Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo  số 23 |     Ghi chép của HOÀNG ĐỘ"/>

Tiếng hồng chung giữa đại ngàn

| 09/12/2012 | 0 Comments

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo  số 23 |     Ghi chép của HOÀNG ĐỘ

 Mặt trời đã lặn, chỉ còn một vừng đỏ phía Tây. Mây kéo dến, báo trước có một cơn mưa nhỏ trên đất cao nguyên. Giữa thinh không, tiếng hồng chung nơi lầu chuông dựng theo kiểu nhà sàn của bà con Châu Mạ ngân vang. Tiếng chuông trầm hùng lan vào không gian của núi rừng. Tiếng chuông do chú tiểu có pháp danh là Đồng Tự, người dân tộc Mạ gióng. Chú đứng lặng nghiêm như đang mời gọi tiếng chuông về với buôn làng mình, về với đại ngàn…

 Tieng hong chung giu dai ngan

Từ Sài Gòn, sau 6 giờ, chiếc xe “dù” đưa chúng tôi đến thị xã Bảo Lộc, viên ngọc xanh của cao nguyên Trung phần. Dù khá vất vả vì chiếc xe chật chội do chở quá tải, nhưng không khí mát mẻ ở vùng cao nguyên với độ cao 800m này đã làm chúng tôi cảm thấy lắng dịu người, nhanh chóng quên đi cái không khí ngột ngạt trên xe.

Bảo Lộc đất rộng nhưng người còn thưa, nơi đây đang ngổn ngang các công trình xây dựng, các khu nhà tái định cư xây dở dang, nghe đâu các cơ quan hành chánh của tỉnh Lâm Đồng sẽ chuyển về đây.

Tu viện nằm trên đường đến khu du lịch Đamb’ri, cách trung tâm thị xã Bảo Lộc chừng 13 km. Mặc dù không phải là mùa hoa quỳ, nhưng dọc con đường chúng tôi đi lại vẫn còn rực những khóm vàng, xen với màu khói lam của một loài hoa trẻ con thường gọi là cây cầm máu. Đường đi vắng, ít xe cộ. Trời trong , cảnh bạt ngàn xanh của chè , của cà phê cứ như muốn níu xe chúng tôi lại. Đồi núi trùng điệp. Trời đất, phong cảnh núi đồi gần xa đậm nhạt như tranh.

Đến Bát Nhã, chúng tôi bắt gặp mấy nhóm Tăng Ni đang nhặt đá, làm lối đi, nhổ cỏ dưới đám thông vừa trồng chưa bén rễ, lá vẫn chưa xanh trở lại.

Chúng tôi nhìn quanh tìm các chú tiểu người dân tộc thiểu số mà có lần được thấy trong ảnh, nhưng lại vắng. Xin được gặp Thượng tọa Đức Nghi, viện chủ tu viện thì được biết Thượng tọa đang ở một buôn làng xa nào đó, chừng xế chiều mới quay trở về Bát Nhã

Bát Nhã như một nốt ruồi son giữa núi đồi Đamb’ri, mái chùa truyền thống ẩn hiện giữa muôn ngàn cây cối xanh mướt với diện tích hơn 30 héc-ta. Thấp thoáng là những dãy Tăng xá, nơi dành cho Tăng lưu trú; Ni xá, nơi dành cho các sư cô; trai đường, các thất của quý thầy giáo thọ…

Thầy Giác Viên, một giáo thọ lớn tuổi và nhiều kinh nghiệm đã tiếp chúng tôi tại thất riêng. “Môi trường ở đây thật lý tưởng cho việc thực tập. Tất cả hoạt động của tu viện đều được điều hành bởi các ban, dưới sự quản lý của Thượng tọa viện chủ. Thượng tọa là một vị Tăng sĩ có hạnh nguyện hộ trì cho những ai muốn chuyên tâm tu tập”, thầy nói, khi chúng tôi hỏi về các em người dân tộc thiểu số xuất gia tu tập như thế nào, thầy cho biết: “Các em nam được bố trí ở một số ngôi chùa khác. Các em nữ thì ở đây, dưới sự chăm sóc của quý Sư cô lớn. Trong các thời khóa hướng dẫn, nhất là khi chia sẻ, các em tỏ ra là những người thực tập sâu sắc, có những chia sẻ để lại ấn tượng lớn trong tôi dù tiếng Việt mà các em diễn đạt đôi khi chưa trôi chảy lắm. Tôi thấy các em như những tờ giấy trắng, nên ấn tượng tu tập trong các em rất lớn và rõ”.

Từ chối lời mời cơm trưa của thầy Giác Viên, chúng tôi lang thang giữa núi đồi Đamb’ri tận hưởng không khí trong lành và cảnh sắc vừa hùng vĩ lại vừa thơ mộng.

Từ rẫy đến chùa

Gần xế chiều, chúng tôi mới liên lạc được với Thượng tọa Đức Nghi qua điện thoại di động và được biết Thượng tọa vừa về tới tu viện, Thượng tọa tỏ ra rất nhiệt tình đón tiếp với vài lời phân giải dễ thương. “Thường đôi khi sáng tôi ở đây, trưa lại ăn cơm ở một buôn làng này, chiều lại cơm tối ở buôn làng khác, nên nếu có việc, xin cứ điện thoại hẹn trước. Tôi với thầy Giác Viên đều là tuổi Hợi, cùng tu học với nhau từ thời ở Phật học viện Hải Đức (Nha Trang) nhưng mỗi người có một hạnh nguyện, tôi thường đùa với thầy Giác Viên: thầy là con heo phố, còn tôi là…heo rừng”. Âm sắc Bình Định trong giọng nói của Thượng tọa pha tiếng cười nhẹ.

Đến viên ngọc xanh của cao nguyên Trung Phần này từ năm 1976, với nhiều khó khăn và vượt qua bao lận đận tưởng như không thể, nhờ “cái khó ló cái khôn”, Thượng tọa Đức Nghi đã có 30 năm gắn bó với vùng đất này, từ phố vào buôn làng.

Năm 1995, Thượng tọa chọn mua khu đất 30 héc-ta để trồng trọt, rồi cất một cái thất nhỏ, chỉ với ý nghĩ là tạo dựng một điểm dừng chân cho những vị nào muốn đến ở để tu tập. Cơ duyên lại đến, năm 1998, Thượng tọa đặt viên đá xây dựng chùa Bát Nhã. Kinh phí xây dựng được đóng góp bởi Tăng Ni Phật tử thập phương, qua những lần Thượng tọa chu du đây đó.

Khi chùa xây dựng, bà con người dân tộc đến chùa giúp việc, Thượng tọa mới dựng thêm một ngôi nhà để cho bà con gởi con trẻ, có người chăm sóc, tiền thân của hệ thống hàng chục nhà trẻ tình thương như bây giờ.

Nhà trẻ tình thương là nơi bà con gởi con cái nhỏ để tiện đi làm nương làm rẫy. Con em được giữ và chăm sóc miễn phí, trẻ con càng ngày càng nhiều. Các buôn khác nghe tiếng, kéo đến xin Thượng tọa mở nhà trẻ ở buôn làng họ. Từ một ngôi nhà như thế, con số đến nay đã lên tới 25, với 68 cô giáo trực tiếp chăm sóc hơn 1.000 trẻ.

Hệ thống nhà trẻ được xây dựng và nuôi lớn trong tinh thần tình thương và đùm bọc, không phân biệt giàu nghèo, toàn bộ được miễn phí. Với những gia đình có chút dư dả, phụ huynh đóng góp phụ thêm tiền ăn cho con em chỉ với 1.000 đống/ngày. Cách làm này được chấp nhận một cách dễ dàng. Các cô bảo mẫu ở đây cũng tình nguyện hưởng phụ cấp rất thấp, theo thâm niên từ 300-500  ngàn đống/tháng. Để duy trì cả hệ thống nhà trẻ như thế, Thượng tọa Đức Nghi lại phải bôn ba, và thập phương thiện tín đã không phụ tấm lòng của Thượng tọa đối với người dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn nơi rừng núi Bảo Lộc này.

Tiếng hồng chung giữa đại ngàn

Chiều xuống trong khi câu chuyện về Bát Nhã chưa kết, chúng tôi ngỏ ý muốn gặp các chú tiểu, các chú sa di người dân tộc thiểu số mà Thượng tọa Đức Nghi đã tiếp nhận từ năm 1998, thì được Thượng tọa cho biết các chú đang ở nơi khác, một số chú đang theo học các trường phổ thông hiện ở tại chùa An Lạc để tiện đường đến trường, khoảng 26 chú còn lại thì đang tu học ở chùa tại buôn Đăng Đừng, cách tu viện Bát Nhã chừng 5km. Thượng tọa nhiệt tình dẫn đường đưa chúng tôi băng rừng, qua những đoạn đường đất đỏ đến chùa.

Câu chuyện lại tiếp tục trên chiếc xe 6 chỗ cũ kỷ của quý Sư cô tại tu viện, hết đoạn đường trải nhựa đến khu du lịch Đamb’ri là đường đất đỏ. Đường không quá xấu, nhưng thỉnh thoảng có dốc cao, xe phải bò gừ gừ. Tôi nghĩ đến hình ảnh một Tăng sĩ trên chiếc xe máy một mình trên con đường này cách đây mấy mươi năm, gần bằng cả tuổi đời của chúng tôi mà lòng cảm thấy đôi chút bùi ngùi, mình có thể là như thế không? Tôi buột miệng hỏi: “Có bao giờ Thượng tọa thấy chán nản và muốn bỏ cuộc chưa?”, “Tôi là heo rừng mà, cứ thế mà ủi, lúc nào ủi được thì cứ ủi” Tiếng cười của Thượng tọa nhẹ nhàng.

Xe đến nơi lúc các chú tiểu đang chơi đùa với quý Sư cô trước chùa. Một số Sư cô thì đang chuẩn bị cơm tối sau nhà bếp. Chùa nằm trên khu đồi, đôi cánh cổng bằng cây rừng, thấp thoáng lầu chuông theo kiểu nhà sàn của bà con dân tộc, chất liệu là gỗ, mái lợp bằng tranh mộc mạc, trên nóc cắm là cớ Phật giáo, ẩn mình trong trời chiều u tịch của núi rừng.

Chúng tôi được nghe các chú hát, bài hát ca ngợi về sự đi của một dòng sông không vướng mắc. Bài hát gợi ý nguyện  sống học tập sự đi ấy. Các chú hát bằng tiếng Việt và tiếng mẹ đẻ của các chú, âm vang ngân ấm cả không gian.

Chúng tôi chứng kiến các chú tụng kinh nhịp nhàng, dễ thương và thiêng liêng. Tượng Đức Phật ở đây cũng nhỏ, có bàn thờ Đức Phật sơ sinh, bàn thờ thấp tầm các chú, như muốn gần với các chú hơn. Đức Phật gần gũi, không phải ở trên trời cao, như thường nhắc nhỡ các chú, những tiếng nói thì thầm của người mẹ Phật ở trong tim các con, trong lồng ngực của các con; Phật ở bên cạnh các con, ở trong người chăm sóc các con.

Gặp Sư cô Thanh Huệ, người sinh quán tại Đà Nẵng, được điều động từ Làng Mai ờ Pháp về đây, trưởng nhóm 7 sư cô luân phiên chăm sóc các chú tiểu, vào tận các buôn làng xa xôi sống chung với bà con dân tộc, chăm sóc trẻ con, chăm sóc người già, hướng dẫn cách sống hợp vệ sinh hơn, lành mạnh và tôn trọng môi trường sống của mình hơn…Một nhóm như vậy gồm 7 người, với các gương mặt dễ thương và lời nói hòa ái, nhẹ nhàng, họ đi theo sự phân công, trong ý nguyện học tập theo sự đi của một dòng sông.

“Sư cô đến đây có thấy buồn không? Sống với các chú xuất gia nhỏ tuổi người dân tộc có khó khăn nhiều không?”, “Dạ thưa, có khó khăn nhưng vui lắm ạ, vì được sống với các em, được thấy các em hạnh phúc. Các em như tờ giấy trắng, có em chậm một chút, nhưng có em thì rất sáng dạ, có những bài hát, chỉ hát qua đôi ba lần là thuộc ngay…”. Sư cô chắp tay hình sen búp nói với giọng nhỏ nhẹ.

Mặt trời đã lặn, chỉ còn một vừng đỏ phía Tây. Mây kéo đến, báo trước có một cơn mưa nhỏ trên đất cao nguyên. Giữa thinh không, tiếng hồng chung nơi lầu chuông dựng theo kiểu nhà sàn của bà con Châu Mạ ngân vang. Tiếng chuông trầm hùng lan vào không gian của núi rừng. Tiếng chuông do chú tiểu có pháp danh là Đồng Tự, người dân tộc Mạ gióng. Chú đứng lặng nghiêm như đang mời gọi tiếng chuông về với buôn làng mình, về với đại ngàn.

Chúng tôi tạm biệt các chú tiểu nhỏ, những người xuất gia trẻ tuổi dân tộc thiểu số, tạm biệt các sư cô dịu hiền. Tiếng chuông của chú tiểu Đồng Tự gióng lên vẫn âm vọng trong lòng.

“Thầy Đức Nghi đã làm nhiều việc đáng hoan nghênh, có nhiều lợi lạc, lợi ích cho cộng đồng, cho tương lai”. Tôi chũng nhớ lại lời của Thượng tọa Thái Thuận, Chánh đại diện Phật giáo huyện Bảo Lộc nói về Thượng tọa Đức Nghi tại chùa Phước Huệ trong một buổi sáng khi chúng tôi đến gặp để tìm hiểu về các hoạt động Phật sự tại Bảo Lộc.

Trước lúc chia tay chúng tôi, khi trăng 13 đã lên cao gần giữa trời, Thượng tọa Đức Nghi nói, qua nhiều lần gần gũi và được nghe tâm sự của quý Hòa thượng , như cố Hòa thượng Thiện Châu ở Pháp, đặc biệt là Thiền sư Nhất Hạnh, quý Hòa thượng rất ưu tư với việc đào tạo Tăng Ni, về sự thực tập và học hành, về chất lượng và chí nguyện phụng sự cộng đồng theo tinh thần đạo Phật trong đạo lý của dân tộc. Giáo dục Phật giáo làm thế nào để đào tạo cho được những Tăng Ni và hàng kế cận dấn thân thực sự, phải đặt chân đến các vùng sâu, vùng cao nguyên để chăm sóc bà con, hướng dẫn bà con sống trong tinh thần Phật pháp. Vì ưu tư đó mà Thượng tọa càng mạnh dạn hơn trong các Phật sự, đi lại giữa các buôn làng như con thoi.

Ở đâu đó có những người mạo xưng đem lại ánh sáng cho vùng cao, vùng sâu, cho dân tộc thiểu số nhiều thiệt thòi nhưng lại tư lợi vụ lợi; nhưng cũng ở nhiều nơi, nhiều Tăng Ni Phật tử tự nguyện âm thầm dấn thân vì thấy đó là việc nên làm, cần làm. Và ở nơi này, Tăng Ni, Phật tử đã thấy bà con dân tộc thiểu số là bà con mình, là anh em mình, là ruột rà mình.

Giữa đại ngàn đã có âm vọng tiếng đại hồng chung, có đôi bàn tay chắp ngang ngực hình sen búp của chú tiểu Đồng Tự người Châu Mạ đứng bên chuông trang nghiêm…

(Kỳ tới: Ước mơ về một ngôi niệm Phật đường cho buôn làng)

(Visited 90 times, 1 visits today)

Tags: , , ,

Category: Cảnh Chùa

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *