Giải Tâm kinh Đại Điên của Thiền sư Minh Châu Hương Hải

| 14/12/2016 | 0 Comments

THÍCH  THÔNG  ĐẠO ++

giai-tam-kinh-dai-dien

Bước đầu tìm đọc các tác phẩm Phật giáo đời Hậu Lê bằng chữ Nôm, chúng tôi đã thu thập được một số tác phẩm, trong đó có Tâm kinh chú giải là một  tác phẩm  của Thiền sư Đại Điên (Trung Quốc) đã lưu truyền vào nước ta và được Tổ sư Minh Châu Hương Hải dịch ra chữ Nôm. Ta hiện tìm được ba văn bản: hai bản được khắc in vào năm Thiệu Trị thứ hai (1842) do chùa An Lạc trùng san, và một bản viết tay không ghi rõ năm sao chép cùng các cứ liệu cơ sở. Theo Hương Hải thiền sư ngữ lục, sách này có tiêu đề Giải Tâm kinh Đại Điên, tức lấy tên nhà chú  giải bản  chữ  Hán làm tiêu  đề  cho  bản  dịch  chữ Nôm. Để dễ  phân  biệt, ta tạm lấy tên sách theo  Ngữ lục cho tiện tìm hiểu; ngoài ra, bản khắc in được gọi là bản An Lạc trong khi bản viết tay được gọi là bản Pháp Đăng.

1. Bản An Lạc

Hiện có hai bản, một bản mang kí hiệu AB.530 của Viện Nghiên cứu Hán Nôm và một bản sưu tầm của chúng tôi. Bản AB.530 còn nguyên vẹn, còn bản chúng tôi sở hữu có bốn tờ đầu bị rách mất một nửa và hai tờ cuối bị mọt xông vài chỗ ở gần đường khâu chỉ, thiếu độ không quá 10 chữ Hán hoặc Nôm, mất  mấy tờ công  đức tín cúng phía sau sách.

daisu-daidien

Đại sư Đại Điên

Phần nội dung của sách có tất cả 81 tờ, trong đó bài tựa chiếm hai tờ; được khắc in theo lối dịch đuổi song ngữ: nghĩa là một đoạn chữ Hán được sắp nối tiếp bằng một đoạn dịch Nôm. Một tờ hai trang,    mỗi trang có tương đương với tám dòng chữ Hán, và nếu có phần chữ Nôm thì số dòng chữ Nôm nhiều gấp đôi số dòng chữ Hán. Bản in tốt, chữ khắc chân phương rõ đẹp; trên gáy đề tên Tâm kinh chú giải là tên  bản sách chữ Hán của ngài Đại Điên soạn. Sách không có bài tựa trùng san cũng như bài tựa của dịch giả mà chỉ in bài tựa của tác giả rồi dịch Nôm. Bài tựa, dòng đầu ghi: “大顛庵主 註解般若心經序 Đại Điên Am chủ chú giải Bát Nhã Tâm kinh tự” (bài tựa sách chú giải Bát Nhã Tâm kinh của Am chủ Đại Điên); dòng thứ hai ghi “玄 機善覺法嗣明珠奉譯華言 Huyền Cơ Thiện Giác pháp tự Minh Châu phụng  dịch hoa ngôn” (Huyền Cơ Thiện Giác pháp tự Minh Châu trân trọng dịch từ tiếng Trung Hoa). Ngài Minh Châu tức Thiền sư Minh Châu Hương Hải, trụ trì chùa Nguyệt Đường (Hưng Yên), đã dịch, chú giải nhiều  kinh luận và sáng  tác sách bằng  chữ Nôm. Lưu ý rằng các bản Kim Cương, Di-đà, Tâm kinh ngũ chỉ của Thiền sư đều đề “thích nghĩa”, bản này đề “Phụng dịch Hoa ngôn” tức dịch từ bản chữ Hán sang chữ Nôm theo lối dịch đuổi như đã nói ở trên. Tờ 2b ghi năm trùng  san và nơi tàng  ván: “Thiệu Trị nhị niên tuế thứ Nhâm Dần tùng nguyệt cốc nhật cáo tất. Bản lưu tại Thiên Phúc phủ Hiệp Hòa huyện Tiểu Mai xã thượng thôn An lạc tự dĩ hiển hậu lai”. Bản trùng san được thực hiện vào niên hiệu Thiệu Trị thứ hai (năm Nhâm Dần, 1842) và tàng ván tại chùa An Lạc, thôn Thượng, xã Tiểu Mai, huyện Hiệp Hòa (Chùa An Lạc tục danh chùa Xác, hiện thuộc xã Mai Động, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang).

Bản Kim cương kinh lý mục mà chúng tôi sở hữu cũng được khắc in vào năm Thiệu Trị thứ hai tại chùa An Lạc, trong  đó có bài Kim cương Bát-nhã kinh giải lý tự do Thanh Ninh Đạo An soạn cho biết bản in được Thiền sư Thanh Y Đạo Phổ trùng san. Thế thì, vào năm Thiệu Trị thứ hai, Thiền sư Đạo Phổ chùa An Lạc đã đứng in Giải Tâm kinh Đại Điên Kim cương Bát-nhã kinh giải lý của Tổ Minh Châu Hương Hải. Ta hiện chưa biết Đạo Phổ còn in sách gì nữa chăng? Điểm sơ về người hưng công và ngôi chùa, ta thấy Thiền sư Thanh Y Đạo Phổ là môn đồ thuộc  dòng Tào Động, đệ tử của Tổ Thanh Lương Giác Trí chùa Tiêu. Theo bản sách thì chùa An Lạc trước đó đã có ba vị tổ trụ trì là Thiền sư Như Kiên, Thiền sư Hải Lâm Giác Liễu và Thiền sư Viên Quang. Có thể ngài Đạo Phổ về kế nghiệp đời Minh Mệnh trước đó không lâu, rồi thiền sư xây dựng ngôi chùa và tiến hành khắc ván in kinh mà ta biết rõ ngài đã đứng ra trùng san hai bản sách của Tổ sư Minh Châu Hương Hải. Đây là Phật sự có giá trị học thuật, nhằm lưu truyền các tác phẩm của Phật giáo Việt Nam, không để cho chúng mai một theo thời gian. Giai đoạn cận đại, chùa An Lạc bị chiến tranh tàn phá, chùa đổ, tháp hư, cảnh quan hoang tàn. May nhờ dân làng hưng công trùng  tu một tòa Tam bảo, nhà tổ dùng  để lễ bái. Vườn tháp  tổ cũng được sơn  sửa trang  nghiêm,  làm nơi chiêm  ngưỡng  cho hàng hậu thế.

Cách trình bày bản An Lạc không giống với các văn bản Hán Nôm khác. Phần nguyên văn Tâm kinh khắc chữ Hán lớn, thường chỉ gồm một câu ngắn khoảng vài từ, đứng riêng một dòng. Sau đó đến phần chú giải của Thiền sư Đại Điên cũng được khắc nguyên văn chữ Hán cùng khổ chữ, kế tiếp là phần quốc âm được khắc dạng chú thích tức chữ nhỏ được bố trí hai dòng. Tờ 79a, sau phần dịch Nôm đoạn cuối, sách đề “chung”, tức hết nội dung  bản sách. Một dòng kẻ khung rộng đề “Tiên quận cao hương văn bút nam Nguyễn Quang Biểu tự Pháp Bản tả công đức” tức bản sách do ông Nguyễn Quang Biểu chép theo tinh thần cúng dường công đức. Mặt b để trống.

Trong bộ Di sản Hán Nôm thư mục đề yếu, phần giới thiệu về sách Giải Tâm kinh Đại Điên lại ghi là: “Tam kinh chú giải 三 經註解. Một bản viết, 172 tr, 27×17, một tựa. AB 530. Bản chú thích và diễn Nôm 267 thuật ngữ nhà Phật như ‘tâm’, ‘sắc không’… trong Bát-nhã ba-la-mật-đa Tâm kinh”. Trước hết, ta thấy Thư mục ghi sai đề sách, từ “Tâm kinh chú giải” thành “Tam kinh chú giải”, có thể lỗi do người đánh máy, chữ “Tâm” đánh nhầm thành chữ “Tam” rồi thảo  chữ Hán cũng như thế. Thứ hai, bản AB. 530 là bản in chứ không phải bản sao chép. Lại nữa, người soạn thư mục không thông Phật điển nên đã mô tả sai đặc điểm của sách, cho rằng sách thuộc dạng giải thích thuật ngữ; trong khi đó, nội dung sách là chú giải Tâm kinh Bát-nhã. Do đánh sai tiêu đề, lại không nói rõ tác giả và dịch giả khiến người tra cứu thư mục nghĩ sách thuộc dạng  tầm thường  không chú ý. Nếu ghi rõ Tâm kinh chú giải do Thiền sư Đại Điên (Trung Quốc) soạn, được “Huyền Cơ Thiện Giác pháp tự Minh Châu phụng dịch hoa ngôn” thì sẽ có nhiều người chú ý bản sách để thống kê các tác phẩm của Thiền sư Minh Châu Hương Hải được đầy đủ.

 

  1. Bản Pháp Đăng

Bản này chúng tôi tìm được tại một chùa ở tỉnh Hà Nam. Sách dưới dạng sao chép, chữ viết đẹp, rõ. Giấy bản mỏng, nhiều chỗ ở mấy tờ đầu bị hư, loại giấy khá xưa, được quét cậy màu đà. Sách có 94 tờ, kể cả bài tựa hai tờ cũng được đánh số liên tiếp. Tờ 94b chỉ ghi đến câu  “Đắc a-nậu-đa-la tam-niệu-tam-bồ-đề”, tức thiếu một đoạn. Thế thì sách có thể mất khoảng hai ba chục tờ. Ở bản AB 530, câu đó mới đến tờ 67 mà tờ cuối là tờ 79, tức đã lên đến 12 tờ. Cơ cấu bản in khác với bản chép nên biết thiếu nhiều.

Dai su Huong Hai

Đại sư Hương Hải

Mỗi trang  có sáu dòng  chữ Hán lớn, còn số dòng chữ Nôm nhỏ thì gấp đôi. Trên gáy không đề tên, chỉ đánh  số tờ. Dòng đầu  tờ đầu  ghi: “Đại Điên am chủ chú giải Bát-nhã Tâm kinh tự” giống như bản in. Dòng thứ hai chép hơi khác “Hương Hải thiền sư phụng dịch quốc ngữ” có thể được người sao tả đổi lại cho dễ hiểu. Ta đoán  vị chép sách có quan  hệ khá thân  với dòng Nguyệt Đường nên mới đề tên là Hương Hải thiền sư, trong  khi bản  in ghi “Huyền Cơ Thiện  Giác pháp  tự Minh Châu phụng  dịch hoa ngôn”. Trong bản in, pháp tự của người dịch thiếu hai chữ Hương Hải; trong bản viết, người chép  chỉ nêu  tên  thường  dùng  của Tổ là Hương Hải. Cách trình bày bản Pháp Đăng có canh cải một ít: chữ Hán nguyên văn Tâm kinh viết khá lớn, chữ Hán chú giải của Thiền sư Đại Điên viết cỡ vừa và chữ Nôm viết nhỏ như dạng chú thích sách chữ Hán thông dụng mà ta thường thấy.

Bản chép có thể dựa vào bản in Giải Tâm kinh Đại Điên mà ta nói ở trên. Bởi, chúng sao chép khá giống lối chữ Nôm của bản in, đôi chỗ người viết có thay đổi một số chữ cho hợp đương thời, nên chúng  tôi cho rằng bản Pháp Đăng cũng chỉ có thể dựa vào bản An Lạc mà sao tả, chứ không dựa vào bản cổ hơn được. Hiện ta chưa thể biết bản in đợt đầu có nhất thống  với bản An Lạc không. Có thể bản in sử dụng thiếu mất bài tựa in sách nên các bản chép cũng ở tình trạng đó. Các sách của Thiền sư Hương Hải thường  hay xuất hiện bài tựa do Thiền sư Như Nguyệt soạn để ghi vài nét về bản sách.

Trên đây là sơ lược mô tả văn bản Giải Tâm kinh Đại Điên của Thiền sư Minh Châu Hương Hải. Có điều kiện, chúng tôi sẽ mở rộng nghiên cứu, khai thác cách dịch thuật thuở xưa và khảo sát cơ cấu chữ Nôm đầu thế kỷ XVIII mà các vị thiền sư đương thời sử dụng. Bản sách ít người biết đến. Việc phát hiện có giá trị nhằm công bố với học giới để mọi người biết thêm một tác phẩm Nôm của Thiền sư Minh Châu Hương Hải.■

Văn Hoá Phật Giáo số 210

(Visited 124 times, 1 visits today)

Tags: , , , , ,

Category: Di sản, Thích Thông Đạo

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *