Niềm vui 3 trong 1

| 26/10/2013 | 0 Comments

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 41 | THẢO VY

niem-vui-3trong-1Tục ngữ của Việt Nam có câu: “Thương người như thể thương thân”. Câu tục ngữ ấy khẳng định một điều hiển nhiên: mọi người đều thương thân mình nhất. Điều kỳ lạ là sự kiện hiển nhiên này lại bị che lắp khi mọi chủ thuyết hay nói tới sự cao cả của việc “vì mọi người” chung chung. Khi nói tới vấn đề này, ta có câu trả lời dứt khoát:

Tâm ta đi cùng khắp
Cũng không tìm thấy được
Ai thân hơn tự ngã.

Cũng chính vì thế, khi nói tới vấn đề lợi ích, Phật giáo nói tới: “lợi mình” rồi mới “lợi người, lợi cả hai”. Đức Dalai Lama cũng nói: “Tôi chỉ săn sóc bản thân, chỉ quan tâm đến chính mình mà thôi” (Nghệ thuật hạnh phúc trong công việc, Howard C. Cutler, Khánh Vân dịch, NXB Thanh Niên, 2006). Tuy nhiên, “săn sóc bản thân” theo cách nào đó lại là vấn đề mà Đức Dalai Lama phải dùng cả cuộc đời mình để thể nghiệm.

Mặc dù không nói công khai là “thương mình” nhất, mặc dù luôn nói rằng “phải vì mọi người” nhưng tất cả các hành vi trong cộng đồng của mọi người đều bị ảnh hưởng vì sự “thương mình”. Nếu “mình” bị xúc phạm, bị đối xử bất công, nếu có người nổi bật hơn “mình”, cạnh tranh với “mình” sẽ phản ứng quyết liệt. Đức Dalai Lama nói tới một trong những yếu tố gây chán nản trong công việc là sự ganh tị, thù hận trong công sở. Sự xuất hiện các tâm trạng tiêu cực ấy làm cho “mình” khổ sở, thậm chí bệnh tật. Vì thế mà ta có câu:

Nếu như ai biết được
Tự ngã là thân ái,
Họ sẽ không liên hệ,
Với các điều ác hạnh.

Sự xuất hiện tâm trạng tiêu cực hành hạ “mình” còn hơn là người đáng ghét hành hạ mình. Người đáng ghét hành hạ “mình chỉ có một khoảng thời gian ngắn trong ngày, còn những hành động cử chỉ của người đó được “mình” nung nấu liên tục, không có dừng nghỉ, kể cả trong mơ. Việc suy ngẫm sâu sắc về các bất lợi của tâm trạng tiêu cực đó có thể giúp chúng ta thay đổi cách nhìn, và nhờ đó ta sẽ có sự thoải mái khi làm việc.

Tương tự như thế, suy ngẫm về quá khứ Nhật Bản, ông Honda Soichiro – một biểu tượng của sự thần kỳ Nhật Bản, tác giả của chiếc xe “mơ ước” Dream – đánh giá về thời Tokugawa (Biến giấc mơ thành sức mạnh đi tới, Nguyễn Trí Dũng dịch, NXB Văn Hóa Sài Gòn năm 2006): “Thái độ chung của nhân viên là đặc biệt quan tâm đến việc phục tùng mệnh lệnh và việc thăng quan tiến chức, cư sử đối với người trong cùng bè nhóm thì rất tốt, nhưng đối với người khác hệ thì thiếu sự hợp tác và có biểu hiện sự cạnh tranh không lành mạnh, tìm cách triệt hạ những cái hay, cái tốt của nhau. Hiện tượng khá phổ biến là khi tuổi đời còn trẻ, lẽ ra phải phát triển lành mạnh thì họ lại phí phạm năng lượng vào những việc như vậy và khi đến tuổi tráng niên thì chỉ còn một chút năng lượng để sống. Họ đã dùng tâm trí của mình liên tục đấu tranh với những đồng nghiệp trong công ty qua các cấp khác nhau mà quên đi mục tiêu lớn hơn, đó là sản xuất ra sản phẩm đủ sức cạnh tranh với thế giới. Tóm lại, trí tuệ ưu việt của cả dân tộc đã không được phát huy”. Đó là sự “thương thân mình” không đúng.

Con người ta muốn “thương lấy thân mình” thì phải học hỏi. Sự học hỏi đó phải dựa trên cơ sở nhận thức đúng đắn về lợi ích của mình, của người khác. Đức Phật nói:

Tự ngã đối mọi người,
Quá thân ái như vậy.
Vậy ai yêu tự ngã
Chớ hại tự ngã người.

Định luật phản lực của Newton khẳng định rằng, khi ta tác dụng vào một vật thì vật đó sẽ tác dụng lại một lực bằng với tác dụng ban đầu. Tuy nhiên, trong đời sống xã hội, định luật phản lực không đơn giản như vậy. Nó không đơn giản chỉ là phản lực ngang bằng theo kiểu “mắt đèn mắt, răng đèn răng”. Nếu ta xúc phạm người khác một thì phản ứng ngược lại của họ có thể mãnh liệt tới mười. Và khi đó, ta lãnh đủ cái “phản lực” khủng khiếp của hành vi ta làm. Vì thế, nếu biết “thương lấy thân mình” thì chớ nên hại người khác.

Ông Honda, dưới góc độ của một nhà kinh doanh, giải thích về việc chăm sóc bản thân: “Trước hết, bạn hãy làm việc vì bản thân mình. Nếu bạn làm việc chăm chỉ thì công ty sẽ có lợi ích và sẽ phát triển. Nhưng nếu chỉ có công ty phát triển, còn bản thân mình phải chịu thiệt thòi thì chưa được… khi bạn nói mình làm việc vì bản thân đó là bạn đã trung thực với chính mình. Suy nghĩ như thế có vẻ thiên về chủ nghĩa cá nhân không hẳn như vậy. Con người có tâm lý rất đặc biệt, nếu không được người khác nghĩ tốt về mình thì bản thân cũng không cảm thấy vui vẻ, hạnh phúc. Nắm vững thực tế này, chúng ta phải nỗ lực làm việc để được người khác khen tặng một cách xứng đáng chứ chỉ tự nghĩ là mình tốt thì chẳng có ý nghĩa gì”.

Howard C.Cutler (sđd) nói đến ba nhóm quan điểm về công việc. Nhóm thứ nhất, xem công việc như một phương tiện để kiếm tiền. Tiền lương trở thành thước đo cho thái độ làm việc. Công việc = Tiền bạc. Nếu lương thấp, công việc sẽ trở một cực hình. Nếu có chỗ lương cao hơn họ sẽ nhanh chóng đổi chỗ làm. Nhóm thứ hai, xem công việc như là sự nghiệp của bản thân. Công việc = Cuộc đời. Đối với họ, công việc đang làm là một công việc cao quý, nếu có ai không xem trọng công việc đó, họ cảm thấy phiền lòng. Khả năng chuyên môn, sự đánh giá cao của đồng nghiệp, xã hội là những điều cực kỳ quan trọng. Nếu phải rời khỏi công việc do sức khỏe, tuổi tác hay do bị bổ nhiệm vị trí khác, những người này thường hay bị rơi vào sự hụt hẫng, có khi đau khổ. Nhiều quan chức về hưu đã thể nghiệm tình trạng này. Nhóm cuối cùng, coi công việc chỉ như một ngành nghề. Họ thấy rằng cuộc đời rộng lớn. Những người trong nhóm này thường làm việc với một mục đích cao hơn, đó là mục đích góp phần vào việc giúp ích cho cuộc đời. Họ có thể làm việc ngay cả khi mức lương không cao hay công công việc đó không được đánh giá cao. Các nghiên cứu khoa học cho thấy: “Cảm giác thỏa mãn trong công việc và trong cuộc sống có thể tùy thuộc nhiều hơn vào cách người làm việc nhìn vào công việc hơn là nhìn vào mức thu nhập hoặc uy thế trong nghề nghiệp” (sđd) Đó là sự làm việc vì bản thân đúng đắn.

Đọc quyển sách của Honda Soichiro, chúng ta thấy trong đó sự cổ vũ niềm vui trong công việc hiểu rõ vai trò quan trọng của việc mỗi người đều làm việc vì bản thân, ông Honda viết: “Vai trò người quản lý là phải nhanh chóng nắm bắt được sở trường của cấp dưới, động viên, bồi dưỡng, bố trí sử dụng đúng người, đúng việc. Làm như vậy, cho dù là đá hay kim cương đều trở thành ngọc quý. Một doanh nghiệp như con thuyền, người trên thuyền như ngọc quý, người cầm lái, người chèo thuyền, thuận buồm xuôi gió, giữa đại dương rộng lớn mọi người đoàn kết một lòng hướng tới một mục đích”.

Vậy thì, người chế tạo cũng như người kinh doanh phải “săn sóc mình”, tạo ra niềm vui cho mình như thế nào? Bằng trực giác của mình, ông Honda đã nói tới một mục đích cao hơn nằm đằng sau công việc chế tạo và kinh doanh máy móc. Ông đề cập đến ba niềm vui trong sản xuất kinh doanh. Ba niềm vui đó là: niềm vui chế tạo, niềm vui bán hàng, niềm vui mua hàng. Ta có thể gọi đó là “niềm vui 3 trong 1”. Ông viết: “Thứ nhất là niềm vui chế tạo. Người kỹ sư với những ý tưởng sáng tạo độc đáo của riêng mình khi chế tạo ra những sản phẩm cống hiến cho xã hội thì khó có gì có thể thay thế niềm vui này. Hơn nữa, nếu đây là sản phẩm ưu việt được xã hội hoan nghênh thì người kỹ sư sẽ có niềm vui to lớn không có gì có thể so sánh được.

Niềm vui thứ hai là niềm vui của người bán hàng. Chúng tôi là công ty sản xuất. Sản phẩm do chúng tôi làm ra được trao đến tận tay người tiêu dùng là nhờ vào nỗ lực cộng tác của từng đại lý bán sỉ, cũng như các cửa hàng bán lẻ. Trong hệ thống phân phối như vậy, khi sản phẩm có chất lượng, chức năng ưu việt mà giá lại rẻ, không cần phải nói ai cũng biết những người tận tụy với công tác bán hàng sẽ có niềm vui như thế nào. Sản phẩm tốt, giá rẻ thì chắc chắn sẽ được khách hàng đón nhận. Bán được nhiều sản phẩm, người bán hàng không chỉ có thêm nhiều lợi nhuận mà còn có niềm vui, sự hãnh diện khi kinh doanh sản phẩm đó. Nhà sản xuất chế tạo ra sản phẩm không làm cho người bán hàng thực sự vui vẻ hài lòng thì không đủ tư cách là nhà sản xuất đúng nghĩa.

Niềm vui thứ ba là niềm vui của người mua hàng. Niềm vui khi họ thốt lên: “Mua sản phẩm này thật là hay quá!” là vương niệm đặt lên trên mọi giá trị của sản phẩm. Tôi vẫn chủ trương, tự thân giá trị của sản phẩm sẽ quảng cáo cho chính công ty. Tuy không nói ra nhưng tôi tự hào rằng mình đã đem lại niềm vui cho những người đã mua sản phẩm của chúng tôi”.

Quan điểm về “niềm vui 3 trong 1” của ông Honda quả thực là niềm vui lợi mình, lợi người. Theo ông, đó cũng chính là thước đo đánh giá nhân cách của một nhà kỹ thuật. Ông viết: “Thông thường khi đánh giá: “Đây là người có nhân cách”, có nghĩa đó là người không làm điều bất chính, làm việc tốt, đứng đắn, so sánh với những người xung quanh thì không có sai lầm, là người tốt”. Ông gọi đó là quan niệm nhân cách giống như đối với nhà đạo sư hay tu sĩ… Điều này cũng cần xem như là một tiếng chuông cảnh tỉnh của ông Honda cho các nhà đạo đức, cho những người tự xem mình là chuẩn mực của xã hội. Theo ông, định nghĩa  đó không thể đem ra áp dụng đối với nhà kỹ thuật bởi vì “Một người lương thiện, trung thực, đúng đắn đến đâu đi nữa, nếu không làm ra những sản phẩm ưu tú hoàn hảo, thì xét trên cương vị nhà kỹ thuật, đây không thể là người có nhân cách được” và bởi vì “Nhà kỹ thuật làm ra sản phẩm chất lượng kém, không sử dụng được thì dứt khoát không thể được xem là người có nhân cách tốt được”. Chẳng lẽ chỉ có nhà kỹ thuật mới được xét đoán theo tiêu chuẩn này?.

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 41 | THẢO VY

(Visited 127 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Cuộc sống, Thảo Vy

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *