Đầu năm thăm Bảo tàng Mỹ thuật

| 20/02/2016 | 0 Comments

Những viên ngọc kiến trúc: Đầu năm thăm Bảo tàng Mỹ thuật | PHÓ DẠO ■ Dau-nam-BaoTang-My-Thuat

Khi có dịp đến một thành phố, thường người ta hay đến những điểm vui chơi, những hàng quán để thưởng thức món ngon vật lạ ở nơi đó cho biết, khi về nhà còn có câu chuyện làm quà kể với thân nhân và bạn bè. Hồi mấy năm trước, ai từ Bắc vô cũng bảo dẫn đi thăm Chợ Lớn xem vì nghĩ chắc đó là cái chợ to, bán nhiều hàng hóa lắm(?). Khi được giải thích đó là tên của cả một thành phố thời xưa có đông người Hoa sinh sống thì họ mới hiểu ra.

Nhưng cũng có những người muốn đến xem và tìm hiểu những gì tinh túy nhất của nơi ấy. Đó là trường hợp của anh bạn đồng niên ngoài quê khi vào thăm Sài Gòn nhân dịp đầu năm mới cứ nhất định đòi Phó tôi phải đưa đi xem bằng được những công trình kiến trúc, bảo tàng, chùa chiền, nhà thờ đẹp nhất của thành phố. Nghe bạn nói, Phó tôi ngạc nhiên vì trước đó chưa có ai có yêu cầu như vậy. Hơn nữa, anh ấy là giáo viên Lý về hưu chứ có phải dân văn nghệ văn gừng gì đâu mà lại mê những thứ ấy? Phó tôi liền nghĩ lướt qua trong đầu xem nên đưa đi đâu xem gì để vừa lòng bạn. “Hay là ta đi thăm viện bảo tàng?”-Phó tôi nói. Anh gật đầu đồng ý không do dự.

Lòng vòng quanh chợ Bến Thành, chiếc Honda cà tàng của chúng tôi ra đến đầu đường Trần Hưng Đạo, qua siêu thị điện máy Nguyễn Kim đang ầm ĩ tiếng nhạc, oang oang những lời rao khuyến mãi, Phó tôi hỏi anh có vào không thì anh lắc đầu. Phó tôi liền lướt qua, rồi quẹo vô Calmette. Vào đến Lê Thị Hồng Gấm, đang mải nhìn những hàng giày dép cũ mới, đồ lạc xoong bày rải rác khắp vỉa hè, thì anh vỗ vai Phó tôi đòi xuống. Thì ra, tòa nhà bảo tàng đồ sộ với tường rào sắt uy nghi đã hiện ra ngay bên cạnh chúng tôi cứ y như trong truyện cổ Grim đọc ngày còn bé.hoa-van-BaoTang-My-Thuat

Từ bên ngoài, với cái máy ảnh “si cà que”trên tay không biết lấy ra từ lúc nào, anh cứ nhè vào tường rào sắt bao quanh tòa nhà bấm lia lịa. Phó tôi ngạc nhiên là tại sao chỉ mới thấy cái tường rào mà anh ấy đã chụp nhiều ảnh như vậy. Anh không nói mà chỉ lắc đầu nhè nhẹ, đôi mắt như bị thôi miên của một kẻ đang ngắm hoa hậu với đầy vẻ thán phục. Bây giờ nhìn kỹ, Phó tôi mới thấy cái tường rào sắt này bề thế, tinh xảo thật. Anh ấy nói “chỉ có tường rào sắt của một vài dinh thự lớn thực dân Pháp thời xưa mới sánh được”. Anh chỉ cho Phó tôi Dau-nam-tham-BaoTang-My-Thuattừng chi tiết của cổng sắt được bàn tay người thợ sắt ngày xưa uốn thành những hoa văn mềm mại, thanh sắt nào cũng dày dặn, chắc chắn được gắn vào nhau bằng những mối hàn khéo như đúc. Anh nói “có lẽ vì vậy mà nó trơ gan cùng tuế nguyệt từ năm 1925 đến bây giờ”. Tôi ngạc nhiên sao anh biết nó xây từ năm đó?. “Sách báo, tài liệu chứ sao?”. Anh chỉ vào cái ba lô nhỏ đeo sau lưng-Phó tôi đoán có laptop trong đó, Phó tôi nhìn bạn thán phục. Ở thành phố này đã một phần ba thế kỷ, không biết bao nhiêu lần đi qua khu vực này, vậy mà Phó tôi và có lẽ không ít người khác cũng chỉ nhìn thoáng thấy một tòa nhà to đẹp nhưng có để ý tìm hiểu kỹ đâu. Hình như trước đây đã có lần Phó tôi hỏi hai ba người dân ở khu vực này, trong các gian hàng bán đồ cổ ngay ngã ba Lê Công Kiều-Phó Đức Chính, ngoài câu trả lời “nhà chú Hỏa “ra, không có bất cứ điều gì thêm. Thế mà một người xa tận hàng ngàn cây số lại biết nó một cách kha tường tận thì cũng lạ. Các cụ hay nói “Bụt chùa nhà không thiêng”là vậy. từ lúc ấy, Phó tôi chỉ còn biết nghe. Bây giờ vai trò đã thay đổi: anh là người chủ động hướng dẫn, Phó tôi mới là khách tham quan!

Vào lúc Phó tôi đã xăm xăm bước vào cổng thì anh vẫn còn đưa máy ảnh lên ngắm cái vòm cổng hoa văn cầu kỳ có ba chữ cái Latin “H,B và H” được uốn lồng vào nhau bên trong một hình oval như một biểu tượng của ngôi nhà và gia chủ của nó. Như người mắc “ngải nói”, anh thao thao bất tuyệt về ngôi nhà khiến Phó tôi chỉ còn biết nghe và ráng nhớ để ghi lại trong bài này. “Đây là ba chữ cái họ và tên, tên đêm của chủ nhân cũ của khu nhà là ông Hứa Bổn Hòa, đọc theo sách của cụ Vương Hồng Sển và cụ Sơn Nam; còn dân dã vẫn cứ gọi trơn là chú Hỏa”. Anh giải thích thêm rằng chú Hỏa là một thương nhân giàu có xuất thân từ một gánh ve chai nghèo khổ, về sau là chủ của những công trình kiến trúc lớn trong thành phố đến ngày nay vẫn còn sử dụng như: khách sạn Majestic, Bệnh viện Từ Dũ, trung tâm cấp cứu Sài Gòn (Hopital Jean Baptiste cũ), khu nhà khách Chính phủ, chùa Kỳ viên (Q3), khách sạn Palace (thị trấn Long Hải, Bà Rịa-Vũng Tàu)và nhiều dãy nhà phố cho thuê khắp Sài Gòn-Chợ Lớn hồi đầu thế kỷ trước. Vì vậy, dân gian có câu “Đi tàu chú Hỷ, ở nhà chú Hỏa”. Chú Hỷ cũng là người Việt gốc Hoa cùng thời với chú Hỏa, chủ một hảng vận tải đường thủy có nhiều tàu chạy khắp sông rạch Nam kỳ lục tỉnh, cạnh tranh cả với tàu của tư bản Pháp thì thật chẳng vừa, giống như Bạch Thái Bưởi ngoài Bắc.

Thoạt đầu, hai chúng tôi bước vào sảnh lớn. Đó là một không gian tráng lệ hiện được sử dụng để triển lãm thường kỳ các tác phẩm mới của các họa sĩ đương đại. Lần triển lãm này có nhiều tranh, tượng, gốm mỹ thuật thuộc mọi phong cách, trường phái mà phần đa là các bức vẽ lập thể. Tuy không hiểu lắm về nội dung từng bức vẽ nhưng cứ nhìn các mảng màu mà người họa sĩ đã phối trên nền vải bố, Phó thấy thật có ấn tượng, thật đã mắt người xem. Đi về hai phía phải và trái căn phòng lớn ở lầu một theo một hành lang hoặc lên các tầng lầu hai và ba, khách tham quan có thể đến các phòng trưng bày hiện vật theo từng chủ đề, niên đại sáng tác. Ở đây có những bộ sưu tập cổ vật của nhiều cộng đồng dân tộc trên phần đất phương Nam như bộ sưu tập tượng Phật, tượng Tuyết Sơn, đồ thờ cúng bằng gốm sứ, đồng, đồ mộc khảm xà cừ, mộc sơn mài, pháp lam v.v…đầu thế kỷ XX trở về trước; các nền văn hóa Chăm Pa, Óc Eo gồm các hiện vật bằng vàng, đồng, tượng gỗ; tượng, phù điêu sa thạch các thần, linga-yony chế tác từ thế kỷ XV trờ về trước. nghệ thuật dân gian của các dân tộc thiểu số Tây Nguyên cũng được trang trọng trưng bày trong một gian riêng gồm một số tượng nhà mồ, các dụng cụ sản xuất, sinh hoạt, các nhạc cụ, cồng chiêng.san-BaoTang-My-Thuat

Từ các phòng chính ở các lầu hai và lầu ba đi về hai bên phải hay trái đều dẫn đến các khối kiến trúc vuông góc với khối chính ở mặt tiền (đường Phó Đức Chính), nơi có các phòng tranh nhiều chất liệu như sơn dầu, sơn mài, lụa, màu nước…của nhiều thế hệ họa sĩ có niên đại sáng tác từ sau khi Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (Ecole supérieure des Beaux-Arts de L’Indochine) thành lập năm 1925 tại Hà Nội, những người đặt nền tảng cho nghệ thuật tạo hình Việt Nam hiện đại. Tuy nhiên, tại vùng đất Nam Kỳ thuộc địa, từ đầu thế kỷ XX, người Pháp đã quan tâm đến việc đào tạo bài bản nghề các chế tác và trang trí đồ thủ công mỹ nghệ như gỗ, đúc đồng, khắc đá, gốm sứ, mây,tre v.v…vốn là ngành sản xuất lâu đời ở đất Đồng Nai-Gia Định giàu tiềm năng tay nghề và nguồn vật liệu gỗ, tre, lá, đất, đá, trai sò vô tận thành một ngành có thế mạnh xuất khẩu, góp phần đem lại lợi nhuận cho công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897-1918) ở toàn cõi “Đông Pháp”. Họ lần lượt thành lập trường Mỹ Thuật Thủ Dầu Một (1901), Trường Bá nghệ Biên hòa (École professionelle de Bienhoa) (1903), sau nâng cấp thành Trường Mỹ nghệ bản xứ Biên Hòa (École d’Art indigène đe Bienhoa) năm 1913; mười năm sau (1923) lại lập thêm Trường Dạy vẽ Gia Định (École de Dessin) rồi hoàn thiện thành Trưỡng Mỹ nghệ thực hành Gia Định (École des Arts appliqués de Gia Định) năm 1940. Xét như vậy thì nghệ thuật tạo hình hiện đại ở Sài Gòn và các tỉnh phụ cận thời bấy giờ đã phát triển rất sớm. Sản phẩm của nền nghệ thuật tạo hình ấy hiện diện trong những bộ sưu tập gốm sứ, điêu khắc, tranh, đúc đồng, thủ công mỹ nghệ ở bảo tàng kể ra còn ở mức khiêm tốn. Ngoài tác phẩm của các họa sĩ ở mức “tầm tầm”, có một ít họa phẩm của các nhà đã được coi là tài danh như Hồ Hữu Thủ, Nguyễn Trung, Nguyễn Trọng Khôi v.v…Tuy vậy, bảo tàng lại sở hữu bức sơn mài Vườn xuân Trung-Nam-Bắc khổ 200x540cm, của họa sĩ Nguyễn Gia Trí (1908-1993), tốt nghiệp Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1936 chiếm gần trọn diện tích một bức tường là đáng nể nhất. Anh bạn đã giảng cho Phó tôi nghe về ý nghĩa của chất liệu sơn mài truyền thống dân tộc được các họa sĩ Việt học thầy Pháp vận dụng vào sáng tác mỹ thuật hiện đại ra sao.tuong-oc-eo-BaoTang-My-Thuat

Rồi chúng tôi sang phòng trưng bày bên cạnh, nơi có những tượng bằng sa thạch và bằng gỗ của văn hóa Óc eo. Người bạn đứng lặng xúc động trước bức tượng Phật Thích Ca bằng gỗ mộc niên đại thế kỷ IV đã bị hàng trăm vết nứt theo thớ cây nhưng vẫn rất có “thần” với dáng dấp độc đáo không thể lẫn với những tượng khác của Ngài, được khai quật từ bùn đất miền Tây Nam bộ năm nào. Thấy vậy Phó tôi nói, “Nếu anh được quan chiêm tượng Phật Ngọc Vì Hòa Bình được tạc từ ngọc thạch nguyên khối thì anh còn xúc động đến đâu? Tôi đã từng chứng kiến một số Phật tử nức nở khóc khi nhìn thấy bức tượng Đức Phật bằng đá quý lớn như vậy”. Anh cười rồi nói: “Tượng bằng ngọc đương nhiên là quý. Nhưng tượng Ngài làm bằng vật liệu gì chẳng thiêng nếu có chân tâm”. Sau đó, chúng tôi đi xuống một sân rộng kiểu “tứ đại đồng đường”, bốn bề là các khối nhà đồ sộ để ngắm các bức tượng là tác phẩm của nhiều thế hệ điêu khắc gia cũng khá gây ấn tượng. Ở hai bên góc sân là hai bức tượng đồng toàn thân của hai nhân vật “tầm cỡ”trong lịch sử thành phố là cố học giả Trương Vĩnh Ký tay cầm cuốn sách và cố thương gia Quách Đàm, người xây chợ Bình Tây… Anh bạn của Phó tôi băn khoăn tại sao người ta lại bắt hai ông này đứng ở hai vị trí khuất nẻo như vậy?

Xem đến đây thì anh bạn bước ra giữa sân ngước mắt nhìn bốn phía ngôi nhà lièn với những cửa lớn cửa sổ lá sách, ban công có lan can hoa văn tinh xảo, mái ngói âm dương điểm soi sứ men lam truyền thống…Anh nói: “Những di sản nghệ thuật ở đây đã quý nhưng ngôi nhà còn quý hơn”. Thế là chúng tôi quyết định đi thẳng ra cổng sau phía đường Lê Thị Hồng Gấm đi một vòng quanh khu nhà qua các con đường Calmette, Nguyễn Thái Bình, Phó Đức Chính xem tác phẩm kiến trúc này to đẹp thế nào. Theo tài liệu thì diện tích của khu này gồm ba khối nhà và khuôn viên rộng gần một mẫu tây (9.500m2). riêng nhà Bảo tàng Mỹ thuật, số 97 Phó Đức Chính-một trong ba khối nhà- đã rộng gần bốn sào Nam Bộ (3.716m2). Chúng tôi ước lượng mỗi chiều của tòa nhà bảo tàng dài khoảng 30m (!) với tường cao bề thế có các khối cầu thang lên các lầu trên rất đường bệ. Mặt tường ngoài bốn phía đều có nhiều cửa thông với không gian khuôn viên rộng xung quanh. Tầng hầm bên dưới có nhiều châu mai song sắt thông gió hiện đang là những phòng tranh (gallery) mở cửa suốt ngày. Các tầng trên ngoài cửa chính lớn có bệ cầu thang lên lầu một, đều có các cửa lớn ra balcon, chắn bởi lan can sắt hoa tinh xảo. Các cửa sổ với công năng thông gió, chiếu sáng cũng khá lớn. Tất cả các cửa đều có ba lớp cánh: trong là cửa kính màu hoa văn, giữa là cửa lá sách, bên ngoài là cửa sắt kéo. Các cửa lớn đều gắn ở khóa chìm có tay cầm hoa văn, nước mạ tuy đã ngả màu,cũ kỹ nhưng vẫn đang được sử dụng. Khóa xoay thanh chốt ở cánh cửa kính màu hoa văn cửa sổ có “nắm đấm”bằng gang đúc tuy đã trầy tróc nhưng vẫn còn nguyên dạng. Anh bạn của Phó tôi nắm vào xoay đi xoay lại khiến hai thanh sắt chạy lên chạy xuống trơn tru vào hai chốt giữ ở trên và dưới khung cữa, đã phải thốt lên: “Một thế kỷ vẫn chạy tốt”.

Cánh cửa là sách (cửa chớp) ở đây cũng độc đáo bởi những phiến là sách bằng gỗ sơn màu ghi được ghép trên khung thép trông thanh mảnh nhưng rất chắc chắn, vốn là loại cửa dù đóng nhưng không khí bên ngoài vẫn thông với bên trong, là giải pháp thông gió giản tiện nhưng hiệu quả nhất cho các ngôi nhà ở vùng khí hậu nóng ẩm đến nay còn được sử dụng nếu gia chủ là người không muốn ỷ y vào máy điều hòa không khí tốn điện, ngột ngạt. Cũng với mục đích thông gió, tòa nhà còn được thiết kế nhiều khe châu mai song sắt rải rác khắp các bức tường. Đã vậy, phía trên cùng cheo leo sát với điểm soi mái ngói còn có nhiều lỗ thông gió được chắn bằng song sắt hoa văn hình tròn, hoa văn uốn thành các chữ triện như “phú”, “phúc”, “lộc”v.v… Có lẽ, thông gió như vậy chưa đủ, các kiến trúc sư Pháp thời chưa có máy điều hòa còn thiết kế thêm các vọng gác châu mai nhô ra khỏi tường giống như kiểu ở pháo đài lãnh chúa Châu Âu trung cổ nhưng được kẻ nhiều gờ chỉ thẩm mỹ, vừa có giá trị trang trí, vừa có công năng thông hơi làm mát cho toà nhà.

Nhìn tòa lâu đài kiểu Pháp thế kỷ XVI-XIX, xinh đẹp, bề thế. Phó tôi “đía”: “Ngôi nhà này xây theo phong cách Baroque-trường phái kiến trúc châu Âu thế kỷ XVI-XVIII thiên về trang trí và những đường cong”. Nghe xong anh hỏi Phó tôi “ai nói vậy?”. Đọc trong sách, báo”, Phó tôi trả lời. Thế là anh tuôn ra một tràng, ngôi nhà này chỉ có cái “air” baroque. Khi sang châu Âu, tôi đã được tận mắt chiêm ngưỡng những lâu đài kiểu Baroque, nhất là kiểu rococo-giai đoạn hậu Baroque trang trí cầu kỳ lộng lẫy từ trong ra ngoài mà không nơi nào có. Ở ta, kiến trúc đình chùa, cung điện truyền thống, các cụ xưa cũng rất chú trọng đến các đường cong, trang trí nóc mái bằng tượng, phù điêu hoa lá, long, lân, quy, phụng…; cẩn gốm, sứ trên các họa tiết, cẩn trên các chữ nổi ở bình phong, ở tam quan, măt tiền. Rõ nét nhất là kiến trúc cung đình, đền, chùa, lăng , miếu ở cố đô Huế, phảng phất ở Lăng Ông-Bà Chiểu ngay Sài gòn v.v… đã có thể gọi là Baroque Việt được hình thành trước cả bên Tây”. Theo anh thì tòa nhà này có một phần Baroque, một phần Phục hưng lại có cả cái Á Đông của chủ nhân nữa. Cho nên, bậc thầy của quy hoạch và chũ nghĩa công năng hiện đại, kiến trúc sư người Thụy Sĩ Le Corbusier (1887-1965) đã từng nói “Không có kiến trúc sư giỏi, chỉ có ông chủ thông minh”thật chí lý.

Quả vậy, càng nhìn kỹ vào các chi tiết ta càng thấy tòa nhà chỗ nào cũng mang đậm dấu ấn của chủ nhân, một người Á Đông. Chúng tôi nhìn lên các mái nhà từ phía đều được lợp bằng ngói âm dương, diềm soi men lam, những biểu tượng cành lá, hồ lô gốm màu da lươn Á Đông trang trì dọc theo nóc mái và đỉnh mái. Bây giờ chúng tôi quay trở lại đứng trước hai cánh cổng sắt ngắm nghía kỹ mặt tiền của tòa lâu đài. Bệ cầu thang lên cửa chính trên lầu một là một khối kiến trúc uy nghi cân đối và duyên dáng rất hiếm thấy ở các dinh thự lớn khác trong thành phố. Mái của khối cầu thang lợp ngói âm dương, diềm soi men lam giống như mái nhà chính nhưng tỷ lệ nhỏ hơn được đỡ bằng hai đôi cột La Mã. Đầu cột, chân cột đều đắp nổi phù điêu trong trí nhưng không phải màu cẩm thạch trắng nguyên mẫu mà lại được tráng bằng lớp men màu lam Á Đông bên ngoài. Ngay dưới khối bệ cầu thang là một hồ thủy sinh bán nguyệt theo quan niệm phong thủy. Cửa chính vào nhà xây theo hình vòm chắn bởi khung cửa sắt uốn hoa văn mềm mại tinh xảo có gắn hình oval viền quanh ba chữ “H, B và H”quyện vào nhau khác logo ở phía ngoài cổng sắt. Phải chăng đây là gia huy của nhà họ Hứa? Những hình oval tương tự được gắn trên các cổng ở hai khối nhà bên cạnh dọc theo tường rào sắt bao quanh toàn khu vực này. Hai bên cửa là cặp câu đối chữ Hán vẫn còn tươi màu son đỏ. Bạn của Phó tôi ngắm kỹ rồi hỏi Phó tôi có đọc được không thì một kẻ “văn dốt, võ nhát”như Phó tôi đành thúc thủ. Sau, Phó tôi bèn đi “xin chữ cụ nghè”mà được giảng như sau:. Vế trái: Văn tảo lưu phương biệt thác hải thiên đường cấu (Người tài hoa xuất chúng văn hay chữ tốt danh tiếng muôn đời); vế phải: Tử chi dục tú doãn nghi phú quý vân nhưng (Hoa đẹp tỏa hương điểm tô cho vùng đất thêm thịnh vượng). Việc phiên, dịch chính xác đến đâu, ai là tác giả của câu đối, xin quý vị gần xa rộng lòng chỉ giáo.

Chúng tôi lại quay trở vào văn phòng lớn ở lầu một để ngắm nội thất của tòa nhà. Phòng chính có trần cao, trang trí các đường chỉ hoa văn sắc sảo được đỡ bằng những cây cột La Mã thanh tú hai bên tường. Những cột này chỉ chia hờ phòng lớn làm nhiều gian khác nhau để người ta có cảm giác ấm cúng, vững chãi hơn. Dựa vào tường phía trong là cầu thang chính lên các lầu trên được xây bằng cẩm thạch trắng sang trọng, bước bậc cầu thang theo đúng kích thước tạo thế vững cho người lên xuống không những không phải vịn vào lan can hoa văn mà còn tránh nhau thoải mái. Cạnh đó là chiếc thang máy cổ từ đầu thế kỷ XX, nay vẫn còn nguyên vẹn gắn vào hai thanh trượt lộ thiên bằng thép. Nhìn lồng thang máy bằng gỗ, chúng tôi tưởng như vẫn còn hơi ấm của chủ nhân. Anh bạn nói: “Có tài liệu viết rằng ở phòng này ngày xưa chú Hỏa đã cho đặt ở giữa phòng một tủ kính trong đó bày đôi quang gánh ve chai để bản thân và con cháu không quên những ngày hàn vi”. Chuyện này thực hư ra sao thì có trời mới biết nhưng nghe còn có lý hơn chuyện “Con ma nhà họ Hứa”. Chúng tôi đều nhất trí rằng nếu chú Hỏa không giàu có như vậy thì chẳng ai thêu dệt chuyện này chuyện nọ làm gì…

Ở các tầng lầu hai, lầu ba đều có cấu trúc hành lang với nhiều cửa và balcon nhìn thấy các khối kia và cùng chung nhau một không gian một không gian của sân “tứ đại đồng đường” bên dưới. Riêng ở lầu một đi theo hướng bên phải là đến một hành lang lớn có các cột La Mã mở ra không gian rộng của sân trong.. Một bên là phía đường Calmette nhìn từ balcon và cửa sổ ra ngoài còn thấy đước mái cổng lớn phía sau nhà. Trên mái cổng hình tam giác kiểu Hy Lạp có gắn một chong chóng gió hình con gà trống đậu bên trên bằng gốm men da lươn thật ấn tượng… Bên trái cổng vòm lớn vẫn còn gắn tấm bảng bằng đá trắng cỡ nhỉnh hơn tờ giấy A4 đã loang lổ những vết đen ghi bằng chữ Pháp tên chủ nhân và hậu duệ ở toàn bộ các khối nhà bằng chữ Pháp, gợi cho khách tham quan suy nghĩ về lòng biết ơn tiền nhân, người đã có công đóng góp những viên ngọc kiến trúc cho một thành phố.

Người ta vẫn nói quá nhiều về linh hồn, lịch sử của một thành phố mà giữ gìn khu trung tâm với những di sản kiến trúc vô giá, nhưng thực tế thì khác. Khu trung tâm cũ với những nhà cổ, phố cổ đang dần dần biến mất để bị thay thế hoặc chen lấn bởi các cao ốc hiện đại, khiến cho thành phố vừa mất quá khứ, nảy sinh nhiều vấn đề nan giải về giao thông, điện, nước, thoát nước, rác thải, vệ sinh môi trường và an ninh đô thị. Anh bạn mở laptop rồi đọc cho Phó tôi một đoạn trong bài “Ứng xử thế nào với các kiến trúc lịch sử” của Quang Chung trên tờ Thời báo Kinh tế Sài Gòn số 9/10/2008, ghi lại ý kiến của ông Phan Văn Trường, hiện là giảng viên bộ môn quy hoạch vùng và kinh tế đô thị tại Trường Đại học Kiến trúc TPHCM, nguyên Giáo sư Đại học Paris-Sorbonne một đại ý “Chúng ta kính trọng lịch sử văn hóa của mình như thế nào qua những hình thể của đô thị. Một số đô thị ở châu Âu, châu Mỹ…Không có một kiến trúc sư nào dám phá một công trình có giá trị lịch sử. Phá ở đây có nhiều nghĩa như đập đi hoặc xây một cái gì xấu xí hoặc không hài hòa bên cạnh. Ngay cả những vườn cây xanh, họ cũng không dám thay thế bằng những khu nhà…”Anh nói tiếp: “Chẳng qua cũng chỉ vì lợi nhuận trước mắt mà người ta xây cao ốc trong những khu đất vàng ở trung tâm mà không thấy hậu quả lâu dài”. Nghe xong, Phó tôi nói: “Anh đừng lo. Tòa lâu đài này đang được ngành chức năng thành phố làm thủ tục đề nghị xếp hạng di tích lịch sử. Anh cười “thế thì hoan hô. Sáng ngày mai đến xem lại nhé!”. Quả thực, Phó tôi chưa gặp được người nào mê những công trình kiến trúc cỗ như anh bạn giáo viên về hưu này.■thang-may-BaoTang-My-Thuat

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 98-99 Xuân

(Visited 202 times, 1 visits today)

Tags: , , , , ,

Category: Danh Thắng, Phó Dạo

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Facebook Auto Publish Powered By : XYZScripts.com