Nghệ thuật và cuộc sống

| 14/08/2013 | 0 Comments

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 35 THÁI TUẤN

nghe-thuat-va-cuoc-song

Trong sinh hoạt xã hội ngoài công việc mưu tìm những tiện nghi thiết thực cho cuộc sống của thể xác, con người còn cố gắng vươn tới những mưu tìm khác hơn để thỏa mãn đòi hỏi của tinh thần.

Chính những cố gắng đó đã đưa con người tới địa hạt văn chương và nghệ thuật.

Biết bao nhiêu lần người ta đã đặt ra những câu hỏi: Nghệ thuật có thật sự cần thiết cho đời sống chăng? Mối tương quan của nó đối với cuộc sống ra sao? Ví thử phút chốc bao nhiêu công trình nghệ thuật đều biến mất thì sẽ ảnh hưởng gì  đối với đời sống chúng ta?

Câu hỏi đặt ra như vậy cũng đủ chứng tỏ sự quan tâm đến vấn đề. Nhưng câu giải đáp luôn luôn là một cố gắng đào sâu và tìm hiểu. Sự hiện diện của nghệ thuật trong đời sống hàng ngày đã tự nó nói lên đầy đủ ý nghĩa cho sự có mặt của nó.

Xét về mặt tác dụng của nghệ thuật  trong đời sống xã hội, tất nhiên còn tùy theo khía cạnh khác nhau, và  tùy từng bộ môn khác biệt.

Nói chung thì nghệ thuật vốn có nhiều tác dụng trong sinh hoạt xã hội.

Nó diễn tả và giải thích cuộc sống, nó ghi lại bằng cách phản  ảnh cuộc sống và đồng thời hy vọng khám phá được những chân lý cuộc sống, tìm hiểu ý nghĩa và làm giàu cho cuộc sống.

Nghệ thuật vốn vẫn được coi như có nhiều tính chất khác biệt với khoa học, bởi thành kiến cho rằng sinh hoạt nghệ thuật là những hoạt động thuộc về cảm xúc liên hệ chặt chẽ đến các giác quan. Trái lại, sinh hoạt khoa học thiên về trí óc nên căn bản là lý trí.

Thành kiến đó ngày nay không còn đứng vững do những khám phá mới mẻ nhất, người ta bắt đầu nhận thấy sáng tác nghệ thuật luôn luôn bắt nguồn từ con người toàn diện.

Tác phẩm hội họa, âm nhạc hay điêu khắc, kiến trúc đều liên quan và đòi hỏi sự tham dự của toàn thể khả năng con người, ý chí, tình cảm, kiến thức, bản năng. Ở địa hạt khoa học, các khoa học gia đôi khi nhờ ở trực giác, ở cảm xúc trong những công cuộc tìm kiếm về khoa học.

Thời đại của chúng ta có thể tự hào đã có những nhận định rõ ràng về nghệ thuật, không còn là một sinh hoạt thứ yếu trong đời sống.

Trái lại, nó là một phương cách căn bản để chúng ta tự đảm đương lấy số phận của mình.

Từ thế kỷ trước, dư luận chung vẫn thường quan niệm những bức họa và những pho tượng chỉ là những thứ đồ trang trí phù phiếm cho đời sống. Nhưng thục sự thì càng ngày người ta càng nhận thấy giá trị về tinh thần của những tác phẩm nghệ thuật.

Đứng về  mặt nhu cầu vật chất, người ta cũng có thể lập luận rằng trong một thế giới mà 2/3 dân số còn đói ăn; nhân loại đang trong tình trạng đe dọa bị tiêu hao lần lần thì những “giải quyết” của nghệ thuật chỉ nên coi như bất lực.

Nhưng dù sao đi  nữa, thì giá trị thật sự mà nghệ thuật đã đem lại không còn cho phép người ta coi nó như một trò giải trí suông.

Song lẽ, một bức họa nếu không còn bị coi như một món đồ trang trí thì nhiều người lại cho rằng nghệ thuật chỉ có mục đích duy nhất là sự tìm hiểu, và nghệ thuật bỗng trở thành một khoa học  để nghiên cứu về tâm lý, về lịch sử, địa dư, về sinh hoạt xã hội.

Xét trên một quan điểm rộng rãi hơn, và nhất là khi  đã công nhận nghệ thuật có nhiều tác dụng trong đời sống thì quả thật nghệ thuật  là một phần toàn vẹn của cuộc sống.

Và bởi vậy, nhiều nhà nghệ thuật lưu ý mọi người đừng nhầm lẫn tác dụng chính của nghệ thuật thì nhận định nghệ thuật có chứa chấp nhiều tính chất của khoa học.

Louis Hourticq, trước những bức cổ họa d` Altamita đã nhận thấy sự chính xác của các hình vẽ, sự đúng đắn của công việc quan sát nên đã kết luận: “có những thắc mắc băn khoăn của một trí thức để nắm vững sự thực qua cái hình dáng bên ngoài” và ông nói thêm: tôi cho đó là quan niệm căn bản của nghệ thuật tạo hình Âu châu; nó nói lên sự hiếu kỳ  trí thức và sẽ dẫn dắt nghệ sĩ tới địa hạt hình học máy móc, thân thể hình học và tâm lý học.

Thực vậy, người họa sĩ không sáng tác với sự suy tưởng suông mà còn phải nhờ đến bàn tay để tạo ra tác phẩm. Trí óc có minh mẫn đến đâu, rung cảm có bén nhạy bao nhiêu đi nữa  thì người họa sĩ cũng cần đến vật liệu và một phương pháp để thực hiện. Một kiến trúc sư đồng thời cũng là một người thợ và một nhà trắc địa nữa.

Sự chính xác của những pho tượng thời cổ Hy Lạp cho thấy rằng những nhà điêu khắc thời đó đã nắm được tuyệt đỉnh của môn thân thể học.

Chính Taine, tác giả của cuốn Triết học về nghệ thuật đã phải kinh ngạc khi nhận thấy có nhiều trùng hợp giữa một ấn tượng nghệ thuật và một khám phá về khoa học.

Xét theo khía cạnh mà nghệ thuật ghi lại và phản ảnh sinh hoạt xã hội, các nhà làm lịch sử cho rằng: nghệ thuật của bất cứ thời đại nào trong bất cứ  một nền văn hóa nào  đều mang theo  nhiều dấu vết của thời đại ấy và nền văn hóa ấy.

Trong thời đại phôi thai nhất, ở thời đại mệnh danh là thạch khí, con người cũng để lại những bức vẽ trên vách đá và cả những công trình điêu khắc nữa.

Tất cả những công trình đó mô tả cho chúng ta rõ trong sự sinh hoạt trong thời kỳ sơ khởi của nền văn minh nhân loại.

Những nhà nghiên cứu, những sử gia đã phải căn cứ vào những di tích đó mới có thể xây dựng lại  sự tiến triển của loài người.

Họ đã tìm được những gì trong các công trình nghệ thuật đó?

Trước hết là những sinh nhoạt thuờng ngày như công việc săn bắn, đồng áng, chài lưới, qua những sinh hoạt cụ thể đó còn tìm thấy những ý nghĩ về sự sống chết về những niềm tin tưởng, cũng như những nỗi lo lắng vui buồn của con người cổ sơ.

Và cũng như sau này các nhà làm sử tương lai sẽ nhìn lại thế kỷ của chúng ta qua những tác phẩm nghệ thuật; Họ sẽ tìm thấy những băn khoăn của chúng ta về thời gian và tốc độ, những xung độ liên tục giữa các tư tưởng, những khát vọng về tình thương cũng như những nhu cầu về đời sống, về những cuộc chiến tranh và những ngày tháng hòa bình.

Về một mặt khác, nghệ thuật giải thích và hy vọng khám chân lý trong cuộc sống.

Tuy không cùng một phương tiện như triết học, song nghệ thuật trong phạm vi phương tiện riêng biệt và độc đáo của mình cũng mong đạt tới địa hạt siêu hình để làm sáng tỏ một phần nào những chân lý của cuộc sống.

Song, những chân lý do nghệ thuật trình bày không có tính chất khái niệm hoặc đề nghị.

Bởi vì ở đây những chân lý của nó không phải là  một thứ chân lý  thực nghiệm và những đề nghị của nó cũng không phải là những đề nghị của luận lý diễn dịch.

Hình thức trhìn bày của nó là tượng trưng và gián tiếp. Nghệ thuật không hề đi đến kết luận để tổng quát hóa bởi nó chú trọng vào việc đào sâu từng cá nhân, từng phần tử với sự diễn tiến bằng biểu tượng.

Hơn nũa ngày nay không còn ai phủ nhận tính chất chủ quan của nghệ thhuat65.

Nó có thể mang một vẻ khách quan do những lý do nào đó, song chẳng bao giờ cố gắng để trở thành khách quan.

Có tác phầm nghệ thuật nào mà chẳng thể hiện qua cái nhìncá nhân riêng biệt của người nghệ sĩ. Vã lại người thưởng ngoạn luôn luôn đòi hỏi sự độc đáo và cá tính của tác giả trong nghệ phẩm. Chính sự đòi hỏi màu sắc của một cá tính dân tộc trong họa phẩm cũng là một chủ quan.

Đó cũng chính là chất riêng biệt của từng xã hội. Mặc dù các xã hội có thể có những tổ chức, những dụng cụ và những phương tiện mưu sống như nhau.

Như vậy nghệ thuật còn làm sáng tỏ kinh nghiệm và còn giúp những tương quan căn bản được rõ rệt thêm.

Ngày nay sống trong một nền văn minh phức tạp, những nhu cầu vật chất gia tăng đến mức độ gần như trói hãm con người trong phạm vi những đồ vật do chính mình tạo ra. Và bởi vậy, con người cũng thường lãng quên mục tiêu và lý do tồn tại của mình.

Nghệ thuật mọtột mặt ghi lại những sự kiện vật lý của sinh mạng, nhưng còn có ước vọng làm sáng tỏ những sự kiện của khía cạnh siêu hình của con người và của vũ trụ cho rằng: nghệ thuật là một con đường tìm tới chân lý, là một ý kiến không thực tế, bởi vì kinh nghiệm đã cho chúng ta thấy rằng: tất cả mọi ngành khoa học đều bất lực trong công việc giải đáp những ý nghĩa của cuộc sống, của sự chết cũng như những bí ẩn của vũ trụ hoặc của định mệnh.

Nhưng dù nghệ thuật có thể giải đáp bằng cách chứng minh về những điều đó. Thì lúc đó vai trò của nó sẽ quan trọng và sẽ không còn tồn tại sau khi đã giải quyết  xong những bí ẩn cuộc đời.

Nếu nó mà thành công thì không còn gì đáng nói. Nó là số phận chung của tất cả những giải pháp chỉ nhằm giải quyết mọi vấn đề.

Thật ra vai trò của nghệ thuật không phải cốt để thay thế hay phụ lực cho các khoa học thực tiễn khác để giải quyết nhu cầu cơm áo cho nhân loại. Cũng không phải nghệ thuật sẽ thay thế cho y học để xoa dịu những bộ óc đau yếu và những trái tim tan vỡ. Nó cũng chẳng phải là một phương thức chính trị để có thể hướng dẫn con người đến một xã hội lý tưởng.

Đôi lúc ở một khía cạnh nào đó, người ta nhận thấy nghệ thuật nhằm một mục đích giải trí và có vẻ ly khai với việc tìm kiếm chân lý tận thiện, tận mỹ. Song lẽ không chỉ vì thế mà kết luận vội rằng: nghệ thuật thu hẹp trong phạm vi một trò chơi giải trí.

Tất cả tác dụng của nghệ thuật đối với cuộc sống mà mỗi người nhìn thấy một khía cạnh nào đó của nó chỉ là một đa năng của nghệ thuật.

Có lẽ vì quá tha thiết và sốt sắng trong công việc phụng sự cho đời sống, nghệ thuật đã có tham vọng vươn tới quá nhiều mục đích con người đã phải khó khăn vất vả trong lúc đi tìm kiếm mục đích thật sự của nó.

Nụ cười bí ẩn của la Joconde thật đã chứa chấp ít nhiều ý nghĩa  nhưng rồi người ta cũng chẳng bao giờ tìm thấy được một ý nghĩa thật sự của nó.

Phải chăng ngay chính bộ mặt bí ẩn mà nghệ thuật thường phô diễn là một tiềm năng vô biên, một uy quyền không cần  tới sự chứng minh, một niềm vui không cần tới duyên cớ.

Thực vậy, cái chân lý tận thiện, tận mỹ chứa chấp trong nghệ thuật không hề nài xin lòng tin của người thưởng ngoạn. Và bởi vậy không phô bày thuyết pháp chứng minh.

Nghệ thuật không hề săn đón, chào mời, khẩn cầu hay tìm kiếm một giai cấp riêng biệt nào trong xã hội. Nhưng bao giờ nghệ thuật cũng sẵn sàng chờ đón niềm nỡ tất cả mọi người tìm tới nó.

Trong phạm vi nghệ thuật, danh từ giai cấp đã bị thủ tiêu. Tính chất nghệ thuật của những bức họa không hề thay đổi trước cái nhìn của một ông chủ hãng hay một kẻ làm công.

Sự bất bình đẳng đối với nghệ thuật có thể xảy ra, nhưng chỉ xảy ra ở phía người thưởng ngoạn, không phải do ở phía tác phẩm. Đứng trên lập trường chính trị, có người đã kết án nghệ thuật chỉ nhằm phục vụ cho một thiểu số trí thức và tư bản. Người ta kêu gào, đòi hỏi nghệ thuật phải làm cách nào phục vụ cho giai cấp đồng đảo nhất trong nhân dân.

Dĩ nhiên bao giờ nghệ thuật cũng không quên điều đó, nhưng nếu có hỏi rằng: vậy thì quần chúng là ai? Câu trả lời khó có thể dứt khoát.

Bởi vì cứ theo cái chủ nghĩa phân chia giai cấp và thành phần như vậy, người ta sẽ đi tới kết luận khá ngộ nghĩnh vì sẽ nhận thấy sự phân chia quả là giả tạo.

Sự giả tạo nằm ngay trong sự không đồng đều và vô tích sự của sự phân chia.

Sự thưởng ngoạn không liên quan gì đến nghề nghiệp và nghệ thuật thường đến với từng cá nhân riêng rẽ.

Đứng trước một họa phẩm, có thể là một lão già, một người trẻ trung, một người vui vẻ, một người đang buồn phiền, có thể đó là một người phụ nữ, một người ở tôn giáo này hay tôn giáo khác.

Nếu sự phân chia tiếp tục thì chúng ta sẽ nhận thấy kết quả cuối cùng chỉ còn có là từng cá nhân riêng rẽ đứng trước một tác phẩm nghệ thuật.

Không thể nào có những xúc cảm tập thể cũng như một nguồn mỹ cảm cộng đồng dù là trong phạm vi nghể nghiệp, tôn giáo hay chính trị. Hình thức thưởng ngoạn và những thái độ thưởng ngoạn đó dù có xảy ra chăng nữa thì cũng là gán ép giả tạo, mang theo những tính chất chủ quan không thuộc phạm vi giám định nghệ thuật, và sự phê phán tất nhiên sẽ lệch lạc với bộ mặt độc đoán vì nó chủ mưu trong những hữu ích cụ thể và phàm tục.

Sự thưởng ngoạn chủ quan chỉ có thể chấp nhận, như một đòi hỏi của  từng cá nhân, hoặc từng sở thích  riêng biệt của từng thời đại.

Song lẽ tác phẩm nghệ thuật chỉ có được đầy đủ giá trị nghệ thuật của nó khi đã đạt đến  những đỉnh cao vút của nhân loại. ở đó yếu tố thời gian và không gian không còn là những hạn chế chật hẹp.

Người ta có thể nhìn ngắm thích thú một pho tượng cổ Hy Lạp như có thể say mê  một công trình điêu khắc của Rodin.

Một bức họa đời Đường với một tác phẩm của sơn dầu hiện đại cũng sẽ làm cho người ta nhận được một giá trị nghệ thuật duy nhất.

Và người thưởng ngoạn ở mọi giai cấp sẽ rất khó bằng lòng bất đồng ý kiến trong chênh lệch ý thức hoặc nghề nghiệp mà cũng sẽ thông cảm đồng ý trên bình diện của một lương tri thẩm mỹ hay đơn giản hơn là trên bình diện tình cảm của con người nói chung.

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 35 THÁI TUẤN

(Visited 414 times, 1 visits today)

Tags:

Category: Cuộc sống

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *