Gà chín cựa và một ngôi chùa

| 13/07/2015 | 0 Comments

Cao Huy Hóa

 Bạn đã bao giờ thấy gà chín cựa? Còn tôi, gà 4,5 cựa, tôi chưa hề xem, nói gì đến 9 cựa? Nhưng nghe thì có nghe, từ hồi nhỏ về truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh: Hùng Vương thứ 18 có ái nữ Mỵ Nương vô cùng xinh đẹp. Đến tuổi cập kê, bao nhiêu vương tôn công tử ngấp nghé, trong đó sáng giá nhất là Sơn Tinh và Thủy Tinh. Vua đặt ra tỉ thí: Ai chuẩn bị đủ đồ sính lễ gồm: Voi 9 ngà, gà 9 cựa, ngựa 9 hồng mao và đến trước, người đó thắng cuộc. Tờ mờ sáng hôm sau, Sơn Tinh đến quỳ trước nhà vua, dâng đủ đồ sính lễ theo yêu cầu. Thế là Sơn Tinh “rinh”được công chúa Mỵ Nương, còn Thủy Tinh thua cuộc, nên nổi giận lôi đình và hàng năm gây lũ lụt.

 ga-chin-cua

Sự thật có gà 9 cựa không?

Xin thưa…trên mạng!

Gà 9 cựa là có thật (1/3/2005, Sinh học Việt Nam): Loại dị cầm này tưởng chỉ có trong truyện cổ tích, nay đã xuất hiện tại nhà ông Võ Văn Thủy, ấp Bảng Lớn B, xã Tam Ngãi, huyện Cầu Kè, tỉnh Trà Vinh. Có hình rõ ràng, chân trái 4cựa, chân phải 5 cựa.

Gà 9 cựa sắp tuyệt chủng (5/8/2008), vnexpress.net): Bản Cỏi (Xuân Sơn, Tân Son, Phú Thọ) có 77 hộ người Dao, hiện đang nắm giữ “ báu vật”được cho là có từ thời vua Hùng : gà 9 cựa. Tuy nhiên, giống gà này đang ngày càng vắng bóng. Theo ông trưởng bản Cỏi và nhiều người dân ở đó, thì vài năm mới thấy xuất hiện một con.

Còn nơi nào nữa có gà 9 cựa?

Xe chúng tôi từ thành phố Đà Lạt, đổ đèo Prenn, qua địa phận huyện Đức Trọng (tỉnh Lâm Đồng) không bao lâu thì ngoặt qua con đường đất bên phải, nơi đến là một thung lũng không lớn nhưng bằng phẳng, một địa thế hiếm có ở cao nguyên Lâm Viên, đồi núi xanh thẳm rừng thông, gần tầm mắt là màu xanh non tơ của xà lách, cải, đậu…trên đất tơi nâu thẳm. Đây là thôn Đa Ra Hoa, xã Hiệp An, huyện Đức Trọng, thôn của người dân K’Ho, với những dãy nhà chạy dọc hai bên đường, phần lớn là nhà gỗ với vật liệu linh tinh không kiên cố, và tôi có cảm tưởng như cuộc sống của họ có vẻ tạm bợ, dù biết rằng họ đã về đây từ lâu. Từ đâu họ về? Có phải để tránh bom đạn ác liệt trong thời kỳ chiến tranh, hay do nhu cầu phát triển cây công nghiệp, do quy hoạch đất đai ở Lâm Đồng nhằm phát triển kinh tế trong thời bình, hay do muốn thay đổi tập tục du canh du cư, phá rừng làm rẫy, giải quyết xóa đói giảm nghèo…mà người K’Ho từ rừng đại ngàn được định cư tại đây?

Mới đến đầu thôn, chúng tôi đã thấy từ xa tượng con gà trống cao cao, đúng là gà 9 cựa! Nhưng vùng đất mới mới gọi, có sức hấp dẫn hơn con gà, nên chúng tôi đi sâu theo đường đất vào thôn. Khi trở lại, chúng tôi rảo bộ để thong thả nhìn cảnh và người. Quang cảnh không ra vẻ gì một làng quê hay một thôn bản bình yên, ấm chúng; chỉ thấy thấy rõ các phương tiện vật chất như mọi miền: rải rác xe gắn máy, tivi, văng vẳng nhạc thời thượng. Dọc hai bên đường bừa bãi rác, bao ny lông, hộp bánh kẹo, thuốc lá… Hầu như núi rừng, sông suối là cuộc sống tự nhiên của họ; tách họ ra khỏi môi trường đó thì họ chẳng cần biết làm đẹp ngôi nhà, mảnh vườn, cây cảnh. Rồi thời gian nông nhàn, họ chẳng biết làm gì. Chính quyền có dự án tổ chức làng nghề thổ cẩm, và không xa chúng tôi là cửa hàng bán sản phẩm đó, nhưng quy mô quá nhỏ và không thu hoạch bao nhiêu.

Cứ tưởng quang cảnh đều đều như thế, nhật thật bất ngờ, sáng lên một ngôi chùa! Một tịnh thất khiêm tốn trên đất vườn khá rộng. Chúng tôi vào một thế giới hoàn toàn khác với bên ngoài, nơi tu hành của hai vị Tỷ-kheo Ni. Ni sư đi vắng, chỉ còn đệ tử, người Bình Định, đang làm vườn: bộ nâu sồng giữa màu xanh cây cỏ, trong mênh mông bát ngát nắng vàng gió dịu. Không ngờ thực vật phong phú như thế, có nơi cây cỏ chen nhau tìm ánh nắng. Ngoài rau, đậu, làm thực phẩm,tịnh thất vẫn đàng hoàng chậu hoa, cây cảnh và không ngờ, nhà nông nữ lại treo lủng lẳng không biết bao nhiêu là giò lan, tỏa hương sắc rực rỡ trong nắng xuân. Ngôi chánh điện thì nhỏ thôi, bài trí đơn giản, chỉ có tượng Đức Phật Thích Ca, nhưng chùa vẫn có nhiều cơ ngơi: nhà khách, nhà lưu trú, có nhà – không biết gọi là gì – bốn bề để trống, có lan can đơn sơ, mái tranh sàn gỗ, bàn thấp, 2 chiếc võng; lại có nhà treo thư pháp và tranh ảnh. Tất cả tận dụng đủ thứ tranh tre nứa lá, tôn, đồ gỗ, đồ nhựa cũ, dĩ nhiên khó đạt thẩm mỹ nhưng chính cái mộc mạc, đơn sơ, pha lẫn chút đỏm dáng nói lên lòng tin yêu cuộc sống.

Mấy em bé K’Ho thấy chúng tôi vào chùa cũng vào theo, rất tự nhiên, vui cười nhẹ nhàng, dầu không biết chùa là gì, Phật là ai. Khi chúng tôi đề nghị các em chắp tay để chụp ảnh cùng Ni cô, các em vui vẻ; chụp xong tất cả đều lên tiếng: “Cho mười ngàn!”. À, thì ra các em dân tộc ở nơi đìu hiu này cũng lây nhanh cái thói vòi vĩnh khách giống như các thiếu nữ H’Mông ở Sapa đòi tiền du khách chụp ảnh mình, đặc biệt lúc đóng vai lả lơi trong chợ tình. Các em H’Mông trên vùng cao du lịch nổi tiếng còn đáng để “cháo múc tiền trao”vì diện y phục sặc sỡ đẹp mắt của dân tộc mình, còn các em bé, trước mặt chúng tôi thì thật là hồn nhiên..

Các em này, cũng như hết thảy đồng bào dân tộc trong thôn đều theo đạo Tin Lành, còn xa hơn bên kia quốc lộ thì theo Thiên Chúa giáo. Ni cô cho biết, khi chùa làm từ thiện thì đồng bào đến nhận, không những thế, khi thiếu thức ăn, áo mặc, vẫn tìm đến chùa, nhưng họ giữ đạo, tin Chúa, tin thiên đàng địa ngục.

Chúng tôi cảm phục hai vị Ni sống lẻ loi trong thôn toàn là người K’Ho, lẻ loi tu theo Phật giữa những người toàn là ngoại đạo với mình; đầu tiên cứ tưởng hai vị sống khép kín, khổ hạnh; nhưng không phải thế, hai vị có thiện duyên sống thanh tịnh giữa cây cỏ, với “nhất nhật bất tác nhất nhật bất thực”, từ đó tâm không vọng động, không mưu cầu, không phân biệt, thể hiện lòng từ bi, sống vô tư, cổng chùa rộng mở thênh thang.

Mãi mê cảnh chùa, chúng tôi suýt quên xem kỹ và chụp ảnh tượng gà trống 9 cựa ở đầu thôn. Đẹp thật, 9 cựa rõ ràng, inh hình trên nền trời xanh. Nhưng tượng có vẻ xuống cấp, vì tượng được đặt trên nắp giếng hình chữ nhật, thay vì lẽ ra nó phải có chân đế mỹ thuật đàng hoàng; phải chăng đế bị hỏng qua thời gian, phải bỏ đi? Lai lịch của tượng còn nhiều bí ẩn, người sở tại không biết, những người quen của chúng tôi sống ở Đà Lạt cũng không biết. Sau này, tra cứu trên mạng về tượng gà 9 cựa, chúng tôi đọc được 2 bài:

 “Tượng gà lớn nhất Việt Nam

(vietbao.vn, 31/5/2005, theo vietnamnet)

Giữa làng K’Long, thôn Darahoa, xã Hiệp An, huyện Đức Trọng, tỉnh Lâm Đồng có một tượng bê tông gà trống đứng gáy cao 3,2m, nặng khoảng 8 tấn; 9 cựa đặt trên một mô đất cao 1,5m. Bức tượng khổng lồ này được thiết kế và xây dựng từ năm 1978 đến năm 1979 (KTS Lữ Trúc Phương thiết kế, nhà điêu khắc Thụy Lam tạc tượng, Sở Thủy lợi Lâm Đồng thi công).

Ý tưởng xây dựng con gà xuất phát từ đề tài cấp nước sinh hoạt cho đồng bào dân tộc thiểu số. Công trình này được xem là công trình công ích đồng thời là một biểu tượng văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc. Theo thiết kế ban đầu, khi dòng kênh dẫn nước từ núi Voi về sẽ tạo áp lực để phát một thủy điện nhỏ, khởi động chương trình “gáy”cho con gà, tuy nhiên thiết kế bị bỏ dở…

Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam giới thiệu đây là đề xuất kỷ lục Việt Nam.

 Mực tím online (cơ quan của Thành Đoàn TP.HCM), trang Phóng sự-Tư liệu: Pho tượng gà khổng lồ của người K’Ho (MTĐB T12-6/12/08):

Bài này cũng đăng tư liệu về tượng gà giống như bài trên (nhưng không đề cập đến người thiết kế và điêu khắc). Những hình ảnh gà trong phóng sự này có vẻ “khí thế” hơn chúng tôi thấy, có đế đàng hoàng; chắc tác giả L.C.Bình đã thuật lại một truyền thuyết rất đẹp và lãng mạn về gà 9 cựa mà ngay chính người K’Ho tại chỗ không biết, không nhớ, chỉ trừ một người kể lại cho tác giả, một người con gái K’Hor 19 tuổi.

Pang Kao K’Hoa kể, người K’Ho theo chế độ mẫu hệ, nên con gái phải đi cưới con trai với lễ thách cưới là 5 trâu, 20 tấm xà rông và 5 con gà. Ngày nọ, gia đình một chàng trai thách cưới 5 trâu, 20 xà rông và chỉ 1 gà thôi, nhưng phải là gà 9 cựa. Cô gái đi khắp núi rừng để tìm cho ra chú gà đặc biệt đó. Tìm mãi, nhưng chẳng thấy con gà nào có 9 cựa, nàng kiệt sức, đành chôn chặt mối tình bi thương nơi rừng sâu… Sau câu chuyện thương tâm đó, dân làng bàn nhau làm một chú gà trống có 9 cựa bằng tranh tre, cây cỏ rừng ghép lại. Nhà nào muốn thách cưới thì hãy đến đó mà nhận lễ vật. Lời kể về chú gà trống bằng tre lá đã đi từ làng này qua làng khác và trở thành một truyền thuyết đẹp như núi rừng ở xứ cao nguyên Lâm Viên. Hằng năm, bên khoảnh sân rộng trước tượng gà, sau khi thu hoạch vụ mùa (thường vào dịp cuối năm), dân làng K’Long long trọng tổ chức hội mùa. Nhà nào có gạo góp gạo, có gà góp gà..nhưng góp tiền mua trâu và 1 ché rượu cần là bắt buộc. Trong trang phục dân tộc ttruyền thống, mọi người đánh cồng chiêng, uống rượu cần, múa hát ca ngợi Giàng đã giúp cho dân làng có chén cơm, có sợi vải, mưa thuận gió hòa..và cùng nhau cầu nguyện cho tình yêu đôi lứa luôn trọn vẹn không bị chia cách..

Rồi đến năm 1978, một chú gà với chất liệu bê tông cao đến 3,2m, nặng 8 tấn đặt trên mô đất cao khoảng 1,5m được dựng lên nhằm khơi nguồn nước chảy từ núi Voi về làng K’Long để tạo áp lực phát động một thủy điện nhỏ nhưng rất tiếc là nửa chừng bỏ dở. Và cái tên “Làng Gà” đã đi vào ngôn ngữ dân gian một cách hòa quyện từ câu chuyện truyền thuyết đến tượng gà hiện đại. Trung tâm Sách kỷ lục Việt Nam đã công nhận đây là tượng gà trống lớn nhất Việt Nam!

Truyền thuyết càng đẹp chừng nào thì tượng gà ngày càng bơ vơ chừng đó: Gà 9 cựa, dầu là bằng tre lá, nhưng sống động trong không gian núi rừng, trong tiếng cồng chiêng, trong men rượu cần, trong giao hòa đất trời, còn tượng gà 9 cửa, dầu có đưa vào Guiness, vẫn xa rời cuộc sống tự nhiên của đồng bào dân tộc. Ngày nay, đồng bào K’Ho đã “tân thời”và du nhập những giá trị mới. Trong bối cảnh đó, Phật giáo với pháp môn nào đến được với họ, và họ có thể khai mở chút trí tuệ và tâm linh nào để tiếp cận đạo an lạc và giải thoát? Ngôi chùa nhỏ với hai vị Tỷ-kheo Ni trên vùng đất của người dân tộc K’Ho đặt ra một dấu chấm hỏi.■ga-chin-cua-ngoi-chua

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 78

(Visited 304 times, 1 visits today)

Tags: , , ,

Category: Cảnh Chùa, Cao Huy Hoá

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *