Chùa Mình

| 26/11/2014 | 0 Comments

ĐỖ XUÂN LƯỢNG | Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 69

Chùa mình đã cho tôi tình bạn bè thân thiết, đã giúp tôi tiếp xúc được với cội nguồn huyết thống, đã xây dựng cho tôi đời sống tâm linh. Hình hài tôi có được nhờ cha mẹ sinh thành. Nhân cách tôi có được nhờ chùa Mình rèn luyện…chua-Minh

Trẻ con chúng tôi ở làng Bích Khê quen gọi ngôi chùa ở làng là chùa Mình. Chùa tọa lạc tại cuối làng – một làng ở miền xuôi – nên đi đến chùa chúng tôi không nói là “lên chùa”, mà là “lui chùa”.

Hồi còn nhỏ, chúng tôi thường lui chùa Mình vì những bông hoa ngọc lan thơm ngát, vì chim chóc đậu trên cây trong vườn chùa. Khi khuôn hội Bích Khê thành lập vào những năm 1950, chùa trở thành niệm Phật đường cho dân làng đến lễ bái tụng niệm, chúng tôi lại được lui chùa Mình vào những đêm rằm, mồng một để cùng các bác lạy Phật tụng kinh. Thỉnh thoảng có thầy Giảng sư trên chùa Tỉnh Hội về thuyết pháp… Câu chuyện thầy kể Thái tử Tất Đạt Đa thắng kiện, giành được con chim bị Đề Bà Đạt Đa bắn hạ để chăm sóc khiến chúng tôi hối hận, phá hết những cái ná bắn chim. Từ khi Ban Nghi lễ khuôn hội được thành lập, vào ngày kỵ ngày giỗ chúng tôi không chỉ tụ tập vui đùa chờ ăn cỗ, mà còn cùng bà con lui chùa Mình dự lễ cầu siêu. Trang nghiêm quỳ trước Đức Phật, nghe được tên huý của người quá cố, dõi theo lời kinh cầu nguyện, chúng tôi tiếp xúc được với tổ tiên ông bà, cảm nhận sâu sắc tình cảm huyết thống.

Rồi Gia đình Phật tử Bích Khê ra đời. Là những đoàn sinh GĐPT, ngày cuối tuần chúng tôi không còn kéo nhau lang thang, phá phách hết làng này qua làng khác và chia tay sau những trận chửi rủa, đánh đập nhau nữa. Chúng tôi lui chùa Mình lễ Phật. Mặc đồng phục Gia đình Phật tử, quỳ ngay hàng thẳng lối trước đài sen, chúng tôi thành tâm tụng bài “Đệ Tử Kính Lạy”. Lời văn của bài sám nguyện khiến chúng tôi xem xét tâm tính của mình. Đời sống tâm linh của tôi bắt đầu từ đó. Lễ Phật xong, chúng tôi ca múa vui chơi dưới sự hướng dẫn của các anh chị huynh trưởng, rồi ra về trong niềm quyến luyến thân thương.

Chùa Mình đã cho tôi tình bạn bè thân thiết, đã giúp tôi tiếp xúc được với cội nguồn huyết thống, đã xây dựng cho tôi đời sống tâm linh. Hình hài tôi có được nhờ cha mẹ sinh thành. Nhân cách tôi có được nhờ chùa Mình rèn luyện. Khi lớn lên phải đi học xa nhà, tôi thích thầm niệm hai câu thơ của Nguyễn Bính:

Mai này tôi bỏ quê tôi
Bỏ trăng bỏ gió chao ôi bỏ chùa.

Sau binh biến 1972 tại Thành cổ Quảng Trị, làng Bích Khê trở thành bình địa. Chùa chỉ còn lại tiền đường loang lổ vết đạn bom! Năm 1975 khi chiến tranh không còn, dân làng, trước phải tản cư vào Nam ra Bắc, nay kéo nhau về làng tìm lại “tâm hồn” của mình. Hoạt động văn hóa đầu tiên của làng là tìm kiếm tôn lủng ván hư, che chắn tiền đường của chùa để làm nơi thờ Phật. Thi sĩ Huyền Không diễn đạt cảm nhận của mình bằng thơ văn:

Mái chùa che chở hồn dân tộc
Nếp sống muôn đời của tổ tông.

Dân làng tôi thể hiện bằng hành động. Nếu không đồng cảm với thi sĩ Huyền Không thì làm sao dân làng tôi có thể thản nhiên sửa chùa lễ Phật khi mà chùa ở làng chung quanh phải biến thành nhà kho của hợp tác xã?

Đạo tâm của dân làng được Thiện Thần Hộ Pháp chứng giám hộ trì. Năm 2000, đông đảo Phật tử, cả tu sĩ lẫn cư sĩ, ở trong nước và ngoài nước, gửi tiền về xây dựng lại chùa xưa. Tại một làng quê tan nát vì chiến tranh, dân làng gồm toàn những người mới hồi cư với hai bàn tay trắng, trên nền chùa cũ tái hiện một ngôi phạm vũ uy nghiêm, chi phí xây dựng lên đến 200 triệu đồng.

Nhân dịp này dân làng mới biết chùa ban đầu có tên là Hồng Ân, sau đó đổi thành Hồng Khê, và lần trùng tu sớm nhất bi ký còn ghi lại là vào năm 1762. Như vậy chùa được xây muộn nhất là vào cuối thế kỷ 17 hoặc đầu thế kỷ 18.

Nhờ sự hiện diện của chùa mà dân làng sớm biết đạo. Nhiều gia đình thuộc hàng khá giả phát tâm cho xuất gia học đạo để rồi trở thành những bậc cao tăng như Hòa thượng Thích Hải Thuận, thế danh Đỗ Lương Duyên tại chùa Báo Quốc (Huế), Hòa thượng Thích Giác Phong, thế danh Hoàng Hữu Đàn tại chùa Hải Đức (Nha Trang), Hòa thượng Thích Đạo Quang, thế danh Đỗ Thiên Phú tại chùa Linh Sơn (Đà Lạt), Hòa thượng Thích Thiện Minh, thế danh Đỗ Xuân Hàng, nguyên Tổng vụ trưởng Tổng vụ Thanh niên Phật tử, và nhiều vị khác nữa.

Chùa xây xong, hàng cột trước tiền đường không còn được trang hoàng bằng những câu đối chữ Nho mà bằng bống câu đối chữ Việt. Hai câu giữa của Hòa thượng Thích Thiện Siêu:

Cảnh vật trang nghiêm mõ sớm gõ tan hồn mộng ảo
Cửa chùa thanh tịnh chuông chiều ngân vọng tiếng từ bi.

Hai câu hai bên do một dân làng sáng tác:

Niệm Phật tụng kinh tinh tấn đêm ngày mong hiểu Đạo
Tu tâm dưỡng tánh kiên trì năm tháng nguyện giúp Đời
.

Hai câu giữa tả cảnh, hai câu bên tả người. Cảnh ở đây khai mở trí tuệ và từ bi. Người đến đây cũng chỉ cầu từ bi và trí tuệ. Như vậy nơi này nhất định có Đạo.

Chúng tôi mong rằng Tỉnh Giác hội Phật giáo Quảng Trị quan tâm phát triển hơn nơi này thành một trung tâm tu học thanh tịnh trang nghiêm.

Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn

Chế Lan Viên.

ĐỖ XUÂN LƯỢNG | Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 69

(Visited 46 times, 1 visits today)

Tags: , , , ,

Category: Cảnh Chùa

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Facebook Auto Publish Powered By : XYZScripts.com