Miền đất cuối cùng

| 22/12/2013 | 0 Comments

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 42 | TRẦN ĐỨC TUẤN

ĐI DỌC DÒNG SÔNG PHẬT GIÁO – Miền đất cuối cùng

mien-dat-cuoi-cungĐối với người phương Tây, Mê Kông là một dòng chảy vĩ đại, âm thầm, bí ẩn, dưới một góc trời hoang vu, khuất nẻo. Còn đối với chúng ta, dòng sông vừa gần gũi, thân thương lại vừa huyền bí, xa lạ như một kẻ ngụ cư nhân từ, thiện chí, đầy cá tính mà ngọn nguồn còn hết sức mơ hồ. Từ bao đời nay, người dân châu thổ luôn dành cho sông nước Cửu Long một tình yêu bao la bởi họ tìm thấy ở đó nguồn sống dồi dào và một khung trời mênh mông, thả sức cho tâm hồn bay bổng. Cứ thế, đời này qua đời khác, dòng sông và con người quyện với nhau, sinh tồn, hành xử, tạo nên một nền văn hoá hài hoà giữa đạo, đời, và tạo hoá mà tư tưởng bao trùm là từ bi, nhân nghĩa và bất khuất…

Dòng sông huyền bísong-Chau-Doc

Khi rời khỏi Campuchia, Mê Kông đã được người Việt đặt cho cái tên mới là Cửu Long, tức chín con rồng bởi nó có tới chín cửa đổ ra biển là cửa Tiểu, cửa Đại, cửa Ba Lai, cửa Hàm Luông, cửa Cổ Chiên, cửa Cung Hầu, cửa Định An, cửa Bát Sắc và cửa Trần Đề. Nay không hiểu sao cửa Bát Sắc đã biến mất một cách bí ẩn nên chỉ còn lại tám cửa. Chỉ riêng việc “Cửu Long tám cửa” đã làm đại bộ phận cư dân Việt Nam, kể cả miền hạ lưu châu thổ này, nghe tới phải ngẩn ngơ vì coi đó là chuyện lạ. Chúng tôi đem câu chuyện tám cửa trình bày với các nhà chuyên môn, các học giả và đã làm tất cả ngạc nhiên vô cùng bởi họ vẫn đinh ninh Mê Kông còn đủ chín cửa. Đoàn làm phim Mê Kông ký sự đã khảo sát thực địa bằng cả đường bộ, đường thuỷ và trực thăng nhưng đều không thể tìm thấy cửa Bát Sắc mà bản đồ thuộc Pháp còn ghi lại, nằm giữa hai cửa Định An và Trần Đề trên địa phận Cù lao Dung. Tất cả mọi cư dân địa phương, từ già tới trẻ, khi được chúng tôi hỏi đều nói rằng họ không hề thấy hoặc nghe nói về một cửa sông Bát Sắc nào cả. Vậy là dòng sông kỳ vĩ nhất chứa muôn vàn điều bí ẩn lạ lùng suốt từ thượng nguồn đến phút chót của lộ trình ngàn dặm vẫn phủ lên bờ Thái Bình Dương một bức màn bí mật. Phải chăng đó là một trong những nét hấp dẫn vĩnh cửu của dòng sông Phật giáo: thơ mộng, kỳ vĩ, linh diệu, bí ẩn và mơ màng.

Sự kỳ bí của dòng sông là điều không cần bàn cãi, nó nằm sâu trong suy nghĩ của mọi người, không chỉ với những ai sống trong lưu vực của nó mà với tất cả. Không một ai, kể cả mãi sau này, có thể đi hết được chiều dài của dòng sông chảy, có thể thăm hết được các ngôi chùa khắp lưu vực Mê Kông. Không một con thuyền nào, dù là của Thượng đế, có thể len lỏi hết chiều dài mặt nước gần 5.000km hiểm trở, ẩn khuất, gập ghềnh và cách biệt. Mọi nhận thức về dòng sông, từ cổ chí kim, trên mọi khía cạnh, từ địa lý, cảnh quan, đến lịch sử, văn hoá, xã hội chỉ là phiến diện. Đó chính là cảm nhận dự báo từ ban đầu khi chúng tôi cất bước lên đường và cũng là nhận thức lúc này khi bộ phim đã được trình chiếu rộng rãi nhiều lần. Mai sau dù có xuất hiện thêm hàng trăm cuốn sách, hàng trăm tập phim về đề tài này thì cũng không thể vì thế mà sự huyền bí của dòng sông và của các nền văn hoá ven bờ có thể giảm đi. Trong bối cảnh đó, khía cạnh tín ngưỡng, tôn giáo cũng tự nó trở thành một dòng chảy huyền bí.

Một ngôi chùa tại thượng nguồn Cửu Long

Mê Kông là một dòng sông đa sắc tộc, đa tôn giáo. Đó là đặc điểm chung của các đại trường giang quốc tế. Tuy nhiên, qua nghiên cứu và sau hàng loạt   hành trình tiếp cận, chúng tôi còn nhận ra một điều thú vị khác, đó là màu sắc Phật giáo bao trùm lên phần lớn chiều dài của dòng chảy, lên các miền dân cư đôi bờ và lên nền văn hoá tín ngưỡng của hầu hết lưu vực. Với dòng chính dài 4,880km theo hướng Bắc – Nam Mê Kông trải dài qua các miền đất Phật vô cùng đặc sắc và độc đáo, từ núi cao cội nguồn cho tới tận bờ biển. Trước hết, đó là khu vực Phật giáo Tạng truyền tức phái Mật tông tại tỉnh Thanh Hải, khu tự trị Tây Tạng và miền Bắc tỉnh Vân Nam của Trung Quốc. Tiếp theo là khu vực Phật giáo Đại thừa tại miền Trung tỉnh Vân Nam. Từ miền Nam Vân Nam tới Myanmar, Thái Lan và Campuchia là Phật giáo Tiểu thừa. Cuối cùng là đồng bằng sông Cửu Long ở Việt Nam, nơi đó cả hai phái Tiểu thừa và Đại thừa xen kẽ, sự xen kẽ này cũng là đặc điểm riêng của miền đất Cửu Long, khác với miền Trung và miền Bắc hiện chỉ có Đại thừa.

Vì nằm trên con đường giao lưu văn hoá Trung – Ấn nên nước ta có dịp tiếp xúc với cả hai con đường truyền giáo của đạo Phật. Vào giữa thế kỷ II Dương lịch, các giáo sĩ Phật giáo Ấn Độ đã đến xây chùa ở xứ Bắc Ninh, lập nên phái Nam Tông. Tiếp theo phái Bắc Tông được truyền vào từ Trung Quốc. Suốt thời gian trên mười tám thế kỷ đó người Việt đã có những đóng góp cực kỳ to lớn cho kho tàng lý luận Phật giáo, nhất là các thời Đinh, Lê, Lý, Trần. Riêng đồng bằng sông Cửu Long, Phật giáo có cả nguồn Nam Tông của người Khơ – me (như Campuchia) và Bắc Tông từ Trung và Bắc truyền vào theo bước chân của những đoàn di dân. Đặc biệt, Phật giáo đã từng là Quốc giáo suốt hai triều đại Lý, Trần. Sở dĩ nói lên điều này là vì để thấy rằng, đoàn làm phim đã ra đi từ một miền đất Phật, vậy nên các miền đất Phật khác sẽ khó có thể làm chúng tôi ngạc nhiên, nhưng không phải thế. Lý do rất đơn giản. Đó chính là thực tế phong phú ngoài sức tưởng tượng của đoàn làm phim về mức độ niềm tin của Phật tử trên khắp các triền sông, về sự đa dạng các hệ phái tín ngưỡng, về kiến trúc Phật giáo muôn màu, về tập tục nghi lễ độc đáo v.v… Tất cả đều có nét riêng, rất đặc sắc, với những đường nét văn hoá khác nhau, được kết nối bằng một điểm chung là sự chân thành và lòng sùng kính như dòng chảy tư tưởng êm đềm, lấp lánh bên dòng Mê Kông lãng đãng, mơ màng, diễm lệ…

Bộ phim tài liệu Mê Kông ký sự gồm 92 tập, mỗi tập 20 phút, không đặt vấn đề nghiên cứu tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng, nhưng rõ ràng văn hoá Phật giáo đã bước vào phim một cách tự nhiên bởi hiện thực phong phú giàu bản sắc của nó, như một hiện tượng lịch sử độc đáo lớn lao, xuyên suốt, cả về không gian, thời gian và tầm ảnh hưởng xã hội. Mê Kông sẽ không còn là nó nếu vắng bóng những ngôi chùa. Mê Kông ký sự sẽ không còn là nó nếu thiếu vắng hình ảnh những đoàn sư khất thực, thiếu vắng tiếng chuông chùa, tiếng tụng kinh lan toả khắp mặt nước mênh mông, trên khắp những xóm làng, những đồng cỏ thanh bình yên tĩnh.tay-an- co tu

Nếu như những ngôi chùa, những tu viện rải rác từ chân những ngọn núi Tuyết cho tới đôi bờ Mê Kông trên đất chùa tháp làm cho chúng tôi nhận ra rằng cuộc hành trình kỳ thú vừa qua chính là đã men theo một dòng sông Phật giáo, thì cuộc viếng thăm những ngôi chùa ở đồng bằng sông Cửu Long đã làm rõ thêm một chân lý: Phật giáo là một phần hữu cơ không thể tách rời của lịch sử Việt Nam. Những ngôi đình làng thờ Thần Hoàng bổn cảnh, những ngôi miếu thờ thần linh và những người có công lớn với dân, với đất nước, và những ngôi chùa thờ Phật đã tạo nên hình ảnh rất đẹp trong thế giới tinh thần truyền thống của cư dân đồng bằng sông Cửu Long. Trong nhiều tập phim Mê Kông ký sự, luôn thấp thoáng những ngôi đình, ngôi đền, ngôi miếu, ngôi chùa. Tuy nhiên trong phạm vi bài này tôi chỉ xin điểm qua một số kiến trúc Phật giáo hoặc liên quan đến Phật giáo mà phim đã nói tới.tay-an- co tu

Tây An cổ tự: Sông Bát Sắc Hạ vào hẳn đất Việt Nam từ lúc nó nhận nước sông Bình Di, chảy theo hướng Bắc Nam chừng 30km nữa thì nó tới một vùng núi sông thơ mộng, hiếm có của đồng bằng Nam Bộ, đó là thị xã Châu Đốc tựa lưng vào ngọn núi Sam sừng sững, trông ra ngã ba sông rộng mênh mông nơi dòng Hậu Giang (tức Bát Sắc Hạ) nhận nước của sông Châu Đốc. Núi Sam là một thắng cảnh thiên nhiên tuyệt vời đồng thời là một không gian văn hoá nổi bật, đặc biệt là về tôn giáo và kiến trúc với toà pháo đài trên đỉnh, lăng và đền Thoại Ngọc Hầu, miếu Bà Chúa Xứ, chùa Hang (tức Phước Điền tự) và chùa Tây An. Khối núi này cao 237 mét, chu vi 5.200 mét, là cửa ngõ đi vào vùng Thất Sơn, miền núi kỳ vĩ của đồng bằng sông Cửu Long. Hàng năm có khoảng một triệu tới một triệu năm trăm ngàn người tới viếng thăm khu di tích, trong đó có Tây An cổ tự ở chân núi.

Đoàn làm phim Mê Kông ký sự thật sự thích thú khi tiếp cận với công trình tôn giáo đặc sắc này cả về phong cảnh thiên nhiên, phong cách kiến trúc lẫn đặc điểm tín ngưỡng. Có thể nói chùa Tây An là một bông hoa diễm lệ của vùng đất đồi biên cương (chỉ nằm cách biên giới Campuchia hơn một kilomet), giữa một cảnh quan sơn thuỷ hữu tình. Điều gây chú ý đầu tiên là hình dáng kỳ lạ của ngôi chùa với ba ngôi tháp tròn trên đỉnh, hao hao như một ngôi đền Ấn Độ, lại phảng phất nét huyền bí của một thánh đường Hồi giáo. Nhưng khi bước vào khuôn viên, bạn nhận ran gay đó là một ngôi chùa bởi trên thềm là là một tượng Phật Bà Quan Âm bồng một đứa trẻ. Đó chính là biểu tượng của nỗi oan Thị Kính, một truyền thuyết rất nổi tiếng đã được Phật giáo hoá mà bất cứ một người Việt nào cũng biết. Ngôi tháp tròn ở giữa là mái của đại điện thờ đức Phật Tổ, hai bên là lầu chuông và lầu trống. Màu sắc và đường nét của những toà kiến trúc này thật sự lộng lẫy và tráng lệ, sẽ là những khuôn hình tuyệt đẹp trên màn ảnh nhỏ. Hai hành lang Đông, Tây đều là những hạng mục công trình xuất sắc, vừa uy nghi  vừa tráng lệ, là nơi thờ Địa Tạng  vương và chư vị Bồ tát. Đại điện thờ Đức Thích Ca và Phật Di Đà, Quan Âm… và chư vị Bồ tát. Phía sau là nơi thờ quý vị Hoà thượng trụ trì, trong đó có người sáng lập ra giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương là Đoàn Minh Huyên, tức Phật Thày Tây An, với thuyết Tứ Ân đã trở thành đạo lý của người dân vùng hạ lưu châu thổ Mê Kông là biết ơn cha mẹ, ơn đồng bào, ơn quốc vương thuỷ thổ và ơn Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng). Có thể nói, tính nhân đạo của Phật giáo đã kết hợp với các giá trị nhân văn bản địa cửa cư dân Việt vùng sông nước Cửu Long, tạo nên một trường phái tín ngưỡng độc đáo mang đặc tính địa phương không nơi nào có. Diện mạo hiện tại của chùa có từ lần tu sửa vào năm 1952 nhưng nó vẫn là một ngôi cổ tự bởi ra đời từ rất sớm và được dựng lại nhiều lần. Chùa được xây dựng lần đầu vào năm 1820 theo lời nguyện của Tổng đốc Nguyễn Nhật An rằng nếu Đức Phật phù hộ cho ông đi dẹp quân Xiêm giúp vua Chân Lạp tại kinh thành U Đông thắng lợi, trở về sẽ xây chùa để tạ ơn. U Đông chính là địa danh nổi tiếng đã được nói tới trong bài “Lộ trình Tây Bắc Nông Pênh” trên tạp chí Văn Hoá Phật Giáo số 38, ra ngày 1/8/2007. Lần xây thứ hai trên nền cũ vào năm 1847 do Tổng đốc Doãn Uẩn chủ trương, để cầu an cho mảnh đất phía Tây mà ông phải trấn ải. Chùa được xây theo chỉ dẫn của Đức Phật trong giấc mộng của Ngài Tổng đốc. Đó là hình ảnh của một vị Bồ tát cùng rất nhiều đệ tử nam nữ ca hát bồng bềnh giữa một đám mây ngũ sắc.

Tuy nhiên, điều đáng chú ý nhất không phải là Tổng đốc Doãn Uẩn hay Tổng đốc Nguyễn Nhật An, những người xây chùa, mà chính là Đức Phật Thày Tây An Đoàn Minh Huyên, người được tin rằng ông chính là vị Bồ tát trong mộng kể trên. Đoàn Minh Huyên là người thứ hai đến ở Tây An sau Hoà thượng Hải Tịnh và mất vào năm 1856 sau bảy năm hành đạo. Chùa theo phái Lâm Tế, một trong năm phái thịnh hành được triều đình công nhận. Cạnh chùa hiện còn ngôi mộ của Đức Phật Thày.

Trung tâm Phật giáo Tây An cổ tự sở dĩ được nhân dân sùng kính và nổi tiếng trong vùng bởi nó gắn bó với cuộc sống nhân gian, đại diện cho ý nguyện của Phật tử. Giáo lý Tứ Ân đầy tính nhân đạo rất hợp lòng người, chính sách khai hoang giúp dân lập nghiệp, cứu độ và chữa bệnh cho người nghèo của Phật Thày và các thế hệ đệ tử được xã hội đón nhận, trân trọng và biết ơn. Đặc biệt chùa Tây An có truyền thống yêu nước nổi bật, đã hết lòng giúp đỡ những người cách mạng chống ngoại xâm mà Hoà thượng Bửu Thọ trụ trì từ 1913 đến 1971 đã tiêu biểu, được tặng Huân chương Kháng chiến hạng nhất.

An Giang là tỉnh đầu tiên của Việt Nam, cùng với Đồng Tháp, đón dòng nước Mê Kông từ Campuchia. Sau khi rời khỏi miền Trung Vân Nam, đoàn người Mê Kông ký sự bắt đầu bước vào cả một thế giới mênh mông của Phật giáo Tiểu thừa gồm miền Nam Vân Nam, Myanmar, Lào, Thái Lan và Campuchia. Trừ hai ngôi chùa của người Việt ở Lào thì Tây An cổ tự là toà kiến trúc Đại thừa đầu tiên mà chúng tôi gặp khi men theo dòng chảy Mê Kông về tới quê nhà. Tây An chỉ là một trong hàng loạt ngôi chùa của người Việt ở thị xã Châu Đốc. Đó là các chùa Huỳnh Đạo. Tịnh xá Ngọc Châu và Bồ Đề Đạo Tràng, cùng với nhiều Hội quán, chùa miếu của người Hoa có thờ Đức Phật. Chỉ một mảnh đất nhỏ đô thị ven Mê Kông mà các công trình Phật giáo đã dày đặc như vậy khiến chúng tôi có cảm tưởng rằng Mê Kông ký sự bắt đầu thâm nhập vào một miền đất Phật mới ở chốn tận cùng của dòng sông phiêu lãng.

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 42 | TRẦN ĐỨC TUẤN

(Visited 181 times, 1 visits today)

Tags: , , ,

Category: Danh Thắng, Trần Đức Tuấn

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *