Dấu ấn Phật giáo trên những nẻo đường Trung Hoa – hang động Mạc Cao

| 28/03/2012 | 2 Comments

DẤU ẤN PHẬT GIÁO 
TRÊN NHỮNG NẺO ĐƯỜNG TRUNG HOA
(Kỳ 2)
Trần Đức Tuấn

Có thể nói hang động Mạc Cao là hệ thống xương sống của nền văn hóa Đôn Hoàng và là đối tượng nghiên cứu quan trọng nhất của các nhà “Đôn Hoàng học”. Nằm trên con đường tơ lụa cổ xưa, xuất phát từ Trường An sang phương Tây nên Đôn Hoàng đã trở thành nơi tiếp thu nền văn hóa Phật giáo để truyền vào Trung Quốc. Các nhà truyền giáo sau khi vượt sa mạc Gô-Bi, trải qua hàng tháng trời mệt mỏi trong gió cát đều dừng chân tại đây để nghỉ ngơi và giao tiếp. Vì thế Đôn Hoàng và Mạc Cao đã trở thành điểm hội tụ lớn nhất của nền văn hóa Phật giáo…

dau-an-phat-giao-2Thành phố Đôn Hoàng quản lý 31.000 cây số vuông miền đất cực Tây của tỉnh Cam Túc, xưa kia vốn là nơi biên ải xa xôi của Trung Nguyên, địa bàn thông thương với Tây Vực. Vì đất rộng nên nó ôm trong lòng mình một quần thể văn hóa lịch sử gồm nhiều điểm cách nhau hàng trăm cây số. Trong hàng chục di tích và cảnh quan được Nhà nước xếp vào danh sách được bảo tồn nghiêm ngặt thì nổi tiếng nhất là hang động Mạc Cao, núi Minh Sa, hồ Nguyệt Nha, cửa ải Dương Quan và Ngọc Môn Quan. Riêng hang Mạc Cao, núi Minh Sa và hồ Nguyệt Nha, năm 1992 được xếp vào những thắng cảnh đẹp nhất Trung Quốc.

HANG ĐỘNG MẠC CAO

Hang Mạc Cao lâu nay đã nổi tiếng toàn thế giới về giá trị văn hóa Phật giáo siêu đẳng nên đây là một trong những điểm ưu tiên trong lộ trình của chúng tôi.

Đường từ Đôn Hoàng đến Mạc Cao chạy ven sa mạc dài khoảng 30 cây số, hai bên là cây côi của miền lục châu tươi tốt được tưới bằng nước tuyết Đẳng Hà. Mạc Cao là quần thể hàng ngàn hang động do con người đục, khoét vào sườn núi Minh Sa trong suốt hàng ngàn năm để thờ Phật Tổ và các vị Bồ tát. Năm 1987, hang Mạc Cao được UNESCO công nhận là di sản văn hóa của nhân loại. Hầu hết hang động có từ thời Ngụy-Tấn tới nay đã bị vùi lấp hoặc hủy hoại, chỉ còn lại số ít ỏi là 492 hang, trong đó hang thời Ngụy-Tấn có 42, Tùy có 112, Đường có 247, Ngũ Đại có 36, Tống có 4 và Nguyên có 8. Theo sử sách thì riêng đời Đường thì đã có tới trên 1000 hang Phật, nay còn lại chưa tới ¼.

hang mac cao don hoang

Hang Mạc Cao Đôn Hoàng

Có thể nói hang động Mạc Cao là hệ thống xương sống của nền văn hóa Đôn Hoàng và là đối tượng nghiên cứu quan trọng nhất của các nhà “Đôn Hoàng học”. Nằm trên con đường tơ lụa cổ xưa, xuất phát từ Trường An sang phương Tây nên Đôn Hoàng đã trở thành nơi tiếp thu nền văn hóa Phật giáo để truyền vào Trung Quốc. Các nhà truyền giáo sau khi vượt sa mạc Gô-Bi, trải qua hàng tháng trời mệt mỏi trong gió cát đều dừng chân tại đây để nghỉ ngơi và giao tiếp. Vì thế Đôn Hoàng và Mạc Cao đã trở thành điểm hội tụ lớn nhất của nền văn hóa Phật giáo. Truyền thuyết về hang đá đầu tiên thì có nhiều chỉ xin nêu một ví dụ: Năm 366, thời phế đế nhà Đông Tấn, Hòa thượng Lạc Tăng tới chân núi Minh Sa lúc mặt trời đang lặn, nhìn thấy ba đỉnh núi rực ánh kim quang, như có hàng ngàn vị Phật hiện. Hòa thượng cho đây là miền đất Thánh nên quyết định treo mình trên vách đá, mở một động để vào tu trong đó. Hang động thứ hai do Hòa thượng Pháp Lương khai mở. Từ đó về sau, số hang cứ tăng dần, rồi trở thành quần thể chùa hang lớn nhất Trung Quốc, gắn chặt với nền văn hóa Đôn Hoàng. Nó càng trở nên thịnh vượng bởi thương khách trước khi ra khỏi Dương Quan, Ngọc Môn Quan đi về phương Tây hoặc vượt qua Dương Quan, Ngọc Môn Quan đề vào Trung Nguyên đều tới Mạc Cao dâng hương lễ Phật, cúng dường để cầu xin bình an vô sự. Họ đã hiến nhiều tài vật để khai đục hang động nên số hang tăng nên nhanh chóng. 

Từ thế kỷ IV đến thế kỷ XIV đã có hàng ngàn hang động được hình thành nên nó còn được mệnh danh là “Thiên Phật động”, trong đó Tùy-Đường là thời kỳ thịnh vượng nhất của Mạc Cao. Quá trình phát triển của hệ thống hang động Mạc Cao gắn liền với sự phát triển của Phật giáo Trung Quốc. Đạo Phật vào Trung Hoa từ thời Lưỡng Hán, lúc đầu chưa mạnh, tới thời Ngụy-Tấn thì được truyền bá rộng hơn một chút. Thời Lưỡng Tấn, chùa nhiều, Tăng Ni cũng tăng lên đáng kể (Tây Tấn có 180 ngôi chùa, với 3.700 Tăng Ni; Đông Tấn có 1.768 chùa, với 24.000 Tăng Ni; có 250 bộ kinh Phật gồm 1.300 quyển, và bắt đầu có Tăng nhân người Hán đi về phía Tây cầu pháp. Tới thời Nam-Bắc triều, số chùa đã là 2.846 ngôi, số Tăng Ni là 82.700 người. Thời Tùy những con số đó 5.000 và 200.000, thời Đường là 40.000 và 458.000. Thời Nguyên có 42.300 ngôi chùa. Cuối thời Thanh có 800.000 Tăng Ni). Đó là bức tranh Phật giáo kéo dài suốt 15 thế kỷ của đất nước Trung Hoa.

Chúng tôi thực sự ngạc nhiên trước sức mạnh của nghệ thuật tôn giáo, trước ý tưởng sáng tạo kỳ lạ của người Trung Hoa và trước tầm cỡ khổng lồ của các công trình văn hóa Phật giáo cổ đại. Nội dung nghệ thuật chủ yếu trong các hang động đá là bích họa và nghệ thuật đắp nổi các hình tượng Phật, Bồ tát và những nhân vật liên quan tới nền Phật giáo Trung Hoa. Tất cả các loại hình như tranh vẽ, đắp nổi, điêu khắc đều là những tác phẩm nghệ thuật đích thực, nhiều bức tranh có từ thời Đường mà đến nay mầu sắc vẫn còn tươi nguyên như mới.

MINH SA-NGUYỆT NHA

Minh Sa là một dãy núi ở rìa sa mạc, dài 40 cây số, rộng 20 cây số, còn có các tên khác là Thần Sa Sơn và Sa Giác Sơn. Minh Sa có hai khu vực: khu vực đá bao gồm cả hệ thống hang động Mạc Cao và khu núi cát, trong đó có điểm du lịch sa mạc và hồ Nguyệt Nha. Minh Sa-Nguyệt Nha đựơc đề cập ở đây chính là điểm du lịch núi cát đó.

Minh Sa có nghĩa là cát kêu, sở dĩ gọi như vậy vì vào những ngày đẹp trời, gió cát vang lên một loại âm thanh nghe như tiếng khèn, rất lạ tai. Còn vào ban đêm, trời gió, cát bay cọ vào nhau tạo thành những đốm hoa lửa rất đẹp. Cát ở đây rất sạch, màu vàng có hình hạt gạo nhưng nhỏ hơn nhiều. Tiếng khèn và hoa lửa tạo ra từ cát là những hiện tượng kỳ lạ không ở đâu có. Minh sa là một dãy núi cao ngất, toàn cát, không giống như cát ở Phan Thiết của Việt Nam chỉ toàn những “đụn cát” nhỏ bé. Vào lúc trời không nóng lắm, hàng ngàn người tới đây chơi trò trượt cát từ trên đỉnh núi cao chót vót xuống chân núi và lập thành từng đoàn hàng trăm người cưỡi lạc đà đi trên sa mạc, giả làm những lái buôn thời cổ trên con đường tơ lụa. Cảnh tượng trông thật hùng vĩ và thơ mộng, chưa từng thấy ở nơi nào khác trên thế giới.

Dước chân núi cát có một hồ nước trong vắt hình bán nguyệt, trông gần giống cái vành tai nên có tên thật là Nguyệt Nha Hồ. Trên bờ hồ có một lâu đài cổ nguy nga tráng lệ, gọi là Nguyệt Nha Các. Có một điều đặc biệt khó hiểu là hàng ngàn năm trôi qua, hình thù núi cát không hề thay đổi, mặc dù thỉnh thoảng vẫn xảy ra những trận gió cát mịt mù nhưng hồ Nguyệt Nha cũng không hề bị cát vùi. Trong Nguyệt Nha Các, các đồ thờ, tượng Phật và nền nhà cũng không hề gợn chút bụi cát. Lý do được giải thích như sau: Đó là vì Minh Sa Sơn nằm ở dưới chân dãy Đại Tuyết Kỳ Liên sơn hùng vĩ, lại ở một thế tương ứng thế nào đó nên đã tạo ra các luồng gió xoáy tuần hoàn; cát theo gió bay đi lượn lờ, lên xuống, nhưng cuối cùng vẫn rơi về đúng vị trí cũ. Hiện tượng Minh sa kỳ lạ đến mức không thể hình dung nổi nhưng lại là việc có thật. Các hiện tượng hoa lửa, cát kêu và gió quẩn là hoàn toàn huyền bí, cùng với hang động Mạc Cao kỳ vĩ đã làm cho cư dân cổ đại tin rằng Đôn Hoàng chính là một miền đất Phật và con đường tơ lụa cũng chính là một con đường Phật giáo.

DƯƠNG QUAN-NGỌC MÔN QUAN VÀ NHỮNG ÁNG THƠ ĐƯỜNG

Đây là hai địa danh lững lẫy trên con đường lơ lụa, hai cửa ải biên thùy xa xôi hẻo lánh có tầm chiến lược quan trọng đối với đế quốc Trung Hoa cổ đại, nằm giữa vùng sa mạc hoang vu miền cực Tây Cam Túc. Cả hai càng trở nên nổi tiếng bởi sau này chúng gắn liền với tên tuổi của nhiều nhà thơ lớn đời Đường, đặc biệt là Vương Duy và Vương Chí Hoán. “Biên tái” tức “Quan ải biên thùy” là một trường phái đặc sắc của Đường thi. Đó là những vần thơ buồn man mác, thậm chí tê tái, rất dễ đi vào lòng người, rồi tạo nên những ấn tượng không phai mờ, và trở thành những áng thơ bất hủ, những tác phẩm để đời. Nói lên điều này để thấy rằng, cùng với Hoàng Hạc lâu, bến Tần Hoài, chùa Hàn Sơn…, Dương Quan và Ngọc Môn Quan đã trở thành niềm háo hức của chúng tôi từ trước khi rời Việt Nam lên đường.

Buổi tối, đi một vòng chợ đêm ở Đôn Hoàng, đã thấy người ta bày bán la liệt đồ mỹ nghệ lưu niệm, khắc vào gỗ, đá hoặc viết lên vải, tranh hai bài thơ “Tống Nguyên nhị sứ An Tây” của Vương Duy và “Lương Châu từ” của Vương Chí Hoán. Đây quả là một cách kinh doanh và quảng cáo du lịch văn hóa rất khôn ngoan.

Dương Quan cách Đôn Hoàng 70 cây số về phía Tây Nam, là một sa mạc khô cằn, toàn cát, sỏi và đá. Cửa ải sau hơn 2.000 năm hiện chẳng còn gì ngoài mấy bức tường đất trơ trọi trên một quả đồi lớn. Người ta đã dựng lên những tấm bia đá hoa cương lớn, ghi lại lịch sử của di tích và một dải hành lang hình cánh cung có mái rất sang trọng để trưng bày hiện vật cùng với một nhà triển lãm nhỏ. Các dịch vụ du lịch gồm: một cửa hàng bán đồ lưu niệm có in bài thơ của Vương Duy, cho du khách thuê ngựa cưỡi để chụp ảnh. Tương truyền, khi tiễn bạn đi An Tây, Vương Duy đã làm một bài thơ, trong đó có hai câu cuối: “Khuyến quân cánh tận nhất bôi tửu, Tây xuất Dương Quan vô cố nhân” (Khuyên anh hãy cạn chén mời, Dương Quan ra khỏi ai người cố tri). Ý nhà thơ muốn nói Dương Quan là nơi tận cùng của trời đất, bên ngoài nó, chẳng còn ai nữa mà cùng nhau vui vẻ.

Ngọc Môn Quan cách Đôn Hoàng 120 cây số về phía Tây, nơi đây còn hoang vắng hơn cả Dương Quan. Chúng tôi đi xe hơi tới cổng di tích, mua vé vào cửa, rồi lên xe đi tiếp. Nhìn sa mạc mênh mông, đoán chừng còn phải đi tiếp năm bảy cây số nữa mới tới nơi, không ngờ từ cổng vào tới chỗ tham quan cách xa nhau tới 55 cây số, một trường hợp chưa từng gặp!

Giữa sa mạc mênh mông, nhiệt độ trong bóng râm lên tới 45oC, một tìa thành bằng đất trơ trọi, hình vuông, có bốn cửa ra vào, tồn tại từ thời Tây Hán mà không bị thời gian tiêu hủy, quả là một kỳ quan. Nguyên nhân: Ở đây không hề có mưa. Trong cái chốn cùng trời cuối đất, hoang vắng và câm lặng ấy chỉ có một người đàn ông nằm võng trong túp lều nhỏ bé để trông coi và một tấm bia đá đơn độc khắc chìm ba chữ “Ngọc Môn Quan”. Thì ra lúc này nó cũng hẻo lánh và hoang vắng không kém so với cách đây 13 thế kỷ mà Vương Chí Hoán đã miêu tả trong bài Lương Châu Từ:

Hoàng Hà viễn thướng bạch vân gian
Nhất phiến cô thành vạn nhận san
Khương địch hà tu oán dương liễu
Xuân phong bất độ Ngọc Môn Quan.

Dịch thơ:

Hoàng Hà mây trắng liền nhau
Thành côi một mảnh núi cao tiếp trời
Thổi chi “Chiết liễu” sáo ơi!
Gió xuân đâu lọt ra ngoài Ngọc Môn.

Nội dung bài thơ: Người lính thú ở chốn biên ải xa xôi vì nhớ nhà nên mược cây sáo của người Khương thổi khúc “Chiết liễu” để nhắn gởi tình cảm về quê hương. Tác giả bèn khuyên đừng làm chuyện vô ích vì vào mùa xuân, gió Đông thổi mạnh như vậy mà cũng không ra tới Ngọc Môn Quan, làm tiếng sáo có thể đi xa được thế.

Sách Hậu Hán thư-Tây Vực chí có ghi: “Từ Đôn Hoàng muốn đi Tây Vực thì ra khỏi Ngọc Môn Quan, đi về hướng Bắc hơn 1.000 dặm tới Y Ngô, tiếp 2.000 dặm nữa thì đến Cao Xương”. Nhà thám hiểm Trung Hoa, Xa Mộ Kỳ sau khi trích dẫn đoạn nói trên đã viết tiếp: “Chính Đường Huyền Trang khi đi Tây Vực đã theo con đường này…”.

Kỳ trước: Trường An, Hành lang Hà Tây, Con đường tơ lụa, Hành trình thỉnh kinh của Đường Tam Tạng, Trung tâm nghệ thuật Phật giáo Đôn Hoàng…

Kỳ sau: Tô Lô Phan – Hỏa Diệm Sơn – Thành cổ Cao Xương – Suối Bồ Đào

(Visited 180 times, 1 visits today)

Tags:

Category: Danh Thắng, Trần Đức Tuấn

Comments (2)

Trackback URL | Comments RSS Feed

  1. Minh Son says:

    Thank you for your posting. Very good indeed. Please continue

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *