Ngôi chùa thân yêu

| 27/08/2013 | 0 Comments

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 35 | CAO HUY HÓA

Nhờ truyền thống gia đình, tôi đã làm quen với chùa từ thuở thơ ấu; đó là ngôi chùa tại thành phố Quảng Trị, một thành phố nhỏ ơi là nhỏ, đi dăm phút đã về chốn cũ…

ngoi-chua-than-yeu

Những con đường nhỏ hẹp, lầy lội khi mùa mưa về và bụi tung mịt mù khi gió nam thổi; cái Thành cổ buồn da diết khi chiều xuống văng vẳng  tiếng đàn hát của vài anh lính viễn chinh Maroc ngồi trên thành; ngôi trường khiêm tốn núp dưới hàng phượng vĩ và trư ờngchỉ có hai chiếc xe đạp: một của thầy hiệu trưởng, một của ông cai trường; đó là phác họa vài nét về thành phố tuổi thơ của tôi. Trong cái nhìn của tôi ngày ấy, thì ngôi chùa Tỉnh là lớn nhất, ngôi chánh điện uy nghi với pho tượng Phật cao trên đài sen, sân chùa rộng rãi rợp bòng mát, tha hồ cho Gia đình Phật tử sinh hoạt, cắm trại. Ngôi chùa tọa lạc trên con đường đẹp nhất tỉnh, trước mặt là dòng sông Thạch Hãn xanh trong, phơi những cồn cát giữa dòng.

Thời gian 6 năm ở Quảng Trị (từ năm 1946-1952), tôi chỉ còn ấn tượng không đậm nét cho lắm về những ngày đi lễ chùa cùng cha mẹ, những lần đi theo  đàn anh cắm trại Gia đình Phật tử, còn giáo lý, kinh kệ chỉ là con số không, trừ một chút sự tích Đức Phật Thích Ca: Thái tử Tất Đạt Đa giả từ  vương triều – vợ đẹp, con thơ, đêm khuya rời hoàng thành cùng với người hầu Xa Nặc, đến bờ sông A-nô-ma, tiễn Xa Nặc trở về, một mình đi tìm đường giải thoát cho chúng sinh…, tôi nhớ được như thế nhờ bài hát Dòng A-nô-ma…”Thôi con hãy về để ta vui ánh vàng/ Ta quyết định đi tìm đạo sáng cứu chúng sinh…”Đức Phật ở đâu, tôi chẳng thắc mắc, tôi chỉ gặp Thầy, Thầy trụ trì chùa Tỉnh, Thầy bồn sư của tôi, một hình ảnh sáng đẹp trong cuộc đời mà mỗi khi nhắc đến Tam Bảo, tôi luôn nghĩ đến Thầy như một biểu tượng của Tăng. Màu áo của Thầy trong cảnh chùa bao la, giọng nói trầm ấm, thái độ ân cần, gần gũi, “A-di-đà Phật”…, đã để lại trong tôi một tâm Phật sơ khai, tốt lành.

Học xong bậc tiểu học, tôi giã từ thị xã Quảng Trị để vào Huế cùng gia đình, và chẳng có mấy dịp trở lại. Cuộc chiến ngày càng ác liệt, kinh hoàng, mùa hè năm 1972, Quảng Trị đổ nát, tôi để tang thành phố tuổi thơ, tôi để tang ngôi chùa thân yêu.

Từ Quảng Trị vào Huế, tôi choáng ngợp trước sông Hương, núi Ngự, cầu Tràng Tiền, chợ Đông Ba, đường nhựa thênh thang…, và còn chùa, cả một không gian chùa vùng Nam Giao. Trong không gian đó có một ngôi chùa cổ mà cha mẹ tôi vốn có thiện duyên gắn bó từ lâu, và tôi may mắn thỉnh thoảng lui tới chùa trong những dịp lễ, kỵ, tết, và thăm người thân trong đất chùa. Vào thời đó, phần lớn đường sá nhỏ hẹp, thô sơ, phương tiện cá nhân đi lại cao nhất chỉ là xe đạp, thì đi chùa như là một cuộc du ngoạn: đạp xe đến dốc Bến Ngự – dốc sao cao thế – phải cuốc bộ, tiếp tục lên dốc Nam Giao, rẽ qua những con dốc nhỏ quanh co, đến khi thấy xa xa là cái giếng cổ: Đến chùa!

Chùa ẩn mình dười bóng cổ thụ, hài hòa với hàng rào chè tàu, xa xa là đu đủ, mít, tre, đặc biệt là những cây vả bao dung che bóng mát cho những ngôi mộ, lại hào phóng sinh sản quả chi chít cho nhà chùa. Chùa có vẻ trang nghiêm, tĩnh lặng nhưng gần gũi: trừ ngôi chánh điện khá uy nghi, nhà tầng, nhà khách mộc mạc, đơn sơ, và mọi người thấy thoải mái ngồi ngoài hiên rộng mát, chỉ cách mấy bước là cây quả, là vại tương to tướng, cục mịch mà vẫn duyên dáng trước mái nhà bếp. Tôi thơ thẩn quanh chùa, từ giếng sâu cho nước mát rượi đến vườn rau, cây trái cho đến nơi ở của mấy chú đệ tử ụt ịt Tâm Hợi của Thầy. Không gian trầm lắng của chùa chỉ khuấy động chút ít   khi có khách hoặc bổn đạo đến thăm chùa. Ôn trụ trì nhẹ nhàng, ân cần thăm hỏi mọi người, chuyện gia đình, sức khỏe làm ăn, mộc ,mạc thân tình với bổn đạo lớn tuổi: “ Gắng tu đi, kiếm chút tư lương về sau, chứ khi nhắm mắt xuôi tay, không đem được chi mô, vàng bạc châu báu cũng bỏ”. Không gian trầm lắng của chùa vẫn không hề suy suyển trước thời thế sôi động đấu tranh những năm trước 1975. Ôn vẫn an nhiên trong khi có sinh viên “kiệt thực” (từ của Ôn , ý nói “tuyệt thực”) đang lánh nạn tại chùa. Lẽ vô  thường  bày ra trước mắt: ngoài hiên, lăng mộ, ngôi thì tử tế, ngôi thì vô thừa nhận, chen lẫn với thơm lúp xúp, trong chùa thì di ành ký tự ngày càng nhiều, bổn đạo lần lần qua đi. Ôn càng tĩnh tại với tuổi già sức yếu, còn tôi, cũng sắp vào thế hệ để được ôn khuyên “kiếm chút tư lương”.

Nhưng ngôi chùa không già như tôi nghĩ, vì thầy trú trì mới quyết tâm xây lại chùa một cách quy mô. Chùa vẫn giữ nguyên truyền thống của chùa Huế, lại vừa có nét cách tân; ngôi chánh điện cao hẳn, trang nghiêm; nhà tăng, nhà khách rộng rãi, hành lang thênh thang, cổng tam quan nổi bật. Chùa có quy hoạch kiến trúc rõ ràng, vì thế cây cỏ mọc tự do nhường chỗ cho công trình chăm chút bởi bàn tay tài hoa của con người: hòn non bộ, suối róc rách, cây cảnh chậu kiểng tuyệt đẹp. Chùa rộng thì Tăng chúng  nhiều hơn trước. Nhưng nếu đến chùa trong giờ hành chính thì bốn bề vắng lặng vì thầy bận Phật sự tại văn phòng hay nơi xa, các đệ tử của thầy thì tỏa đi học tại học viện hoặc các trường đại học, phổ thông, học chính quy hay tại chức, ngoại ngữ, vi tính…Như thế chùa không chỉ mở cửa cho khách thập phương, mà còn rộng mở cho Tăng chúng hội nhập vào đời, hiểu đời, hiểu người, thêm kiến thức để tăng thêm nội lực, vững vàng đạo pháp trước thế sự đa đoan.

Lịch sử ngôi chùa đã sang trang. Còn tôi, ô hay, sao lại mang nỗi niềm hoài cổ? Sao cứ bám víu  vào ngôi chùa êm đềm của tuổi thơ tại thị xã Quảng Trị và ngôi chùa tĩnh lặng của tuổi thanh xuân tại vùng Nam Giao trong ký ức để không nhận ra những gì sinh động trong cuộc sống của ngôi chùa trước mắt? Sao tôi không đồng hành với những người có hoài bão vun cội bồ đề, gốc dân tộc cho xã hội trong thời đại mới, dẫu biết rằng trong  lớp người trẻ hiện nay không dễ có niềm tin đạo pháp, không dễ thuần thành như những bổn đạo của các chùa ở Huế mà tôi thường gặp trước đây!

Điều đáng mừng là khi kinh tế phát triển, đời sống vật chất đi lên, thì các chùa trong mọi miền đất nước càng ngày càng khang trang và vững chắc, tuy nhiên sứ mạng hoằng pháp độ sinh của chùa không vì thế mà hanh thông hơn trong xã hội hiện tại khi mà các giá trị văn hóa truyền thống bị thử thách trước nhiều vấn nạn như: hậu quả của chiến tranh, mưu sinh vất vả, ov1 vị kỷ thực dụng, đối xử thô bạo với thiên nhiên, tệ sùng bái mê tín, tiếp thu dễ dãi văn hóa nghe – nhìn và văn hóa sinh hoạt phương Tây…Nếu hóa giải được những vướng lụy này, những người con Phật chắc chắn góp phần xây dựng xã hội phát triển hài hòa về vật chất và tinh thần, để con người trở về chân tâm, từ ái với mọi người, hòa hợp với thiên nhiên, trong khi hàng ngày vẫn lo toan công việc, cho cá nhân, gia đình và cộng đồng.

Hoài niệm về ngôi chùa đã qua, ước vọng về ngôi chùa ngày nay, tôi nhập tâm hai câu thơ của Huyền Không (cố Hòa thượng Thích Mẫn Giác):

Mái chùa che chở hồn dân tộc

Nếp sống muôn đời của tổ tông…

                                               Những ngày cuối tháng Tư , 2007

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 35 | CAO HUY HÓA

(Visited 151 times, 1 visits today)

Tags: , , ,

Category: Cảnh Chùa, Cao Huy Hoá, Kỷ Niệm, Tuỳ bút

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *