Chùa Tam Thanh

| 11/10/2013 | 0 Comments

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 34 | DI SẢN |    Nguyễn Đại Đồng

“Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa, Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh”

Chua-Tam-Thanh

Quần thể chùa-động Tam Thanh nằm trong dãy núi thuộc phường Tam Thanh, cách trung tâm thành phố Lạng Sơn chừng 2 km.

Động Tam Thanh là một thắng cảnh tự nhiên với muôn trùng nhũ đá, giữa động có hồ Cảnh-hồ nước trong xanh không bao giờ cạn, nó được người xưa đặt tên là hồ Âm Ty. Động có chiều dài 150km nằm gọn trong lòng núi (1) với cửa thông thiên mở ra một khoảng trời xanh trên đỉnh núi. Động cao chừng 8m có lối lên là 30 bậc đục vào sườn núi.

Trong động có chùa Tam Thanh (2), dựng từ thời Lê, nổi tiếng với những văn bia phong phú có giá trị về lịch sử văn hóa và tôn giáo, có tượng Phật A Di Đà cao 2,20m, được tạc nổi vào vách đá và hàng năm, cứ đến ngày rằm tháng Giêng âm lịch là nhân dân mở hội tưng bừng đón khách thập phương. Trong động có nhiều tấm bia. Tấm bia có niên đại cổ nhất là tấm bia số 4 (bia ma nhai) được tạo vào thời Lê-Trịnh (1677) có tên là bia “Thiên động Pháp luân thường chuyển”, ghi lại việc quan trấn thủ Lạng Sơn lúc bấy giờ là Vi Đức Thắng đã có công tô lại tượng và trùng tu lại chùa.

Qua bao thăng trầm, song đến nay động vẫn xứng với lời văn bia tiền nhân đã ghi khắc: “Động này là kỳ quan do trời đất tạo ra, nơi đây là thắng cảnh của vùng đất thiêng, người giỏi, thực khó mà mô tả, tô vẽ được” (bia số 1 Tam Thanh – 1918).

Chếch bên cửa động Tam Thanh về phía Nam là những thửa ruộng bậc thang, vào mùa mưa nước ruộng xếp lên nhau thành nhiều lớp trông như những chiếc vòng bạc ôm khít chân ngọn núi đá mà chót vót phía trên có một nhánh núi gọi là núi Vọng Phu. Tảng đá trên đỉnh núi gắn với truyện cổ tích nàng Tô Thị bồng con chung thủy đứng chờ chồng đi đánh trận nơi xa. Chờ mãi, chờ mãi không được, nàng cùng con đã hóa đá. Trải qua năm tháng, do tác động của thiên nhiên và con người, di tích này đã bị phá hủy. Thập kỷ 90 thế kỷ XX, tỉnh Lạng Sơn đã cho phục dựng như ban đầu để gìn giữ một di tích đã đi vào tình cảm của người Việt Nam bao đời nay.

Năm 1937, Nhàn Vân Đình Trần Duy Vôn-một cư sĩ nhà thơ từng du ngoạn đến Động-chùa Tam Thanh kể lại trên báo Đuốc Tuệ:

Động đây là động Tam Thanh

Cửa sau cửa trước như thành khác chi.

Hai bên suối gió phật phờ,

Ngàn cây thấp thoáng bóng dò Hằng Nga.

Long Châu đất Bắc còn xa,

Cái dinh Lộc Mã của ta thì gần

Boong boong nghe tiếng chuông thầm,

Năm canh giấc mộng, đôi phần tỉnh say.

Nằm cạnh động-chùa Tam Thanh là động Nhị Thanh-một trong tám cảnh đẹp của Lạng Sơn mà Ngô Thi Sĩ (3) có công phát hiện, tôn tạo trong thời gian làm Đốc Trấn Lạng Sơn (1777-1780). Động là một hang đá tự nhiên dài chừng 500m với nhiều hình dáng kỳ vĩ. Động được tạo hóa phú cho con suối Ngọc Tuyền với dòng nước trong như ngọc róc rách chảy suốt hai cửa động. Giữa động có cửa thông thiên đón ánh sáng mặt trời chiếu rọi tạo ra những vùng hào quang lung linh huyền ảo trong một không gian như thực, như mơ bởi tiếng gió reo, nước chảy rì rào, là nơi đàm đạo, thưởng ngoạn của các tao nhân mặc khách. Chính vì vậy, động đã để lại dấu tích “Thạch miên am”-Am ngủ trên đá và “Thụy tuyền hiên”-Hiên ngủ bên suối, và 20 bia ma nhai tạc trên vách đá là nguồn sử liệu, tác phẩm văn học quý giá của các danh sĩ thời xưa. Chính giữa động có tượng thờ Ngô Thì Sĩ được chạm khắc (năm 1779) trang nghiêm.

Phía trên động Nhị Thanh là chùa Tam Giáo được khởi công từ giữa năm 1779, thờ ba vị Thánh: Thích Ca, Khổng Tử và Lão Tử. Nơi đây hương khói quấn quýt, khiến cho khách đến đây sẽ cảm thấy vơi đi những bụi tục của trần thế.

Bầu trời cảnh Phật của Nhị, Tam Thanh-một trong “Trấn doanh bát cảnh”của xứ Lạng đã gây cho du khách một cảm giác khoan khoái, nhẹ nhàng, đượm thêm một chút bâng khuâng, nhất là mỗi khi tiếng chuông chùa buông:

Giải vẽ thần tiên pho tượng mốc,

Khua hồn tang hải trái chuông beo.

Đi về khách giục hang mưa gió,

Hồn sớm khe tuôn nước cuốn đèo.

Nhàn Vân Đình

 

(1) Sách Đại nam nhất thống chí quyển XXIV, tỉnh Lạng Sơn, mục Núi Sông viết: “Núi Tam Thanh cách châu Thoát Loãng 55 dặm về phía  nam ở bờ Bắc sông Ky2 Cùng, sườn núi có động rộng 5-6 trượng, trong động có chùa. Bên tả có viên đá hình rồng-lại có cái hang thâm u, ước hơn 30 trượng. Trong hang có lạch thông ra sông Kỳ Cùng”.

(2) Sách đã dẫn, mục Chùa viêt: “Người địa phương cùng người Minh Hương tô tượng Phật phụng thờ. Lại có tên nữa là chùa Thanh Thiên. Đời Lê Vĩnh Trị quan tỉnh Quảng Tây nước Thanh sai người đến tu bổ lại, có dựng bia đá, nay chữ khắc trong bia đá đã mòn không thể cứu được”.

(3) Ngô Thì Sĩ (1726-1780) tự là Thế Lộc, hiệu Ngọ Phong, quê Tả Thanh Oai, Thanh Trì, Hà Nội. Năm 1766 đỗ Hoàng giáp. Ông là một nhà sử học với tác phẩm Việt sử tiêu án, Đại Việt sử ký tiền biên…một nhà văn với các tậpAnh ngôn thi tập, Ngọ Phong văn tập…

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 34 | DI SẢN |    Nguyễn Đại Đồng

(Visited 511 times, 3 visits today)

Tags: , ,

Category: Cảnh Chùa, Di sản

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *