Ứng xử với môi trường tự nhiên trong kiến trúc đình chùa Nam bộ

| 11/04/2014 | 0 Comments

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 15 |  KTS . PHẠM ANH DŨNG

Nam bộ là vùng đất non trẻ của khu vực Đông Nam Á, vốn được hình thành chủ yếu trong giai đoạn tân kiến tạo, và đây cũng là vùng đất đan xen của ba loại địa hình: núi , đồng bằng và duyên hải. Kể từ khi được hình thành, vùng đất này đã có sẵn một thảm động thực vật vô cùng phong phú. Trong quá trình mở đất về phương Nam, tổ tiên ta đã mang theo những loại hình văn hóa nghệ thuật mang đậm dấu ấn của người Việt đến vùng đất này. Rõ nét nhất là các loại hình kiến trúc . Kiến trúc thuộc loại hình văn hóa ứng xử, chủ yếu là ứng xử với môi trường tự  nhiên , và điều này càng rõ hơn đối với vùng đất Nam bộ trong buổi đầu khai hoang  lập ấp.

ung-xu-moi-truong

1 – Kiến trúc đình chùa: phản ánh việc tận dụng môi trường tự nhiên

Hơn 300 năm trước đây, cả vùng Nam Bộ “ từ các cửa biển lớn nhỏ như Cần Giờ, Sài Lạp (Soài Rạp) đi vào, toàn là những cánh đồng hoang vu đầy cỏ rậm, mỗi đám rừng có thể rộng hơn nghìn dậm” 1. Trong quá trình lưu hoang của cư dân người Việt, chắc hẵn có rất nhiều cây gỗ rừng bị đốn hạ và trong đó không ít các loại gỗ quý. Sản vật của môi trường tự nhiên phong phú đã nhanh chóng được tận dụng cho nhiều ngành, trong đó có ngành xây dựng.

Kiến trúc đình chùa trong buổi đẩu định cư tại vùng đất này, tổ tiên ta thường sử dụng bộ khung sườn thuần gỗ. Về cách thức sử dụng bộ khung sườn gỗ, tuy có phần giống cấu trúc gỗ của đình chùa Bắc Bộ, nhưng xuất phát từ điểm có khác : gỗ sử dụng cho đình chùa Bắc Bộ thường không phải được khai thác tại chỗ mà do các đại thí chủ xuất tiền ra mua từ xa về với giá thành cao, công chăm chút và chạm trỗ khá công phu. Ngược lại, gỗ sử dụng trong kiến trúc đình, chùa tại Nam Bộ ( buổi đầu ) thường được dân làng hoặc bá tánh khai thác, tận dụng tại chỗ trong quá trình khai hoang, nên giá thành của chúng là không đáng kể. Phải chăng vì vậy mà trong kiến trúc nhà cửa, đình, chùa, gỗ ở đây được sử dũng lãng phí hơn, và ít được người ta gia công chạm trổ hơn.

Vùng đất Nam Bộ là vùng đất trũng, có hơn phân nữa diện tích ven biển là vùng nước lợ (nước ngọt vào mùa mưa và mặn vào mùa nắng), điều kiện môi trường này thích hợp cho loại cây sú, vẹt, đước, bần, tràm, dừa nước … sinh sống. Đặc biệt các giống cây tràm , cây đước và dừa nước mọc thành rừng khắp vùng đất Nam Bộ . Người dân tại đây đã tận dụng các sản vật tự nhiên này làm vật liệu xây dựng cho ngôi nhà của mình. Kiến trúc đình chùa buổi đầu và kể cả ngày nay, tại vùng nông thôn, trong các công trình phụ như bếp, kho , nhà khách …, loại vật liệu thô sơ này cũng được người ta tận dụng để kiến tạo. Đặc biệt cây tràm đến ngày hôm nay vẫn là loại cây làm “cừ” gia cố nền móng tiện dụng nhất tại Nam Bộ.

Tiếp giáp vùng đất trũng ven biển, tại Nam Bộ, là vùng đất thịt ( á sét) và cao lanh rất phù hợp cho sản xuất vật liệu đất nung hay gốm sứ. Chính nhờ môi trường tự nhiên này mà gạch, ngói, gốm sứ… xuất hiện và được sử dụng rất sớm (từ thời Phù Nam) tại Nam Bộ. Tuy nhiên, vì giá thành của gốm sứ thường đắt hơn “ lá xé” ( dừa nước ) nên người ta chỉ sử dụng nó cho các công trình quan trọng như kiến trúc đền chùa chính.

Nam Bộ là vùng đất có núi mọc lên giữa đồng bằng ( núi Thật Sơn , núi Bà Đen , núi Thị Vãi … ) nên vùng trung gian tiếp giáp với đồng bằng và núi là vùng “đất phún” hoặc “đá ong”. Hợp cùng với đá núi , đá ong là vật liệu dễ tạo hình , dùng làm vật liệu tấn nến rất tốt. Riêng đất phún, cho đến ngày nay vẫn dùng làm vật liệu tôn nền (xây dựng và giao thông) khá phổ biến tại Nam Bộ.

Quan am co tu

Quan âm cổ tự (Minh Hải)-

Nam bộ còn là vùng đất có núi đá vôi. như núi đá vôi tại Kiên Lương (Hà Tiên). Đá vôi là nguyên liệu chính nung lanh-ke để sản xuất xi-măng phục vụ cho các công trình kiên cố và hiện đại. Nhờ có sản vật tự  nhiên này cùng với việc tiếp thu thành tựu kỹ thuật hiện đại phương Tây khá sớm , kiến trúc Nam Bộ, trong đó có kiến trúc đình chùa, ngay từ cuối thế kỷ XIX , người ta đã sử dụng “hồ xi-măng” và “bê-tông” trong xây dựng.

Nam Bộ lại còn là vùng đất có nhiều sông rạch, đặc biệt các con sông ở đây thường có thượng nguồn là các núi sa thạch, chẳng hạn như sông Đồng Nai, sông Saigon, sông Vàm Cỏ … và ở hạ lưu của chúng thường có rất nhiều bãi cát bồi lắng ( cát sông). Các nhà xây dựng đã tận dụng sản vật tự nhiên này để làm cốt liệu cho hồ xi-măng và bê-tông rong việc xây dựng các công trình kiến trúc trong đó có kiến trúc đình chùa.

2 – Kiến trúc đình chùa : phản ánh việc ứng phó môi trường tự nhiên

chua-Phuoc-tuong-TpHCM

chua-Phước Tường-Tp.HCM – Ảnh Võ Văn Tường

Sản vật của môi trường tự nhiên tại Nam Bộ rất nhiều, nhưng khó khăn do tự nhiên gây ra cũng không ít. Bên cạnh cái khó của việc “ Phá sơn lâm, đâm hà bá” vùng đất Nam Bộ còn có cái khắc nghiệt của khí hậu nóng ẩm. Để tồn tại, các lưu dân Việt đã cùng nhau xây dựng những công trình kiến trúc khá tốt nhằm ứng phó với môi trường tự nhiên khắc nghiệt này. Và để ứng phó với cái nóng, các nhà xây dựng đã phân chia công trình thành nhiều phần nhỏ, được ngăn cách các khoảng sân trống. Các khoảng sân trống này giữ nhiệm vụ thông gió cho các phần bên trong công trình. Từ đó các kiểu nhà “bát dần”, “nối đọi” hay “nối đọi có sân tương”…được hình thành. Kiến trúc chùa Vĩnh Tràng ( Mỹ Tho ) hoặc chùa Giác Lâm ( TP.HCM )… là các ví dụ điển hình được xây dựng theo kiểu thức này . Kiến trúc có sân trong ( còn gọi là “sân tương” hay “patio”) cũng ra đời từ lý do đó.

chua-hoa-thanh

Hòa Thạnh cổ tự (An Giang) – Ảnh Võ Văn Tường

Để ứng phó với khí ẩm, việc thông gió cho công trình rất được chú trọng. Cùng với việc tạo các sân trống xung quanh thường được chừa thoáng , cửa “thượng song hạ bản” với nhiều khe trống ở phần “thượng song”… là những vị trí tiếp nhận tốt nhất luồng khí mát từ ngoài vào nội thất. Phần “khu đi” ( tam giác đầu hồi ) vị trí cao nhất của mái nhà , thường đươc chừa thoáng ( chỉ che mưa ) chứ ít khi người ta bít kín. Dòng đối lưu trong không khí từ các khoảng sân trống đi vào công trình và thoát ra tại “khu đi” ( từ dưới lên trên) sẽ kéo theo nhiệt ẩm kể cả khói hương ra ngoài. Cấu trúc các đình chùa xưa tại Nam Bộ thường theo phương cách này.

Để ứng phó với mưa, những cơn mưa như “cẩm chĩnh mà đổ” người dân Nam Bộ phải thay đổi cấu trúc mái nhà và vật liệu lợp, tạo điều kiện cho lượng nước mưa ồ ạt ấy thoát khỏi mái nhà nhanh nhất. Đó là một trong các lý do quan trọng mà ngay từ thời kỳ đầu ở Nam Bộ, người ta đã cho ra đời kiểu cấu trúc góc mái thẳng và sử dụng ngói máng xối làm vật liệu lợp trong kiến trúc đình chùa cũng như nhà ở. Và cũng để ứng phó với mưa dầm làm “mục” các vách gỗ bao che bên ngoài công trình (vách “bổ kho” hay “đố bản” ), khi vừa mới tiếp cận với kỹ thuật xây dựng hiện đại (hồ xi-măng) , kết hợp với vật liệu có sẵn (cát sông , gạch đất nung ), các nhà xây dựng đã làm “tường gạch” bao che bên ngoài công trình để ứng phó với mưa nằng và chống mục .

Để chống mục chân cột gỗ do ứ nước, đồng thời chống mối mọt phá hoại (cách ẩm), các loại “tán đá” đã được sử dụng. Đặc biệt các hàng cột hiên tán đá có chân đế rất cao (chẳng hạn như cột hàng hiên chùa Giác Viên –TP.HCM ) . Và cũng với cách ứng xử này, các mộ tháp chư Tăng trong các chùa tại Nam Bộ thường có chân đế rất cao, có khi đến hai tầng ( như mộ tháp chùa Giác Viên – TP. HCM). Để tránh ứ nước khi mưa dầm, các tán đá thường không có lỏm giữa nơi tiếp xúc với chân cột . Lõm giữa này lẽ ra phải có để tăng độ ổn định chân cột khi có chấn động do gió bão, tránh chuyển vị tức thời; nhưng ở Nam Bộ ít gió bão mà lại mưa nhiều, lõm giữa tán đá được người ta bỏ đi từ thực tế ấy .

Cũng chính vì Nam Bộ ít có gió bão, nên bộ khung sườn gỗ trong kiến trúc đình chùa ở đây, do vậy cũng thanh mảnh hơn khung sườn đình chùa ờ Bắc Bộ, nơi có nhiều gió bão hằng năm. Bộ “dàn trò” đâm trính, “cột kê” không có “xuyên lui” chống bão, chẳng có “chân ngạch cửa” …được phổ biến trong kiến trúc đình chàu Nam Bộ , nhằm ứng xử với dặc điểm môi trường tự nhiên ở đây.

Kể từ buổi đầu, khi điều kiện giao thông còn rất khó khăn, tại Nam Bộ, người ta sử dụng giao thông đường thủy là chính, phương tiện chuyên chở là ghe, thuyền, cộ, bè … nên vật liệu chuyên chở càng gọn càng tốt. Vì vậy , “gỗ tròn” được chế tác thành “gỗ hộp” ( tiết diện hình chữ nhật hoặc vuông ) để dễ chuyên chở và thu gọn thể tích. Đó là một trong các lý do mà đa phần gỗ sử dụng trong kiến trúc Nam Bộ  trong đó co đình chùa , thường là gỗ hộp. Gỗ hộp thường có mặt tiếp xúc lớn nhất với thanh “kèo” và “rui”lợp ngói máng xối ( không có “mè” ) nên ổn định hơn khi tiếp xúc với mưa to. Vì vậy , tại Nam Bộ đòn tay “tròn” đã được thay thế bằng đòn tay “hộp” trong kết cấu bộ mái .

Đồng thời để ứng phó với môi trường tự nhiên thường thiếu nước ngọt trong sáu tháng mùa nắng nên người Nam Bộ đã xử dụng nhiều lu, vại, mái, khạp… hứng và trữ nước mưa trong sáu tháng mùa nắng, nhất là trong các dịp rằm, ngươn, lễ, tết . Lu, vại … không đủ đáp ứng cho nhu cầu này, chính vì vậy , trong kiến trúc đình chùa Nam Bộ xưa kia, hầu hết đều có hồ chứa nước mưa rất lớn phục vụ cho thực tế hơn.

Ngoài ra, hầu hết các đình chùa Nam Bộ trước kia đều có rất nhiều cây ăn quả ở quanh vườn. Ngoài việc có thêm vật thực đáp ừng nhu cầu cúng lễ và tạo cảnh quan , cây xanh trong khuôn viên đình chùa còn góp phần cải tạo vì khí hậu tại khu vực,  giảm bức xạ nhiệt, tạo cảm giác dễ chịu (một trong các điều kiện cảnh quan) cho khách thập phương tự nhiên khá phổ biến của kiến trúc đình chùa ờ Nam Bộ.

Như vậy, lối kiến trúc đình chùa ở Nam Bộ, ngay trong bản thân chúng, đã phản ảnh rất rõ vai trò văn hóa ứng xử của mình đối với môi trường tự nhiên.

 

Chú thích :

(1) . Trần Văn Giàu , Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh , tập 1 . TP.HCM . 1987 , tr 112.

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 15 |  KTS . PHẠM ANH DŨNG

(Visited 424 times, 1 visits today)

Tags: , , ,

Category: Cảnh Chùa, Chùa Cổ, KTS. Phạm Anh Dũng

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *