Chùa Báo Thiên ở Hà Nội xưa

| 01/09/2014 | 0 Comments

Di sản | Lê Quang Vịnh

lich-su-chua-Bao-Thien

Ở Hà Nội, phía Tây hồ Hoàn Kiếm, dọc theo trục Bắc Nam, có một đường phố ngắn (chỉ 300m) phía Bắc tiếp nối với phố Lý Quốc Sư, phía Nam đụng với phố Trường Thi, nằm gọn trong phường Hàng Trống thuộc quận Hoàn Kiếm, mang tên Phố Nhà Chung , thời Pháp thuộc gọi là Rue de la Mission (phố Hội Truyền Giáo hoặc Phố Hội Thừa Sai). Trên đường phố này xúm xít những cơ sở Công giáo như nhà thờ Lớn, Tòa Tổng Giám Mục Hà Nội, trụ sở của Hội đồng Giám mục Công giáo Việt Nam và mấy cơ sở bên “lương”như Câu lạc bộ Thanh thiếu niên (1) Hoàn Kiếm, Trung tâm Ngoại ngữ Đại học Sư phạm…tiếp giáp với hai ngôi chùa cổ danh tiếng trong sử sách vẫn ghi là chùa Bà Đa (2) và “Đền”Lý Quốc Sư (3).

Thời còn công tác ở Ban Tôn giáo chính phủ, tôi đã nhiều lần đến thăm chùa và nghe vị sư trụ trì (4) chùa Lý Quốc Sư kể chuyện, đưa cho đọc những tư liệu quý giá mà nhà chùa vẫn còn lưu giữ được về khu đất bên cạnh chùa. Thật bất ngờ cho tôi khi đọc thấy những chúng tích rằng toàn bộ khu đất ấy, ngày nay gọi là phố Nhà Chung (Công giáo), ngày xưa la một ngôi chùa (Phật giáo) cổ kính, tráng lệ, đồ sộ vào bậc nhất nước ta.

Chùa đó có tên gọi tắt là Báo Thiên Tự, gọi đầy đủ là Súng Khánh Báo Thiên tự; trong sân chùa có một ngôi bảo tháp cao vòi vọi (12 tầng), cao đến mức bóng tháp soi xuống mặt nước hô (5) Hoàn Kiếm. Tháp này có tên gọi là Đái thắng Tư Thiên  tháp, gọi tắt là Báo Thiên tháp (6).

Báo Thiên Tự được khởi công xây dựng từ năm 1056 (7) (đời vua Lý Thánh Tông), đúc một quả đại hồng chung nặng đến 1vạn 2 ngàn cân (7260kg). Báo Thiên tháp có chóp làm bằng đồng, được xây dựng một năm sau khi xây dựng xong chùa. Trong chùa và tháp có rất nhiều vật hạng bằng đồng như tượng Phật, thiền trượng, giới đao hộ pháp nhà Phật….Cho nên năm 1426, khi quân Minh xâm lược bị vây khốn trong thành Đông Quan (tức Hà Nội), chúng cố thủ để chờ quân tiếp viện, đã đến chùa cướp phá tàn bạo: Tốc chóp tháp đồng, nấu chảy đại hồng chung và tất cả những gì bằng đồng, bằng kim loại để làm vũ khí (đúc súng) chống lại quân Việt Nam của Lê Lợi-Nguyễn Trãi mãi cho đến khi biết rõ là các đạo quân tiếp viện (Liễu Thăng, Mộc Thạnh) đều đã bị đánh tan cả, mới chịu đầu hàng. Tuy nhiên, nhà Lê không để chùa bị bỏ hoang, cho trùng tu và đại trùng tu nhiều lần nên ngôi chùa vẫn giữ vị thế bậc nhất nước ta.

Trong chùa Lý Quốc Sư ngày nay vẫn còn lưu giữ bản gấm thêu sắc tứ của đời Cảnh Hưng (tức vua Lê Hiển Tông 1740-1786) về chùa Sùng KHánh Báo Thiên Tự. Trên nền tháp bị phá, đã được tôn cao bằng một đàn tràng cũng gần gần nơi bây giờ là nhà thờ Lớn.

Về lý do diễn biến đổi thay từ chùa và tháp Báo Thiên, một trong “Tứ đại khí” hay “Tứ bảo khí”của Việt Nam cổ (tạm dịch là 4 công trình to lớn và quí báu nhất nước Nam ta) thành ra nhà thờ Lớn, Tòa Tổng Giám mục Hà Nội, Hội đồng Giám mục Công giáo Việt Nam và các tu viện, trường học Công giáo xung quanh đó ngày nay, thì dò theo các quyển sách lịch sử đáng tin cậy như  Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Hà Thành thất thủ chính khí ca (khuyết danh), bản trường ca về việc Hà Nội bị Pháp đánh chiếm lần thứ 2 (Nguyễn Hoàng Viên: Hoàng Diệu 1829-1882, NXB Đà Nẵng 2001, trang 54-66), Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim; Từ điển địa danh lịch sử văn hóa Việt Nam của Nguyễn Văn Tân, NXB Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội 1998; Từ điển đường phố Hà Nội, NXB Đại Học Quốc Gia Hà Nội 2000; Công giáo Việt Nam sau quá trình 50 năm-Công giáo và Dân tộc, Xuân 1996, Thành phố Hồ Chí Minh; Tổng tập Nghìn năm văn hiến Thăng Long-NXB Văn Hóa Thông Tin-Thời báo Kinh tế Việt Nam, tập I, 2007…tôi suy ra những kết luận chuẩn xác như sau:

Số là, sau khi được triều đình Huế chính thức nhượng 3 tỉnh miền Đông (Biên Hòa, Gia Định, Định Tường) theo Hòa ước 1862 (Nhâm Tuất), đến 1867 (Đinh Mão) quân Pháp lại chiếm một cách dễ dàng 3 tỉnh miền Tây (Vình Long, Châu Đốc, Hà Tiên), soái phủ Sài gòn có ý định chiếm nốt xứ Bắc Kỳ, để thiết lập vững chắc nền đô hộ của Pháp ở Viễn Đông.

Đô đốc Dupré viết thư sang Pháp:

“Xứ Bắc Kỳ rất giàu và nối liền với nước Tàu. Đó là nơi để các tỉnh phì nhiêu Tây Nam xứ Trung Hoa tải sản vật sang cho ta. Việc chiếm cứ xứ này là vấn đề sinh tồn cho tương lai cuộc đô hộ của ta ở Viễn Đông”. (Phan Trần Chúc: Nguyễn Tri Phương. NXB Chính Ký, Sài Gòn 1944, trang 117).

Pháp sử dụng Hòa ước 1862 như một công cụ “tàm thực” (tằm ăn dâu)thần hiệu: “….Đạo Thiên Chúa được tự do truyền giáo”.  Người Pháp và người Tây Ban Nha được quyền mở 3 hải cảng Đà Nẵng, Ba Lạt, Quảng yên và tự do đi lại buôn bán trong nước ta…” (Phan Trần Chúc, sđd, trang 87).

Năm 1871, có một thương gia người Pháp tên là Jean Dupuis đi tìm một con đường sông ở Bắc kỳ giao thông với tỉnh Vân Nam của Tàu. J. Dupuis mộ lính Tàu và tập họp một băng đầu trộm đuôi cướp về đóng tại Hà Nội.

Quan ta không có quyền đuổi họ đi, bèn tâu về triều, xin phản kháng với đô đốc thống lĩnh xứ Nam Kỳ. Nhưng Đô đốc Dupré chỉ một mực bênh vực Dupuis.

Tháng 5-1873, quan ta bắt giam đồ đảng người Nam và người Tàu của Dupuis, thì Dupuis bảo sẽ dùng vũ lực phá nhà ngục, đánh tháo cho những kẻ bị bắt giam. Dupuis lại đòi mua muối, củi để tàu của mình dùng, nhưng quan ta không chịu, khiến tình hình càng hết sức căng thẳng.

Thuở ấy, Nguyễn Tri Phương được vua Tự Đức bổ nhiệm chức Bắc Kỳ Khâm mạng tuyền sát đổng sức đại thần (Kinh lược sứ Bắc Kỳ), điều quân từ Sơn Tây về giữ thành Hà Nội.

Đáp lại thư phản kháng của triều đình Huế, soái phủ Sài Gòn còn giúp thêm cho J. Dupuis 3 vạn quan tiền.

Ngày 27-7-1873, Dupré đánh điện tín về Bộ Hải quân:

“Xứ Bắc Kỳ đã mở cửa thông thương nhờ công của Dupuis. Việc này có ảnh hưởng lớn đến thương mại của Anh, Đức, Mỹ. Ta cần phải chiếm xứ này trước, đừng để bọn giặc Tàu hay người Tây phương khác chiếm. Như thế ta sẽ đem lại cho nước Pháp một con đường buôn bán độc quyền. Tôi không xin thêm viện binh. Tôi sẽ đem quân lực sẵn có đi đánh. Sự thành công rất chắc chắn” (Phan Trần Chuc, sđd, trang 119).

Soái phủ Sài Gòn truyền lệnh cho trung tá (8) Francis Garnier mang một tiểu đội chiến thuyền ra Bắc Hà trước để điều tra vụ Dupuis, sau buộc triều đình Huế mở rộng xứ Bắc Kỳ cho người Pháp buôn bán. Ngày 17-9-1873, F.Garnier rời bến Sài gòn; và đến ngày 5-11, đem quân đến Hà Nội.

F. Garnier vừa mới gặp Nguyễn Tri Phương đã khiêu khích rất hách dịch, đòi đóng quân ngay trong hoàn thành, bắt buộc các địa phương phải để cho người Pháp thông thương trên toàn cõi Bắc Kỳ, nhưng Nguyễn Tri Phương cự tuyệt, lý do vì chưa có lệnh triều đình. Thực sự Francis Garnier khiêu khích để châm ngòi cuộc chiến tranh:

“Tôi nhất định đánh. Tôi sẽ đem 180 quân bản bộ hạ thành Hà Nội và bắt Nguyễn Tri Phương giải về Nam, làm tù binh” (Thư của Francis Garnier gởi về Soái phủ Sài Gòn cho Đô đốc Dupré ngày 10-11-1873).

Ngày 20-11-1873, đúng 6h sáng, Francis Garnier truyền lệnh hạ thành Hà Nội. Đại bác ta trên thành bắn ra không có tác dụng gì cả, đạn lướt qua đầu quân Pháp và rớt xuống cả mặt đất phía sau. Quân ta trong lúc hoảng hốt, quăng xuống vô số đá to, đá nhỏ mà chẳng trúng tên quân Pháp nào. Một đại bác của Pháp bắn vỡ cửa Đông, quân Pháp ào tới, ập vào thành. Đến 7h, cớ Pháp bay trên vọng lâu trung ương thành Hà Nội. Phò mã Nguyễn Lâm tử trận. Nguyễn Tri Phương trúng đạn bị thương nặng ở đùi, bị Francis Garnier bắt được. Francis Garnier phái các bác sĩ đến băng bó vết thương, đổ cháo và thuốc vào miệng ông để ông mau phục sức. Nhưng Nguyễn Tri Phương dứt cả băng bó, phun cháo và thuốc ra, nhất quyết tuyệt thực cho đến chết. Francis Garnier đem thông ngôn (9) đến ngồi bên giường ôn tồn an ủi. Nguyễn Tri Phương thản nhiên đáp:

“Làm tướng phải chết và chết ở trận tiền không phải là cái chết nhục nhã” (Phan Trần Chúc, sđd , trang 123).

Ngày 20-12-1873, Nguyễn Tri Phương (10) trút hơi thở cuối cùng, thọ 74 tuổi (1799-1873).

Francis Garnier lúc ấy đóng quân ở Trường Thi (11) đem toàn bộ ngôi chùa Sùng Khánh Báo Thiên Tự ở gần đó giao cho người thông ngôn của mình là Giám mục Puginier làm nhà ở và nơi làm việc tạm thời. Giám mục cho cất thêm mấy gian nhà gỗ trong khuôn viên chùa (12), còn Tòa Giám mục thì vẫn đặt tại Sở Kiện. Trong mấy năm sau đó, tình trạng này vẫn không thay đổi vì chỉ đến ngày 21-12-1873 thì Francis Garnier bị quân cờ Đen phục kích giết chết, quân Pháp rút về Nam, giao Hà Nội lại cho triều đình Huế cai quản theo Hòa ước 1874 (Giáp Tuất).

Mãi cho đến 9 năm sau, Soái phủ Sài Gòn mới cử Henri Rivìere (13) ra đánh chiếm Hà Nội lần thứ 2 (1882-Nhâm Ngọ). Lần này thì Tổng đốc Hà Ninh (14) là Hoàng Diệu (trọng trấn từ 1879) quá phẫn uất trước cảnh vua và triều đình bác nhược chủ hòa (15), không quyết tâm phòng bị, còn các quan chức kế cận mình thì hèn nhát bỏ trốn trước giờ lâm trận, thậm chí phản bội đầu hàng, cho nên sau khi viết xong tờ di biểu, ông đã treo cổ tự tử trên cây ổi ở miếu Công Thần trong Hành Cung Kính Thiên.

Sau khi chiếm được Hà Nội, Henri Rivìere sai phá hủy các cổng thành và nhiều đoạn tường thành, vần hết đại bác trên thành ném xuống hào. Các chùa miếu quanh thành đều bị phá phách, xô sập tất cả, một mặt để lấy gỗ gạch làm công sự (16), mặt khác là để thực hiện chủ trương triệt hạ nền văn hóa cổ truyền bản địa (17) và độc tôn Thiên Chúa giáo mà thực dân Pháp vẫn được Vatican tuyên dương làTrưởng Nữ của Giáo hội. Từ ấy, chùa Báo Thiên biến mất trên bản đồ Hà Nội.

Năm 1884, hàng ước Patenotre được ký kết, triều đình Nguyễn chấp nhận Pháp bảo hộ và chia Việt Nam thành 3 kỳ: Nam Kỳ là xứ thuộc địa (colonie) của Pháp, Bắc Kỳ là xứ bảo hộ (protectorat) của Pháp, Trung Kỳ được gọi là Đế chế An Nam (Empire d’An Nam)-sự thật thì cả ba kỳ đều chung một chế độ lệ thuộc. Ngay trong Đế chế An Nam thì vua mặc dù có những vị vua yêu nước, muốn khôi phục độc lập chủ quyền cho dân tộc, những cuối cùng phải bị bắt bị đày, bởi “vua thì còn đó, nước thì không”…Triều đình quan lại thì mặc dù cũng có những ông quan tận trung báo quốc nhưng bị giết bị tù bởi triều đình quan lại rút cuộc chỉ là con rối trong tay thực dân Pháp mà thôi, Giám mục Puginier mới cho xây dựng lại bằng những vật liệu kiên cố nhà thờ Lớn và các tòa nhà khác của Nhà chung rồi dời Tòa Giám mục (18) về đây.

Năm 1925, Tòa thành Vatican lập Tòa Khâm sứ Tòa thánh ở Việt Nam (Delegúe Apostolique F, Apostolic Delegate E) (19) và trụ sở ban đầu đặt tại Huế, đến năm 1951 mới dời ra Hà Nội và Tòa Khâm sứ Tòa thánh được xây dựng ngay trên khu đất phố Nhà Chung này. Đến năm 1957, sau khi Hiệp đình Genève được ký kết, đất nước Việt Nam tạm thời chia thành 2 miền tập kết quân đội, đợi ngày hiệp thương tổng tuyển cử thống nhất nước nhà. Nhưng chính quyền miền Nam nhất định không chịu hiệp thương tổng tuyển cử, Tòa thánh Vatican thì nhất quyết không thừa nhận chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên chuyển Tòa Khâm sứ tò thánh vào Nam (Sài Gòn) là nơi mà Tòa thánh công nhận là “đại diện duy nhất” (!) cho nước Việt Nam…

Lê Quang Vịnh (Nguyên Trưởng ban Tôn giáo Chính phủ)

(Còn tiếp 1 kỳ)

chua-Bao-ThienTạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 60

(Visited 213 times, 1 visits today)

Tags: , , , ,

Category: Chùa Cổ, Di sản, Lê Quang Vịnh

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *