Chùa cỏ Đại Bình

| 04/10/2014 | 0 Comments

NGÔI CHÙA THÂN YÊU | NGUYỄN TẤN THÀNHchua-co-dai-binh

Năm 1967 tôi được Nha Trung học bổ nhiệm về trường Bảo Lộc. Khi đi mẹ tôi dặn, phải cố tìm thăm cho bằng được cậu Hai tôi. Mẹ cho biết: năm 1963 cậu tôi rời bỏ chùa Trong, đèo Hốc Lá, Phú Yên vào núi Bà. Ở Lạc Dương, sau đó trằn xuống Bảo Lộc, ẩn tu tại núi Đại Bình. Mất nhiều tháng dò hỏi, tôi mới có dịp tìm nơi ẩn tu của cậu tôi, vào một buổi sáng cuối tháng Chạp.

Lâm Đồng, lúc đó tỉnh lỵ đặt tại Bảo Lộc, người thưa, đất rộng, vắng vẻ và buồn! Sáng chủ nhật trời lạnh như cắt da, tôi đạp xe đi sớm từ trường xuống ấp B’Đơ, qua khỏi sở Con Trâu (Ferme) gởi xe nhà K’lèng, người dẫn đường, rồi chúng tôi đi bộ. Tới đầu dốc Lê Minh Sanh (QL.20) rẽ phải vào đường Truông, mới hơn 8 giờ, mù sương dày đặc. Qua khỏi làng Công Hinh (Konhinda) đường đi xấu dần, ngoằn ngoèo, cây cối chằng chịt. Hai bên đường, dã quỳ nở hoa vàng rực. Qua khỏi mấy đồi trà, tới một trảng tranh bạt ngàn, có một chút nắng ấm, rồi lại tẻ vào một khu rừng rậm âm u. Trên đường thỉnh thoảng có bóng dáng người Thượng qua lại. Đàn ông còn căng tai, đóng khố, vác xà gạc đi rẫy. Đàn bà còn để ngực trần, hút thuốc vấn bằng lá, mang rổ đi bắt con cá, con tép. Qua thêm mấy quả đồi trồng lúa rẫy, vừa mới suốt, một bầy chim sẻ sà xuống nhặt những hạt rơi, trông thấy người vội cất cánh bay lên. Tới dãy tre mọc chạy dài theo bờ sông, K’lèng chỉ cho tôi: con đường bên phải vào cầu treo qua núi. Chúng tôi rẽ trái đi ngược về phía nguồn. Tôi mệt và khát nước, đòi dừng nghỉ. K’lèng bảo:”sắp tới rồi”.

Chúng tôi cũng đến nơi. Chùa cỏ là một thảo am nhỏ nhắn, sạch sẽ được dựng bởi một người cẩn thận và khéo léo, mái tranh, sàn vách làm bằng tre nứa.

Không gian chìm trong cô tịch. Chỉ có tiếng chim kêu vượn hú và tiếng nước chảy róc rách. Chung quanh chùa đất khai phá trống sắn, trồng lang. Đây đó, dấu heo rừng ủi tung tẩy, mặc dù có rào tre bao bọc.

Tong chùa trống trơn, trên là ngôi Tam bảo, tượng Đức Bổn Sư được nặn bằng đất nung. Có chiếc chuông treo úp, giữa bàn thờ là bát nhang sành cũ kỹ. Trên vách treo chiếc áo cà sa rách vá nhiều mảnh.

Góc sàn là một cái bếp làm bằng ván ghép, trét đất sét, khỏa tro bằng mặt, kê mấy hòn đá, bắc một nồi khoai, một ấm nước. Đối diện bếp là chỗ nằm và chỗ ngồi thiền. Đệm kết bằng mấy cái bao bố sọc xanh. Bếp này ban đêm còn giữ lửa, sưởi ấm, đuổi muỗi và chống lam sơn chướng khí.

Do bất giác, trong lòng tôi trào dâng một nỗi xót xa. Nghĩ thấy tội cho cậu làm sao! Thương quá!

Cậu tôi có pháp danh Minh Hoa, họ Lê, thân phụ là một nhà Nho, tham gia phong trào Việt Minh. Thưở nhỏ cậu đã không ăn thịt cá. Theo mẹ chạy giặc, lánh nạn vào chùa, cậu thích ăn rau dưa, tương muối. . Trong các buổi công phu, cậu theo lên lạy Phật. Tuổi thiếu niên cậu thích lên làng Phật học, chơi với ông chú tu tại gia, được ông dạy chữ Nho. Lớn lên ông cũng là học sinh giỏi của Trường Lương Văn Chánh, giỏi tiếng Pháp. Năm 18 tuổi cậu xin xuất gia, tu ở chùa Trong, đèo Hốc Lá. Mẹ tôi kể về cậu như một huyền thoại.

Đang suy nghĩ miên man, cậu tôi đã về tới, mặc bộ quân áo nâu sồng, bạc thếch, đội nón cời, trông cậu như một lão nông. Câu ngoài 50, da sậm đen, má hóp, dong dỏng cao, đôi mắt sáng, phong thái nghiêm trang. Câu tôi hỏi thăm tin tức, về ông ngoại, sức khỏe mẹ tôi và công ăn việc làm của tôi. Tôi lần lượt trả lời từng câu hỏi. Cái tình máu mủ, ruột rà trong tôi nổi dậy, tôi nghe cay xè trên đôi mắt.

Ngày tôi sanh ra, cậu về đặt tên khai sanh. Cậu mong mỏi sau này tôi trở thành một nhà sư. Cậu bảo mẹ tôi dù nghèo cũng phải cho đi học. Tôi rất ngưỡng mộ cậu. Tôi hỏi: Tại sao cậu là người giỏi giang, lại từ bỏ cuộc đời quá sớm để đi tu? Cậu đáp: Không hề từ bỏ cuộc đời như lời Phật dạy: “được tái sinh làm người là một phước báu”. Thời buổi loạn lạc, lao vào tranh sống, tìm kiếm danh vọng, bạc tiền, làm cho tâm bất an. Đời sống tinh thần mới thật là quý giá hơn đời sống vật chất. Tôi xin cậu một lời khuyên. Đáp: đi dạy học là tốt, nhưng nên hành thiền. Hỏi: thiền như thế nào? Đáp: như ly nước đục, lóng trong. Đục là vọng niệm. Trong là Phật tánh. Cố gắng kiên trì hành thiền cho tới chết. Nếu không giải thoát thì cũng chấm dứt mê hoặc và sẽ trở thành một con người đúng nghĩa.

Khoảng 2 giờ chiều cậu bảo tôi về. Năm 1968 tôi tái ngũ. Năm 1972 cậu rời bỏ Đại Bình. Bặt tin tức từ đấy. Năm 1975 nghe đâu cậu qua đời trong biến cố ở Tây Ninh.

Cậu đã làm lể quy y và truyền trao Ngũ giới cho tôi ở chùa cỏ Đại Bình, 40 năm tu tại gia trồi lên trụt xuống giữa cuộc đời bể khổ. Một câu nói của cậu giúp cho tôi đứng vững được. Thiền cho đến chết! Nó như một lời thề kiên cố! Phải thiền như một thói quen, đừng xao lãng.

Cậu ẩn tu suốt đời, một thiền sư bình thường. Không xây chùa to, đúc tượng lớn, chỉ dựng những ngôi chùa cỏ, ở những nơi hẻo lánh. Những lời Phật do cậu nói ra đủ sức thức tỉnh, giúp tôi có đủ tín lực cắt đứt vọng tưởng, duy trì trạng thái nguyên sơ của tâm hầu như không bị gián đoạn. Cậu đúng là chân sư.■

NGUYỄN TẤN THÀNH | Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 64

Tại sao cậu là người giỏi giang, lại từ bỏ cuộc đời quá sớm để đi tu? Cậu đáp: Không hề từ bỏ cuộc đời như lời Phật dạy: “được tái sinh làm người là một phước báu”.

(Visited 167 times, 1 visits today)

Tags: , , , , ,

Category: Cảnh Chùa, Nguyễn Tấn Thành

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *