Ngày xuân viếng chùa Sắc tứ Tam Bảo Hà Tiên

| 25/02/2017 | 0 Comments

PHẠM  CHU  SA|

Sắc tứ Tam Bảo là ngôi cổ tự gần ba trăm năm tuổi gắn liền với lịch sử phát triển nhiều thăng trầm của vùng đất Hà Tiên. Sắc tứ Tam Bảo cổ tự là ngôi chùa lâu đời nhất Hà Tiên, một địa chỉ du lịch tâm linh mà du khách đến Hà Tiên thường viếng thăm…

ngay-xuan-vieng-chua-sac-tu-tam-bao-ha-tien

Năm 1730, Tổng binh Mạc Cửu cho lập ngôi chùa Tam Bảo để mẹ ông – thường  được gọi là Thái Thái phu nhân – tu dưỡng trong những  năm  cuối  đời. Bà qui  y với Hòa thượng  Ân Hạ, đời thứ 35 dòng  Lâm Tế;
người khai nguyên Phật giáo xứ Hà Tiên và cũng là vị trụ trì đầu tiên của chùa Tam Bảo (còn có tên là chùa Tiêu). Hai trăm năm sau, vào năm 1930, chùa Sắc tứ Tam Bảo được Hòa thượng Phước Ân, đời thứ 40 dòng Lâm Tế, trụ trì đời thứ 13 (1920-1946) cho xây dựng mới lại trên nền chùa cũ đã đổ nát, chỉ còn giữ lại bức tường cổ rêu phong. Chùa mới khang trang với vẻ thâm nghiêm giữa những hàng cây sao cổ thụ được trồng cùng lúc xây chùa vẫn được giữ nguyên vẹn đến ngày nay. Sắc tứ Tam Bảo cổ tự  đúng là một trong những thắng cảnh quan trọng của Hà Tiên, một địa chỉ du lịch văn hóa – tâm linh mà du khách khi thăm thú Hà Tiên thường đến viếng và lễ bái. Hai câu đối trước cổng tam quan gợi cho du khách thập phương sự thanh thản nhẹ nhàng trong tâm hồn:

“Nhất trần bất nhiễm Bồ-đề địa
V
ạn thiện đồng quy Bát-nhã môn”.

(Cõi Bồ-đề không nhiễm một hạt bụi trần
Cửa Bát-nhã hội tụ vạn điều tốt đẹp).

Mặc dù những  văn bản  trong  sử sách và các ghi chép trong gia phả họ Mạc, cũng như của các học giả, có những dị biệt về niên biểu Mạc Cửu trong quá trình thành lập xứ Hà Tiên, nhưng tất cả đều thống  nhất về  năm thành lập chùa Tam Bảo là năm 1730 và do chính Tổng binh Mạc Cửu cho lập chùa để mẹ ông tu hành trong  mấy năm cuối đời. Sau khi Thái Thái phu nhân qua đời, Mạc Cửu cho đúc một tượng bà cụ bằng đồng để  thờ. Ông cũng  cho đúc  một  tượng  Phật  A-di-đà bằng đồng cao 2,4 mét – tính cả bệ – và một đại hồng chung cúng chùa để đêm đêm khi tiếng chuông chùa vang vọng, ngài Tổng binh lại ngồi tưởng nhớ mẹ. Hiện cả hai báu vật ấy vẫn được bảo tồn tại chùa. Mấy năm sau, vào năm 1735, Mạc Tổng binh cũng qua đời, thọ 81 tuổi. Con trai ông là Mạc Thiên Tứ (sau đổi là Mạc Thiên Tích) kế nghiệp  cha làm Tổng binh và tiếp tục bảo trợ chùa vì đây là nơi thờ phụng bà nội ông.

Nhắc tới chùa Sắc tứ Tam Bảo không thể không nhắc tới sự hình thành và phát triển của vùng đất Hà Tiên ba trăm năm qua. Điều đáng nói là cho đến nay vẫn chưa có sự thống nhất về niên biểu Mạc Cửu liên quan tới việc thành  lập xứ Hà Tiên, kể cả nguồn  gốc tên gọi Hà Tiên. Theo gia phả họ Mạc thì sau khi nhà Mãn Thanh diệt nhà Minh và thống  nhất Trung Hoa, doanh  nhân  Mạc Cửu người Quảng Đông không thần  phục nhà Mãn Thanh, theo gương các tướng “phản Thanh phục Minh” bị thất bại, đã đem toàn thể gia quyến chạy sang Nam Vang xin vua Chân Lạp cho tá túc. Nhưng vì lúc bấy giờ ở kinh đô Nam Vang lộn xộn do tranh giành quyền lực, nên ông xin về vùng Mang Khảm khai khẩn mở mang làm ăn, nhất là buôn bán, nhờ địa thế thuận lợi về giao thông đường biển, giao thương  với người Xiêm, Mã Lai, Ấn Độ, Java, Miến Điện, người Việt Đàng Trong… Vùng Mang Khảm được Mạc Cửu xây dựng thành một lãnh địa phồn vinh, ban đầu gọi là Căn Khẩu Quốc, sau đổi là Hà Tiên. Cả đảo Koh Trol ở trong vịnh Xiêm La cũng được Mạc Cửu đổi tên thành  Phú Quốc. Về tên gọi Hà Tiên, theo truyền thuyết do vùng này có con sông – nay là sông Giang Thành – nước trong vắt và cảnh sắc rất thơ mộng, có nhiều tiên nữ từ trời xuống tắm, nên vùng này được gọi là Hà Tiên – tiên trên sông! Nhưng đáng tin nhất, Hà Tiên là do đọc trại từ tên gọi Tà Ten, tên một ấp cư dân cổ ở hướng Đông bắc thị xã Hà Tiên hiện nay, nằm bên bờ trái sông Giang Thành mà khi xưa người Khmer cũng gọi sông này là Tà Ten (tức sông Ten – tiếng Khmer “tà” nghĩa là sông), sau này được Mạc Thiên Tứ gọi là Giang Thành (con sông chảy bên thành lũy Hà Tiên, cũng gọi là Phương Thành – một thành lũy được dựng bằng cọc tre bao bọc).

Sử sách và nhiều  tư liệu đến  nay vẫn chưa có giải thích chính thức nào về lý do tại sao Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên cho chúa Nguyễn mà không dâng cho vua Chân Lạp, người đã cấp đất cho ông khai khẩn. Có lẽ bấy giờ do nội tình triều đình Chân Lạp rối ren. Và tại sao không thần phục Xiêm – một quốc gia binh hùng tướng mạnh lại chỉ cách một vịnh biển nhỏ? Đặc biệt vua Xiêm trước đó đã cho Mạc Cửu lánh nạn một thời gian khi triều đình Chân Lạp truy sát những lính đánh thuê người Hoa – dưới sự chỉ đạo của người Việt – giúp Nặc Nộn tái chiếm kinh  đô Nam Vang nhằm mưu phục lại quyền bính nhưng bị thất bại. Bấy giờ ở Mỹ Tho phó tướng của Dương Ngạn Địch làm phản nên cả vùng đồng bằng sông Cửu Long bị phong tỏa; từ Hà Tiên muốn ra kinh đô Phú Xuân phải đi ghe vòng xuống mũi Cà Mau rồi men theo bờ biển đi tiếp. Cả một vùng đồng bằng rộng lớn vẫn còn hoang vu, cách trở, chỉ có một số nơi cao ráo như Trà Vinh, Sóc Trăng… mới có người Khmer sinh sống, chủ yếu giao thông bằng đường thủy. Để lý giải việc Mạc Cửu dâng đất Hà Tiên cho chúa Nguyễn, có lẽ một phần Mạc Cửu nhận thấy thế lực chúa Nguyễn ngày càng mạnh, đã chiếm gần hết vùng Thủy Chân Lạp, năm 1698 đã lập phủ Gia Định, một ngày không  xa chúa Nguyễn cũng  sẽ tiến tới Hà Tiên. Mạc Cửu muốn dựa vào thế lực của chúa Nguyễn để chống lại nước Xiêm đang nhòm ngó vùng Hà Tiên trù phú và thuận lợi giao thương này. Ngoài ra, theo chúng tôi, còn một yếu tố khác không kém quan trọng. Đó là yếu tố văn hóa: Nhóm người Hoa lưu vong lập một một triều đình thu nhỏ ở Hà Tiên theo cách thức các triều đình truyền thống Trung Hoa, họ mang theo văn hóa Khổng Mạnh đến vùng đất mới. Còn người Khmer hay người Xiêm lại chịu ảnh hưởng văn hóa Ấn Độ. Về tôn giáo, mặc dù người Khmer và người Xiêm cũng theo Phật giáo nhưng là Phật giáo Nguyên thủy – Nam tông, trong khi gia tộc Mạc Cửu theo Phật giáo Đại thừa – Bắc tông, giống như người Việt, trong đó có triều đình Huế, và nhất là cũng tương đồng văn hóa Khổng Mạnh như gia tộc Mạc Cửu – và cả chữ viết – vì bấy giờ người Việt cũng sử dụng chữ Hán như họ. Có lẽ vì tất cả những yếu tố nêu trên nên sau khi cân nhắc kỹ lưỡng, Mạc Cửu đã quyết dâng đất Hà Tiên cho chúa Nguyễn. Và năm 1708, Mạc Cửu sai hai thuộc hạ thân tín là Lý Xá và Trương Cầu mang lễ vật ra kinh đô Phú Xuân xin dâng đất Hà Tiên và xin được cai quản đất này. Chúa Nguyễn Phúc Chu đã chấp thuận và phong cho Mạc Cửu làm Tổng binh Hà Tiên cùng tước Cửu Ngọc hầu. Ba năm sau, 1711, Mạc Cửu đích thân dẫn đoàn tùy tùng đến cửa khuyết cảm tạ ơn chúa Nguyễn. Sau khi mất, Mạc Cửu được truy phong là Khai trấn Thượng trụ Đại Tướng quân Vũ Nghi công. Con là Mạc Thiên Tứ được nối nghiệp cha làm Tổng trấn Hà Tiên. Mạc Thiên Tứ sau đổi là Mạc Thiên Tích, là một người văn võ song toàn. Ông rất mê thơ, là tác giả mười bài thơ vịnh mười cảnh đẹp của Hà Tiên – Hà Tiên thập vịnh. Ông đã lập hội Tao đàn Chiêu Anh Các qui tụ nhiều tao nhân mặc khách khắp nơi về Hà Tiên xướng họa. Thi sĩ Đông Hồ – một người Hà Tiên – có bài thơ viết về cha con Mạc Cửu và Mạc Thiên Tứ như sau (trích):

Chẳng đội trời Thanh Mãn
Lần qua đất Việt bang
Triều đình riêng một góc
Trung hiếu vẹn đôi đường
Trúc thành xây vũ lược
A
nh Các cao văn chương
T
uy chưa là cô quả
cũng đã Bá Vương…

Văn Hoá Phật Giáo số 218-219 Xuân 2015

(Visited 77 times, 1 visits today)

Tags: , , ,

Category: Cảnh Chùa, Chùa Cổ, Phạm Chu Sa

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *