuông của Thành Nội vẫn vang mãi trong cái kỷ niệm đầu tiên được sống trong chốn già lam.

Văn chung thanh phiền não khinh
Trí huệ trưởng Bồ đề sanh
Ly địa ngục xuất hỏa khanh
Nguyện thành Phật độ chúng sanh
”… ■

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 90

(Visited 104 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Cảnh Chùa

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *