Ký ức chùa quê tôi

| 10/07/2015 | 0 Comments

Ngôi chùa thân yêu | Trung Ái Hoa

ky-uc-chua-que-toiĐối với riêng tôi, ngày ấy là một cô bé mười ba, rất ngoan hiền, ngoài những lúc học tập vui chơi ở nhà, ở trường, thường theo ngoại đến chùa cùng với nhỏ bạn Diệu Ân. Những ngày rằm lớn, sau buổi cúng ngọ, khi mặt trời lên cao phía bên kia đường trước cổng tam quan, khi mọi người chuẩn bị dùng cơm trưa còn lũ trẻ chờ cha mẹ xin cơm cúng Phật về ăn cho mạnh giỏi thì hai đứa tôi còn đứng ở bậc tam cấp của hông chánh điện, mải mê nhìn bóng nắng nhảy nhót bên sân vườn bưởi, nơi những chùm bưởi non xanh mướt lủng lẳng đầy vườn… Đến mùa Vu lan Báo hiếu, hai đứa đều đến chùa tụng kinh tối chiều, thuần thành lắm, không bỏ sót một buổi nào. Tuy chưa hiểu sâu sắc những lời trong kinh nhưng tôi rất thích và thuộc nằm lòng: “Một buổi chiều nọ Thế Tôn an trụ..”

 

Một buổi sáng chủ nhật, trời thật đẹp, nắng dịu dàng, có chút lạnh của ngày chớm Đông, tôi và Diệu Ân về chùa Phước Lâm dự lễ an vị tượng Phật Thích Ca nhập Niết-bàn. Hòa trong số đông Phật tử tham dự, chúng tôi cùng mang tâm trạng vui mừng an lạc. Nhìn tượng Phật đang nằm, đầu gối lên tay phải, chân duỗi dài, dáng thật thảnh thơi, tôi nghĩ Phật đang nghỉ ngơi hơn là Phật nhập Niết-bàn. Dưới cây Bồ-đề và chung quanh là mười đại đệ tử…Trước mắt tôi là một cảnh tượng thật sôi động và tuyệt đẹp. Chiêm ngưỡng hình ảnh đẹp như vậy bảo sao không ai an lạc cho được. Chúng tôi hân hoan vui mừng vì thấy chùa xưa nay đã được thay đổi, đang mặc một chiếc áo mới màu vàng rực rỡ. Chùa đẹp đẽ hơn, khang trang hơn, hứa hẹn sẽ là chốn quay về, là chỗ nương tựa tâm linh cho dân địa phương – vùng quê tôi đang ở.

Cảm xúc nhiều trước cảnh quan mới của chùa, trước không khí trang nghiêm của buổi lễ, càng khiến dòng tâm tôi quay ngược về quá khứ, nhớ sâu sắc chùa xưa mà nếu không kể lại ký ức của một thời em đềm thì mai sau biết có ai còn nhắc lại bởi vì số Phật tử có mặt hôm nay có được mấy người từng là Phật tử của ngôi Phước Lâm cách nay hơn bốn mươi năm? Có ai giống tôi không mà mỗi khi cảm xúc dâng tràn, bắt chước theo một câu hát tôi thường nhủ thầm: “quê tôi ai cũng có một ngôi chùa thân yêu…”

Ngôi chùa thân yêu đó chính là Phước Lâm tự này. Chùa tọa lạc tại thị trấn Uyên Hương, huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương – một vùng đất được mệnh danh “chiến khu D”trong thời chiến tranh mà thời đó mới nghe qua ai cũng on ớn. Nằm tại trung tâm thị trấn tọa lạc ven đường tỉnh lộ (xưa con đường chính này nối liền tỉnh Biên Hòa và tỉnh Phước Thành cũ), chùa quê tôi hiện ra trong dáng vẻ khiêm tốn, không tráng lệ như những ngôi chùa ở thành thị nhưng đâu đó trên những hoa văn, trên toàn bố cục chùa mang màu sắc khá hiện đại. Nét cổ kính của chùa có chăng là những nét cong cong nơi mái ngói của hai đầu chuông phía trước mặt chánh điện, nơi đỉnh nóc phía hậu Tổ. Một kiến trúc hình chữ “Đinh” được xây dựng ngay sau hòa bình lập lại (1954), hài hòa giữa cổ và tân đem lại cho chùa một dáng hiền hòa và duyên dáng. Tôi yêu chùa cũng vì thế.

Để vào chùa, bạn phải qua hai cổng tam quan với hai dòng chữ khắc nổi, đối nhau: Phước Lâm không luận kẻ sang hèn – Cửa Phật không phân người nam nữ. Ngày ấy hai bên lối đi chính vào chùa là hai thửa ruộng nhỏ, lúc thì xanh mơn mởn màu vàng mạ mới cấy, lúc thì vàng ươm của cánh đồng trĩu hạt. Đứng trên lối đi này chúng tôi theo dõi lũ trẻ nhà gần chùa bì bõm dưới nước tìm con cá, con lươn. Thi thoảng vài chiếc cần câu của ai đó cắm hờ trên lối cỏ. Không biết những con vật này có nuôi sống được gia đình nào không, chứ hai mảnh ruộng nhò bé này cũng là nguồn sống của chùa. Quý thầy(hồi đó phần lớn là các tị Tăng trẻ, vài chú điệu) không chỉ tụng kinh gõ mõ, học Phật pháp mà còn nhỏ nhiều giọt mồ hôi để từng cọng mạ xanh biến thành hạt cơm dẻo trong tiếng đùa vui hòa điệu của các bác Phật tử cùng phụ giúp trong những ngày lao động vất vả. Hết lối đi chỉnh vào khoảng non 100m là vuông đất nhỏ, nơi đó có những loài hoa thôn dã bốn mùa thay đổi cho sắc hồng tươi, cho màu đỏ thắm: nào hoa chuối, hoa dừa, nào hoa dăm bụt, hoa trang…

Sừng sững nơi đây là những cội Bồ-đề, cành lá tỏa mát quanh năm. Có những chiếc lá chỉ còn những đường gân mềm mại luôn được chúng tôi ấp ủ trong những trang vở với mong ước thơ ngây là được Phật gia trì cho mạnh giỏi, học hành tiến bộ. Bóng mát của cây Bồ-đề trong khuôn viên nhỏ này đích thực là bóng mát tâm linh của tuổi thơ mà đến bây giờ tôi vẫn còn cảm nhận được. Khuôn viên nhỏ này là điểm rẽ của lối đi. Tư đây đường vào chùa có hai hướng. Sau khi đi dọc hai hành lang chánh điện, ngoài cửa chính ở mặt tiền, bạn có thể rẽ vào hậu Tổ rồi lên chánh điện hoặc rẽ vào dãy nhà ngang bằng hai cửa lớn, chỗ kết thúc hai lối đi. Cửa chính là dãy nhà ngang là điểm bắt đầu nét sổ chữ Đinh trong kiến trúc của chùa mở ra một hành lang tương đối rộng nối liền với hậu Tổ. Hành lang được lót bằng những viên gạch nâu – trắng bóng láng, soi vào thấy rõ mặt như soi gương. Nơi đây cũng là điểm hẹn, chiều nào cũng vậy, các Phật tử ngồi thư thái tại đây vừa tâm tình chuyện đạo, vừa hóng gió chiều mát rượi thổi qua từ vườn chùa. Cũng có lúc thấy bóng áo nâu của quý thầy đang đi rồi dừng lại, lúc ân cần với một ai đó, lúc niềm nỡ với lũ trẻ chúng tôi. Hết hành lang này là bạn vào hậu Tổ rồi lên chánh điện. Đến chùa ai cũng khen chánh điện sao mà đẹp, mà sang bởi chánh điện chùa tôi rộng vừa phải nhưng thật thoáng. Mở rộng cửa chính và cửa hông là gió lùa vào đấy ắp làm mát dịu mọi người. Không hoành, không liễn, không tranh ảnh, nhất là không nhiều màu sắc,chỉ màu vàng nhà nhạt của những bức tường chung quanh, màu nâu của những cột gỗ to tròn, của những khuôn cửa hoa văn tỉ mỉ, của những miếng gạch lót nền nhà chánh điện chùa đủ giữ chân khách thập phương lâu hơn mỗi khi họ đến dâng hương, lễ Phật. Với không gian này, quả thật biết bao trái tim non được ươm mầm thiện, biết bao hạt giống tốt được vun trồng và rất nhiều tâm mê muội được gột rửa.

Vào dãy nhà ngang – nét ngang của chữ Đinh – ngoài gian giữa thờ các vị Phật, hai bên đặt hai bàn thờ vong, rồi hai bộ ván gõ và gần cửa ra vào là hai chiếc bàn mà ấn tượng nhất là hình ảnh vì thầy Bổn sư của tôi thường ngồi nơi đó. Thầy thường im lặng, khẽ gật đầu khi một ai đó xá chào. Tư thế ngồi yên của thầy mặc dù đôi lúc làm chúng tôi hơi sợ, nhưng với trí óc non nớt của tôi hồi đó thầy còn là một ông tiên hiền từ bởi dáng thầy cao ráo, thanh thoát, bước đi nhẹ nhàng, nói năng từ ái. Tôi nhớ nhất mỗi lần diễn tả điều gì với chiếc quạt giấy xếp gọn trên tay, cái khoa tay nhẹ nhàng của thầy làm phập phồng lên xuống cái ống tay áo rộng ơi là rộng, lúc đó trông thầy không khác gì ông tiên trong truyện cổ tích. Hiền từ như vậy đó mà thầy tôi không được may mắn lắm trên đường hành đạo ở giai đoạn cuối đời. Gặp đủ nhân duyên, thầy về trụ trì ngót hai mươi năm cho đến ngày thầy xả thân tịch diệt. Gặp phải những biến cố của thời cuộc, thân tâm thầy tôi hứng chịu những đọa đày, những mất mát thật lớn lao, bây giờ nghĩ lại chúng tôi còn rơi nước mắt. Thầy “mất”dười sự hướng dẫn tâm linh của thầy, hàng hậu học chúng tôi “được” nhiều lắm. Cái “ngã”của tôi thật lớn nên tôi hay tự hào về quê tôi, nơi có dòng sông Đồng Nai êm đềm xuôi chảy, nơi có chiến khu D lừng lẫy, nơi có nhiều nhân vật tài hoa (Bình Nguyên Lộc, Huỳnh Văn Nghệ…), nơi có môi trường sống thật hài hòa giữa vùng quê và phố thị. Chưa đủ, tôi còn tự hào về ngôi chùa Phước Lâm này vì mạch sống tâm linh của đời tôi được khơi nguồn từ đây, vì ngôi chùa này đã sản sinh ra nhiều vị tăng tài khả kính đang hoằng pháp lợi sanh giúp ích cho đời(TT. Chơn Lạc, viện chủ chùa Huê Nghiêm TP. HCM; ĐĐ, Chơn Định, viện chủ tu viện An Lạc Hành Long Thành; Đ.Đ. Chơn Thành, Phó ban Trị sự Tỉnh hội Đồng Tháp và cố TT. Chơn Thanh, Phó ban Hoằng pháp Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam). Tôi còn tự hào vì chùa không chỉ là một bông hoa tô điểm cho quê hương yêu dấu của tôi thêm đẹp mà còn đem lại lợi lạc cho đời sống tâm linh của người dân quê tôi. Những góc mái cong, một không gian tĩnh lặng nuôi dưỡng tâm an hay tiếng chuông công phu khoan thai, đều đặn mỗi sớm mai, từng chiều tối…tất cả đã ban tặng ch cư dân quê tôi sự yên bình quý giá trong đời sống thăng trầm của vùng thị trấn.

Đối với riêng tôi, ngày ấy là một cô bé mười ba, rất ngoan hiền, ngoài những lúc học tập vui chơi ở nhà, ở trường, thường theo ngoại đến chùa cùng với nhỏ bạn Diệu Ân. Những ngày rằm lớn, sau buổi cúng ngọ, khi mặt trời lên cao phía bên kia đường trước cổng tam quan, khi mọi người chuẩn bị dùng cơm trưa còn lũ trẻ chờ cha mẹ xin cơm cúng Phật về ăn cho mạnh giỏi thì hai đứa tôi còn đứng ở bậc tam cấp của hông chánh điện, mãi mê nhìn bóng nắng nhảy nhót bên sân vườn bưởi, nơi những chùm bưởi non xanh mướt lủng lẳng đầy vườn như muốn khoe khoang sự trù phú của chùa. Nhưng thật ra chùa tôi nghèo lắm. Bữa ăn hàng ngày của quý thầy rất đạm bạc thường xuyên nước tương với rau muống. Nước tương do một Phật tử cúng dường hàng tháng. Rau muống thầy trồng quanh năm phía sau chùa. Họa hoằn lắm trên mâm mới có nấm có đậu. bữa ăn cho khách thập phương trong những ngày rằm lớn cũng đơn sơ với vài món truyền thống, ít tốn kém, đến mùa Vu lan tháng Sáu, tháng Bảy hai đứa đều đến chùa tụng kinh mỗi chiều, thuần thành lắm, không bỏ sót một buổi nào. Tuy chưa hiểu sâu sắc những lời trong kinh nhưng tôi rất thích và thuộc nằm lòng: “Một buổi chiều nọ Thế Tôn an trụ…”Có lẽ tôi biết thương mẹ từ nhỏ và thương mẹ thật nhiều là do bởi tôi đã thấm nhuần những lời lẽ khắc sâu âm thầm của mẹ trong kinh Vu lan. Có hôm hai đứa được theo cô Diệu Phước lên lầu chuông thơ thẩn dưới nhà ngang khi được thầy Bổn sư gọi lại ngồi bên thấy nơi chiếc bàn tròn quen thuộc, được thầy đưa thăm, hỏi chuyện học hành, được thầy hứa cho học chữ Hán khi lớn thêm một chút, khi thì được lân la bên bức tranh đủ màu sắc diễn tả cuộc đời của Đức Thế Tôn. Hai đứa không ai bảo ai lúc im lặng dán mắt vào tranh, lúc rì rầm đọc những lời kể. Đối với tuổi thơ tôi, đây cũng là một câu chuyện thần tiên hấp dẫn nhất. Cũng có hoàng tử nhưng không có bà tiên. Không có bà tiên nhưng có vị công chúa đẹp tuyệt trần mà tôi rất thích. Tuy còn nhỏ nhưng tôi cũng biết xúc động trước mối tình đằm thắm của thái tử Sĩ Đạt Đa nhất là lúc ngài vào phòng nhìn công chúa và con trai lần cuối trước khi dứt áo ra đi. Khi còn xem bức tranh “Mười cửa ngục” chỉ nhìn vào hình thôi, tôi đã phát khiếp, nhất là những hình quỷ dự nhe răng, tay cầm chĩa ba hung tợn, hình những người ốm đói bị quăng vào vạc dầu, lửa bốc cao ngất. Đã vậy về nhà ngoại tôi còn nhấn nhá thêm: “Không ngoan hiền hay ở ác là bị như vậy đó!”. Một hột cơm tôi cũng không dám để rơi vì ngoài hăm he: “Ăn cơm để rơi là mang tội, là vào địa ngục. Rơi một hạt là ăn một con giòi…”Eo ơi, tôi ăn hiền ở lành được cũng nhờ nhiều lắm ở bức tranh địa ngục này!

Sáng nay, ngày chủ nhật, rảo bước quanh chùa tôi tìm hoài mà có thấy bóng dáng tuổi thơ tôi, thú thật ngày nay đi qua, nhiều vùng đất nước, hành hương nhiều chùa, dù trầm trồ trước những kiến trúc hiện đại, dù yêu thích hình thức sang trọng, uy nghiêm của chùa này, chùa nọ nhưng chùa xưa của quê tôi vẫn còn đẹp mãi, vẫn đẹp lạ lùng. Ký ức chùa quê tôi luôn sống mãnh liệt. Ngôi chùa luôn mang hồn đạo dù trải qua bao biến cố thăng trầm. Ngôi chùa đã góp phần hình thành nhân cách cho chúng tôi, những người Phật tử thuần thành – để hôm nay chúng tôi có thể sống có giá trị, sống có ý nghĩa và sống hợp với lẽ thật của cuộc đời.

  Trung Ái Hoa |    TT Uyên Hưng, Tân Uyên, Bình Dương

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 78

(Visited 247 times, 1 visits today)

Tags: , , , ,

Category: Cảnh Chùa, Trung Ái Hoa

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *