Bạn đã chuẩn bị gì cho đời bạn?

| 05/12/2015 | 0 Comments

…Và ngẫm nghĩ | THẢO VY

ban-da-chuan-bi-gi

  1. 1. Nhà thơ Vũ Hoàng Chương sau nhiều trải nghiệm cuộc đời đã thốt lên câu “ta đã làm chi cho đời ta”. Các nhà tuyển dụng, những người tiếp xúc nhiều với các sinh viên đã tốt nghiệp, cũng thường hay đặt câu hỏi tương tự “bạn đã làm chi đời bạn?”. Có thể nói đầu ra của các trường đại học là “tổng hòa”của quá trình giáo dục và đào tạo kéo dài gần hai mươi năm, từ lúc người sinh viên còn là một em bé ba tuổi bắt đầu đi nhà trẻ cho đến lúc tốt nghiệp đại học. Biết bao nhiêu đầu tư của gia đình và xã hội đổ vào cho một sinh viên tốt nghiệp đại học. Vậy mà, câu hỏi cuối cùng là “bạn đã làm chi đời bạn?”.
  2. 2. Nếu ai để ý đến việc làm thủ tục hồ sơ thi đại học sẽ thấy các cô tú cậu tú thường hay làm sai các chỉ dẫn, vốn rất cặn kẽ, của ban tuyển sinh đại học của quốc gia. Đến một mùa tuyển sinh đại học, bộ máy truyền thông của toàn xã hội tập trung để giúp cho các thí sinh chọn được phương hướng của đời mình và để… làm cho đúng bộ hồ sơ tuyển sinh đại học. Thế nhưng đó chỉ là phần nổi lên của tảng băng giáo dục. Mặc dù đã học tập trong nhà trường phổ thông 12 năm, các cô tú cậu tú vẫn không hoàn thành một cách nghiêm túc các loại hồ sơ được yêu cầu theo đúng quy cách. Nhược điểm này không được khắc phục sau bốn năm đại học. Có nhiều hồ sơ tuyển dụng không dán hình, mặc dù có ô dán hình. Điểm tốt nghiệp không ghi, mặc dù có mục yêu cầu. Người xin việc kèm vào hồ sơ một bảng điểm, tựa như nhắc nhở rằng có thể tham khảo ở bảng điểm (nên không cần ghi vào theo yêu cầu?). Tình trạng chung là các sinh viên tốt nghiệp không quen làm việc một cách chính xác theo các tiêu chuẩn. Có thể hình dung một đoạn trả lời phỏng vấn tuyển dụng như sau:

– Sao em không ghi điểm vào trong hồ sơ?

– Em nghĩ là đã có bảng điểm rồi nên em không ghi vào hồ sơ.

– Tôi lại nghĩ rằng em không thiết tha lắm với công việc này.

– Em nghĩ việc này đâu có nghiêm trọng như vậy…

– Em cứ về nhà chờ, bao giờ có việc chúng tôi sẽ thông báo.

  1. Quả thật, ngay trong các trường đại học hiện nay, các yêu cầu đều được hiểu là phiên phiến. Điều này ảnh hưởng rất nhiều đến suy nghĩ của sinh viên. Nếu có giảng viên nào giảng dạy nghiêm túc, cho điểm đúng chuẩn (giống như kỳ thi đại học) thì thường bị sinh viên cho là khó khăn. Thậm chí có thể bị xem là có ý xấu với sinh viên và bị sinh viên xúc phạm (như vụ tạt a-xít thầy giáo vừa qua). Một nhóm sinh viên giỏi của Việt Nam được sang Nhật làm việc. Những sinh viên này làm các test của công ty Nhật và bị điểm thấp. Họ cho rằng người Nhật quá khó, chú ý vào những chi tiết nhỏ nhặt. Trong khi người Nhật lại cho rằng những sinh viên này làm các bài test quá ẩu và phàn nàn với đối tác Việt Nam. Việc không làm việc theo tiêu chuẩn có thể thấy được ở nhiều dạng khác nhau. Một trong các dạng đó là cũng thực hiện các yêu cầu nhưng sai thứ tự. Chẳng hạn trong một hồ sơ yêu cầu ghi những nơi làm việc từ nơi mới nhất đến cũ hơn. Có nhiều sinh viên…hồn nhiên ghi theo đúng thứ tự việc làm năm 2008 rồi đến việc làm năm 2009, trong khi theo đúng yêu cầu phải ghi việc năm 2009 trước rồi mới đến năm 2008.
  2. Một việc cũng hay xảy ra là các hoạt động của sinh viên thường chỉ ghi các chi tiết trong hồ sơ mà không có các giấy tờ minh chứng. Sinh viên có thể ghi mình đã tham gia Mùa hè xanh nhưng không có giấy tờ gì chứng minh, cũng không ghi rõ là tham gia Mùa hè xanh năm nào, 2007 hay 2008, ở nơi nào…Tương tự cho các chi tiết khác, sinh viên có thể ghi mình có bằng C Anh văn nhưng không có bản sao văn bằng hay không biết học ở đâu. Có nhiều sinh viên ghi những chỗ làm việc đã trải qua thiếu trước hụt sau. Có sinh viên thì thiếu tên công ty, có sinh viên thì thiếu địa chỉ, có sinh viên thì thiếu thời gian làm việc từ khoảng nào đến khoảng nào. Nói chung, sinh viên không quen việc phải ghi các thông tin theo tiêu chuẩn SW1H (what, when, where, who, why, how) mà chỉ quen nói chung chung. Trong một buổi học về kỹ năng làm việc nhóm, trả lời câu hỏi về các bước “hình thành nhóm”cần phải làm gì trước? Các sinh viên đã trả lời một cách cao siêu là “viết cương lĩnh của nhóm”. Giảng viên hỏi lại rằng: “giả định là các bạn đã có cương lĩnh thì các bạn làm sao gặp nhau để thảo luận cương lĩnh đó?”. Tới khi đó, sinh viên mới nghĩ ra được việc trước mắt là thiết lập phương thức truyền đạt thông tin. Tại sao sau 20 năm đi học miệt mài, các suy nghĩ thực tiễn đơn giản và kỹ năng cơ bản SW1H của sinh viên vẫn chưa có?
  3. Rất nhiều sinh viên khi được hỏi tới kinh nghiệm làm việc thì trả lời là chưa có. Khi hỏi có đi làm thêm, học thêm gì không thì trả lời không. Các mục về hoạt động xã hội cũng trống rỗng. Các sinh viên ấy chỉ đi học theo tiến độ của trường đại học, cho học môn gì thì học môn nấy, tựa như là lục bình trôi trên sông Cửu Long. Một sinh viên giỏi vừa tốt nghiệp xin một giảng viên giấy giới thiệu để đi học nước ngoài. Giảng viên yêu cầu sinh viên đưa CV (Curriculum Vitae, phiếu ghi lý lịch ngắn gọn nộp khi xin việc hoặc ứng tuyển vào một vị trí nào đó) để ông tham khảo. Câu hỏi đặt ra của sinh viên ấy là: “CV là gì hả thầy”. Những nhà tuyển dụng không biết sẽ phản ứng như thế nào nếu được nghe câu hỏi này? Mười hai năm học chương trình phổ thông theo kiểu “thầy giao gì trò làm nấy, không giao không làm”ảnh hưởng sâu đậm đến tư duy của các sinh viên. Đưa ra vấn đề là chuyện của thầy giáo, giải quyết vấn đề là theo yêu cầu của thầy giáo. Đạt các yêu cầu đó là có bằng đại học. Đó là kiểu học trò cấp 4. Bao giờ sinh viên mới có thể đặt ra các vấn đề của mình và giải quyết vấn đề theo yêu cầu của mình? Nhà trường phổ thông làm sao dạy được điều ấy?
  4.  Gần đây, trên các phương tiện truyền thông thường hay nói tới các “kỹ năng mềm”. Phản ứng đầu tiên của rất nhiều sinh viên là tìm chỗ dạy các môn đó, phản ứng khác là hỏi xem có các cuốn sách nào dạy về kỹ năng mềm hay không? Các phản ứng đó hoàn toàn giống phản ứng của các em học sinh tìm thấy để học thêm về các môn đó. Phản ứng của các sinh viên là phản ứng quen thuộc trong thế giới của thị trường tiêu thụ ngày nay.

Khi có một vấn đề cần giải quyết, người ta luôn tìm ở đâu đó một gói các công cụ có thể giải quyết toàn vẹn vấn đề. Người ta chỉ cần bỏ tiền mua về là xong. Việc phải tự học, phải đầu tư nghiên cứu các vấn đề đó không được đặt ra. Điều này cũng giống như học sinh phổ thông, đối với các em, các bài tập đều có lời giải, chỉ cần tìm đúng người là sẽ có lời giải đáp.

7. Lời giảng dạy phổ thông hiện nay cũng làm cho học trò không tự định hướng được. Học sinh học môn A, môn B theo chương trình chặt chẽ định sẵn. Câu hỏi “học cái đó để làm gì” ít được đặt ra. Sinh viên đem quán tính học đó lên đại học. Một sinh viên hỏi giảng viên để tư vấn về việc học:

– em có nên học môn (tự chọn) X, môn (tự chọn) Y hay không?

– em muốn ra trường làm gì?

– …(lúng túng) em cũng chưa biết nữa.

– Vậy làm sao tôi có thể tư vấn cho em chọn môn nào?

  1. “Ra trường làm gì?”là câu hỏi mà sinh viên của bất kỳ trường đại học nào cũng đặt ra. Theo nguyên tắc quản lý 3D, nếu việc nào không quan trọng thì không làm (Delete). Nếu việc nào phải làm thì xem xét xem có thể ủy nhiệm (Delegate) được hay không? Nếu không thể ủy nhiệm được thì phải làm (Do). Câu hỏi ra trường làm gì thì không thể Delete được. Sinh viên vào năm thứ nhất đã đặt câu hỏi này, cho đến năm thứ tư vẫn tiếp tục đặt câu hỏi này. Tuy vậy, sinh viên vẫn không tự mình đứng ra xắn tay áo giải quyết. Thông thường họ thường Delegate cho trường đại học làm nhiệm vụ đó. Nếu trường đại học giải quyết đến nơi đến chốn thì họ được nhờ, nếu trường đại học cũng lơ là thì sinh viên đổ lỗi cho trường đại học. Bao giờ thì trường phổ thông cũng như trường đại học có thể đào tạo ra những sinh viên tự đảm nhận lấy công việc của đời mình?
  2. Bên cạnh đó là câu hỏi “chế độ đãi ngộ”. Cầm tấm bằng giỏi trong tay, nhiều sinh viên tưởng rằng thế là đủ để các công ty, các cơ quan phải rộng mở cửa, trải thảm đỏ để đưa họ vào mà “đãi ngộ”. Nhiều sinh viên nghĩ rằng khi được hỏi về chế độ lương phải nói giá cao vì sợ nói lương thấp thì sẽ bị đánh giá thấp. Ít người tự đặt ra câu hỏi (và tự trả lời) rằng “mình sẽ đem lại lợi ích gì cho công ty và lợi ích đó sẽ thể hiện cụ thể bằng gì?”.
  3. Các vấn đề nêu ra được gọi theo nghĩa thông dụng hiện nay là “kỹ năng mềm”. Rất đáng tiếc là cho tới hiện nay thì các vấn đề này vẫn chưa được quan tâm. Cổ xe giáo dục và đào tạo vẫn đi theo quán tính của nó. Hàng ngàn tỉ đồng được đổ vào cho chương trình dạy tiếng Anh cho trẻ em từ cấp 1, còn một chương trình quốc gia cho các kỹ năng thực tiễn vẫn chưa được nói tới. Theo quán tính của tư duy “trọn gói”, các cơ sở liên kết với các trường đại học nước ngoài được mở ra nhằm cải thiện nền đại học theo “gói”của nước ngoài. Còn nền giáo dục phổ thông và “máy cái”của nó là các trường Đại học Sư phạm vẫn chưa có gì biến chuyển. Việt Nam cần “gói kích cầu”gì để cải thiện tình hình giáo dục của mình?■

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 93

(Visited 209 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Cuộc sống, Thảo Vy

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *