Chùa Phú Đức, bóng mát đời tôi

| 07/05/2015 | 0 Comments

NGUYÊN HÙNG – NGÔ QUÍ QUỐCchua-phu-duc

Phú Đức là một ngôi chùa nhỏ mà tôi đã có thiện duyên sinh hoạt và gắn bó gần như suốt cả cuộc đời. Chùa tọa lạc trong một khu đất rộng rãi thuộc phường Vĩnh Hòa, cách trung tâm thành phố Nha Trang 5km về phía Bắc. Xưa đây đúng là một ngôi niệm Phật đường nhỏ của khuôn hội địa phương. Và lúc ấy phường Vĩnh Hòa mới chỉ là một vùng ven nửa quê nữa phố, dân cư thưa thớt, đa phần sống nghề nông nghiệp. Một số Phật tử nhiệt tâm yêu đạo đã tập hợp nhau lại thành lập khuôn hội, ban đầu mượn tạm tư gia của một Phật tử lớn tuổi giàu đạo tâm am hiểu Phật pháp để thờ Phật, lễ bái tụng niệm và sinh hoạt, thời gian sau, một Phật tử khác hiến cúng lô đất của mình cho khuôn hội và chùa được xây dựng bằng sự đóng góp công sức, tiền bạc của Phật tử địa phương. Chùa hoàn thành năm 1956, được Ban Trị sự Tinh hội Phật giáo Khánh Hòa về công nhận, đặt tên cho khuôn hội là Phú Đức.

Có chùa, người dân địa phương chúng tôi có nơi để những đêm sóc vọng ( rằm và mùng một âm lịch – BT), những ngày lễ Tết về chùua tụng kinh lạy Phật, gặp gỡ hàn huyên chuyện đời chuyện đạo với nhau, tạm quên đi những vứt vả nắng mưa vì ruộng đồng, nương rẫy; hoặc những bận bịu với cơm canh, lửa củi toan tính bán buôn. Lớp thanh thiếu niên nhi đồng chúng tôi được các bậc trưởng thượng trong khuôn hội quan tâm nên chẳng bao lâu sau, Gia đình Phật tử Phú Đức cũng được thành lập. Tôi, một đứa bé lên năm được đàng hoàng đến chùa vui chơi, học tập và tụng kinh niệm Phật. Cũng kể từ những ngày đầu tiên ấy, chúng tôi được quý bác phân công đi tìm những bụi trúc đào, những cây

Hoa điệp, hoa chuối… về trồng để chùa có cảnh lại có hoa cúng Phật. Sau này có trồng thêm cây bồ đề ở giữa sân cho bóng mát, chúng tôi thích thú và hăng hái lắm.

Tuổi thơ của tôi trong màu áo lam trải dài dưới mái chùa thân yêu ấy có biết bao kỷ niệm vui buồn bên cạnh nhữung người bạn Đoàn thân thương. Hồi ức về những buổi sinh hoạt Đoàn, những dịp cắm trại, các chương trình văn nghệ nhằm các ngày đại lễ… mãi đến bây giờ tôi vẫn da diết nhớ nhung. Nhưng ấn tượng nhất đối với tôi là sự dìu dắt đầy ắp đạo tình của các bác lớn tuổi. Chuyện lũ trẻ chúng tôi đùa nghịch quá đáng khiến nhiều người phàn nàn, nhưng quý bác vẫn không la mắng mà chỉ khuyên bảo hoặc hài hước quở trách: “ tụi bây đừng có gần Phật rồi kêu Phật bằng anh chớ”. Quý bác nghĩ rằng: Tụi trẻ có nghịch, có vui mới thích đến chùa. Đến chùa nhiều rồi thì tụi nó bớt hư, lần lần biết tu, biết đạo.

Trong đám thanh niên chúng chúng tôi, chuyện tình cảm nam nữ nảy nở. Ai đó có phàn nàn thì quý bác giải thích: Tụi nó là con em hộii viên Phật tử của mình, mình cấm tụi nó thương nhau rủi tụi nó đi thương ngưuời khác đạo thì có tốt không? Chuyện của chúng ta là phải lưu tâm, nếu tình cảm trong sáng và chân chính thì ta phải vun đắp; còn nếu sai thì phải uốn nắn. Qúy bác thường giao rất nhiều chuyện lặt vặt của chùa cho chúng tôi làm, và phải giải thích rằng phải cho bọn trẻ làm nhiều ‘ Phật sự” để chúng thấy chùa là của mình, công quả nhà chùa có mình đóng góp trong đó, chúng sẽ thấy gắn bó với nhà chùa nhiều hơn, lần lần biết tu, biết đạo.

Năm 18 tuổi, vì mưu sinh tôi phải xa quê. Những năm tháng ở những nơi xa lạ, tôi có dịp viếng thăm rất nhiều cảnh chùa; được tham dự nhiều khóa lễ tổ chức long trọng, trang nghiêm; được gặp gỡ quý Tăng Ni và tiếp xúc nhiều Phật tử bạn… sự hiểu biết về đạo của tôi được mở rộng. Nhưng còn tình cảm thì vẫn cứ dành riêng, trên hết và trọn vẹn cho ngôi chùa nhỏ nơi quê nhà. Cứ nhớ tới cái giọng nói mộc mạc lặp lại lặp lại nhiều lần của quý bác: “Lần lần biết tu, biết đạo” tôi thấy thấm thía và biết ơn ngôi chùa xưa. Ở đó có những buổi vui đùa với chúng bạn. Ở đó có những Phật tử lớn tuổi đã tạo cho chúng tôi chút vốn liếng ban đầu để bén duyên với đạo.

Sau ngày đất nước thống nhất, tôi về thành phố Nha Trang sinh sống, tiếp tục về chùa Phú Đức sinh họat trở thành một hội viên trong lòng có nhiều thiết tha với đạo, nhiều hòai bảo với ngôi chùa thân yêu. Nơi tôi ở, thành phố ngày một nới rộng ra, dân cư ngày một đông đảo hơn, và chùa của chúng tôi số lượng hội viên Phật tử ngày một nhiều hơn, sinh hoạt phong phú hơn. Bà con Phật tử chúng tôi đa phần đều là dân cư địa phương nên ai ai cũng quen biết nhau. Về chùa lễ Phật, từ ngoài cổng họ chắp tay chào nhau bằng câu: “A Di Đà Phật”. Trong chùa họ thành kính chiêm bái cầu nguyện hoặc cùng nhau trò chuyện, bàn bạc việc chùa… ai ai cũng hoan hỷ thân thiện.

Không thuần chỉ có những hoạt động về tín ngưỡng, chùa Phú Đức còn là nơi tổ chức tốt được sự tu học cho hội viên Phật tử. Vào những năm đầu của những năm 80, khó khăn nhiều nhưng chùa vẫn tổ chức được mỗi năm hai khóa tu Bát quan trai cho giới tử là những Phật tử trẻ. Sau này trong số đó đã có 3 Phật tử xuất gia trở thành Tăng Ni của Giáo hội. Chuyện vui buồn của Phật tử địa phương tôi ít nhiều đều có bóng dáng của ngôi chùa Phú Đức thân yêu. Các cụ già trong xóm thường thích được khi qua đời, lúc đám tang đi ngang qua ngôi chùa thì dừng lại, đưa di ảnh vào chùa lạy Phật lần cuối. Chùa cũng đã tổ chức được 4 đám cưới cho con em của hội viên. Có không ít đôi lứa vì yêu chùa mến đạo mà gặp gỡ, thương yêu rồi nên vợ nên chồng. Và đến bây giờ không riêng gì họ mà cả con cái của họ cũng đều là những Phật tử mến đạo nhiệt thành.

Chùa Phú Đức được xây dựng theo mô hình là một niệm Phật đường nên đơn sơ bình dị lắm. Cây cảnh lại không có nhiều ngoài một ít chậu hoa lá dân dã, nhưng sao tôi vẫn thấy ngôi chùa của mình thật đẹp. Tôi thú vị và yêu thích bất kì một góc chùa nào, một khoảng sân nào. Ở đó, tôi biết được tiếng chuông ngân nga như thế nào lúc chiều tối. Ở đó, tôi được nghe và cảm nhận âm thanh mạnh mẽ như thác đổ của thời kinh Lăng Nghiêm tụng đọc lúc 4 giờ sáng. Và khi nghe được âm thanh đó rồi, một ngày mới của tôi tràn đầy sức sống. Ở đó, những lúc vắng vẻ chiêm ngưỡng tôn trọng Đức Bổn Sư Mâu Ni, tôi nhìn thấy được nét đại hung, đại lực, đại từ bi mà không biết nhà điêu khắc tài hoa nào tạc vào tượng, tôn vinh vẻ đẹp của Ngài. Ở đó, những lúc mệt mỏi vì nắng gắt hoặc vì những chuyện lo toan, nhìn lên bức tường rộng màu xanh thẫm sau lưng Ngài, thật thần kì và dễ chịu làm sao, chỉ một vài phút thôi cái màu xanh đại định ấy đã xóa ngay sự mệt mỏi của tôi.chua-phu-duc

Ngày nay, chùa Phú Đức đã được trùng tu rộng lớn, đẹp đẽ uy nghiêm hơn trước rất nhiều. Cây bồ đề xưa không còn nữa, thay vào đó là tượng Bồ tát Quán Thế Âm trong hồ bán nguyệt thả súng Nhật Bản. Thời gian trôi qua, cảnh quan thay đổi và nếp sinh hoạt tu học của Phật tử cũng có phần thay đổi. Tất cả dồn hết vào việc tôn tạo lại ngôi chùa và tiếp nối là những lễ lượt rộn ràng long trọng hình thức được tổ chức. Tôi thầm tiếc cái không khí ấm áp đạo tình ở ngôi chùa nhỏ bé năm xưa và đáng tiếc hơn cả những quý bác lớn tuổi mà trước đây tôi hằng kính mến cũng đã lần lượt quá vãng, để lại lớp Phật tử chúng tôi sau này dù có kiến thức nhiều hơn, dù có năng nổ hơn nhưng vẫn không thể nào có được những phẩm chất đạo hạnh mà quý bác đã có.

Từ ngày xây dựng chùa và thành lập khuôn hội đến nay, chùa Phú Đức vẫn chưa có vị Tăng trụ trì. Mọi việc quản trị đều do những Ban Đại diện được Phật tử tín nhiệm bầu lên theo nhiệm kỳ. Vì thế, từ lâu Phật tử chùa Phú Đức chúng tôi ao ước gặp được duyên lành, có sự giúp đỡ của Ban trị sựTỉnh hội, một vị Tăng tài đức nào đó sẽ thuận lòng về nhận địa phương chúng tôi làm trú xứ, lãnh đạo và dìu dắt Phật tử chúng tôi trên con đường Đạo. Riêng tôi, suốt mấy chục năm qua, chùa Phú Đức đã là bóng cây to lớn của đời tôi. Vì vậy tôi hằng cầu nguyện cho mình được nhiều sức khỏe, đạo tâm kiên cố, gắn bó dài lâu với ngôi chùa Phú Đức thân yêu.■

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 53

(Visited 174 times, 1 visits today)

Tags: ,

Category: Cảnh Chùa, Nguyên Hùng-Ngô Quý Quốc

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *