Ngôi mộ Bát lăng ở chùa Long Thiền (Gò công)

| 02/07/2014 | 0 Comments

HUỲNH NGỌC TRÁNG – NGUYỄN ĐẠI PHÚCngoi-mo-bat-lang

Năm 1995, đọc trong sách Gò Công-cảnh cũ người xưa của thầy Việt Cúc, biết ở xứ này có một số ngôi chùa mục đồng, chúng tôi liền rong ruổi mấy ngày để tận mắt chiêm ngưỡng những pho tượng dân dã nặn bằng đất sét mà theo lời tục truyền là do trẻ chăn trâu tạo tác. Chuyến đi đạt kết quả mỹ mãn và trong dịp này chúng tôi lại thấy được những cụm mộ đá tuyệt mỹ, kiến trúc thật đa dạng với vô số những bức chạm trổ công phu. Đặc biệt là ngôi mộ bát giác trong vườn chùa Long Thiền (nay thuộc ấp Hòa Bình, xã Bình Nghi, Gò Công Đông, Tiền Giang). Đối với chúng tôi, đó là lần đầu mồ mả trở thành một trong những thứ phải để tâm như những thành tựu kiến trúc-mỹ thuật. Từ đó, chúng tôi tìm hiểu làng đục đá Bửu Long (Biên Hòa), Núi Sập (Long Xuyên), và rồi theo lời chỉ dẫn của các lão nghệ nhân đi đây đó tìm hiểu. Tất thảy không có một ngôi mộ đá nào tạo nên ấn tượng về quy mô lẫn trình độ mỹ thuật như ngôi mộ trong vườn chùa Long Thiền nói trên. Chính vì vậy, năm rồi chúng tôi quyết định đi viếng lại di tích này một lần nữa để tường tận ngọn ngành.

  1. Theo thầy Nhật Tánh, viện chủ Tổ đình Long Thiền, thì chùa khai sơn tạo tự từ thế kỷ XIX trên cuộc đất do bà Trần Thị Sanh hiến cúng. Bà Sanh là con thứ 6 của một gia đình vọng tộc ở Gò Công. Cha là Trần Văn Đồ, từng là thư ký trong dinh Tả quân Lê Văn Duyệt. mẹ là Phạm Thị Phụng, em ruột Đức Quốc công Phạm Đăng Hưng (tứccô ruột Thái hậu Từ Dũ). Bà có chồng ở Tân Tây là ông Dương Tấn Bổn, sanh hạ được một con gái, tên Dương Thị Hương. Ông Bổn qua đời (có người kể khác: vì ông Bổn không có con trai, nên bị xuất, theo luật thất xuất thời nhà Nguyễn), bà Sanh nuôi con và nhờ tại kinh doanh trở nên một người giàu có nhất nhì Gò Công.

Gò Công bốn tổng đông giàu
Mà riêng có một bà Hầu giàu to

(Nam kỳ nhân vật phong tục diễn ca, 1909)

Bà Hầu ở đây chỉ Trần Thị Sanh. Bà được đời sau ca ngợi không chỉ ở việc giàu có mà vì bà là vợ thứ của Bình Tây Nguyên soái Trương Công Định.

Tháng 4 năm 1861, từ Sài Gòn, Pháp tấn công chiếm được Mỹ Tho, rồi Chợ Gạo, Gò Công. Nhưng không được bao lâu, nghĩa quân Trương Định chiếm lại vùng Gò Công. Trương Định gặp Trần Thị Sanh lúc cả hai suýt soát trên dưới 40 tuổi, con cái đều trưởng thành. Có lời kể, cuộc hôn này do bà Từ Dũ, vì mến trai tài gái sắc, đã tác hợp thành vợ chồng. Bà Sanh xuất tiền gạo nuôi nghĩa quân, ra sức khai quang vùng đât Gia Thuận, tạo nguồn hậu cần quan trọng cho nghĩa quân. Lại nhờ uy tín thích lý của bà nên Trương Định đặt bản doanh tại từ đường Phạm Quốc Công, đắp bờ lũy quanh làm công sự…

Tháng 8-1864, Trương Định hy sinh, bà tìm cách lãnh xác chồng về an táng lập mộ dựng bia khắc dòng chữ “Đại nam lãnh Anh-Hà, lãnhbinh, kiêm Bình Tây đại tướng quân, Trương Công húy Định chi mộ”, tổ chức tang lễ long trọng trước mắt kẻ thù. Bấy giờ mà làm được như vậy,bà quả là một phụ nữ bản lĩnh…Về sau, do đám tay sai chỉ chọt, thực dân Pháp đục xóa chữ trên bia lỗ chỗ, riêng bốn chữ “Trương Công húy Định” bị băm nát không còn dấu vết (1). Mãi đến năm 1930, mới dựng lại bia mới. Theo lời tục truyền, chính bà Dương Thị Hương đứng ra làm việc này.

Bà Dương Thị Hương, con gái bà Sanh, tức nghĩa nữ của Trương Công Định. Theo truyền thống bà lập bàn thờ cha ruột là Bá hộ Dương Tấn Bổn và mẹ bà, vì đã tái giá nên phải thờ riêng. Bài vị của bà Trần Thị Sanh ghi rõ: “Truy tặng Phấn dũng Đại tướng quân, Ngũ Quận công, Trương Công như phu nhân: Trần Thị Sanh chi vị”. Nội dung bài vị cho thấy bà Dương Thị Hương, tuy không thờ Trương Định nhưng xem Trương Định như cha.

  1. Theo lời thuật lại của thầy Nhật Tánh, bà Dương Thị Hương, theo nếp nhà của mẹ, là một Phật tử thuần thành và lại là một đại thí chủ. Bà quy y với Hòa thượng Hải Hội-Chánh niệm, thường gọi là Hòa thượng Long Hòa (Bà Rịa), được ban pháp danh Thanh Đăng và mặt khác, do chùa Long Thiền có quan hệ thân thiết với gia đình nên bà xin lập mộ ở vườn chùa khi còn tại thế. Đó là nguyên do, ngôi mộ tọa lạc tại vị trí này.

Những dòng chữ khắc trên mộ biểu-cột trụ trung tâm của ngôi mộ cho chúng ta biết chủ nhân của nó đúng là bà Dương Thị Hương (pháp danh Thanh Đăng, tự Diệu Quang), thọ 90 tuổi. Bà sinh năm 1844 (Giáp Thìn niên, thất nguyệt, thập lục nhật kiết thời sanh) và mãn phần vào năm 1933 (Quí Dậu niên, thập nguyệt, thập bát nhật, tí thời khứ). Các thông tin này cho chúng ta biết ngôi mộ-tháp là sản phẩm được tạo tác vào những năm đầu thế kỷ, trước năm 1933.

Tất cả các “nhân duyên” đó có thể thấy trong bài minh chữ Hán khắc trên tấm bia có công năng như bức bình phong đặt trên nền đàn của ngôi mộ tháp

Bách niên phù thê

Na thức huyền cơ

Sanh giả tử giả

Nhược ký nhược qui

Cổ kim đồng thị

Phong vũ hà kỳ

Thiên di hữu định

Nhân phục hà nghi

Tiên ký tri mạng

Hậu đắc sở y

Bát lăng biểu lý

Ngũ cấp nga nguy

Thiên thu vạn tự

Vĩnh lặc ngoan bi

(Chúng tử đồng lập chí)

Dịch:

Trăm năm cõi thế

Nào tỏ cơ trời

Việc sống việc chết

Như gởi như về

Xưa nay đều vậy

Mưa gió theo thời

Tính toan yên nghỉ

Nhân đức rạng danh

Trời xanh đã định

Người thuận chớ nghi

Sống đã biết mệnh

Chết rõ nơi về

Tám cạnh chứng minh

Năm bậc cao ngất

Ngàn năm thờ mãi

Khắc bia ghi đời

(Các con cùng lập mộ bia)

(Chúc Phú dịch)

  1. Đúng như miêu tả một cách đại thể trong bài minh này, ngôi mộ tháp có hình bát giác, phần “tháp”gồm năm bậc (Bát lăng ngũ lý, Ngũ cấp nga nguy). Nói là vậy, song cũng cần lưu ý đôi điều về kiểu thức kiến trúc của ngôi mộ này.

Tháp của nhà Phật có nhiều loại, song về cơ bản là một kiến trúc gồm: lan can, nền đàn, thân tháp, bát úp, bình đầu, luân cái (còn gọi là bàn cái, thừa lộ bàn: hình giống như chiếc mâm tròn, nhiều lớp chồng lên nhau trên “bình đầu”, ở giữa có cây trụ xuyên qua, trên đầu có lọng/cái che) và bình báu. Mỗi loại tháp có công năng khác nhau, riêng về mộ tháp có quy định cho hạnh không xuất gia-gọi là “phàm phu hiền thiện”- thì xây đầu bằng và không được dùng luân cái (khác với tháp chứa chân thân hay khôi thân của chư Tăng). Điều này giải thích hình dạng và kiểu thức đặc biệt của ngôi mộ tháp này. Nói cách khac, kiểu dáng kiến trúc này là một thể kết hợp giữa mộ và tháp hầu tạo nên một trúc cách viên dung những quy thức giữa tháp và mộ, hình thức mà chúng tôi tạm gọi là tháp mộ.

Phần mộ, một mặt vừa mô phỏng hình bát úp của tháp vừa còn bào lưu mặt bằng vuông vuông của hình dáng gò mộ phổ biến. Đó là một “gò”cao được xây bằng những phiến đá da qui, từ mặt đất lên đến nền đàn có đến 10 bậc cấp. Nền đàn được bao quanh bằng bao lơn bát giác (kín 7 cạnh chừa 1 cạnh làm cổng), kế đó là dãy bích tường, cũng bát giác và chính giữa là “tháp” bát giác 5 bậc, bình đầu và tại trung tâm bình đầu đặt mộ biểu: để là “5 luân cái”, thân trụ lục giác, đầu cột theo thức phối trí (composite order) (2) và đỉnh cột là búp sen truyền thống (3). Trong cấu trúc trung tâm này, phần gọi là “tháp”, cũng có thể coi như một đài bệ 5 bậc của trụ mộ biểu hình sen. Tính chất “lưỡng khả”này đã hóa giải được sự câu thúc của các quy định về tháp mộ và như vậy là đạt được sự lưỡng toàn giữa “lý” và “biểu” tức tạo nên một hợp thể mộ tháp-kiểu thức mà dân chúng địa phương gọi nôm na là “Mộ tán dù”.

Điều gọi là “Bát lăng biểu lý, ngũ cấp nga nguy” ở đây cũng có hai cách lý giải. Theo quan niệm dịch lý thì ngôi tháp này đặt trên lưng con rùa, từ đất lên nền đàn gồm 10 cấp (biểu thị chỉ số sinh và số thành của ngũ hành), nền đàn với bao lơn và bích thành 8 cạnh biểu trưng bát quái (bát quái trùng lắp/ tiên thiên và hậu thiên bát quái), còn ngũ cấp biểu ý cho ngũ hành. Khác với cách “tiếp cận” theo quan niệm dịch lý là cách “tiếp cận”Phật giáo: theo đó, bát lăng biểu thị “Bát diệp liên hoa”, ngũ cấp biểu thị cho các bộ ngũ khác nhau của nhà Phật (ngũ giới, ngũ uẩn, ngũ Ba-la-mật, ngũ đại nguyện…) và tiếp đó 5 vòng luân cái biểu ý sự tinh tấn để rốt ráo là búp sen chỉ cho sự siêu sanh tịnh độ, đạt được liên đài-liên hoa sanh. Cái gọi là biểu lý hẳn như vậy.

Về mặt điêu khắc, công trình này lại là một tập thành khá đầy đủ các ký pháp tạo hình, từ hình khối ba chiều như mộ biểu/ trụ sen, dĩa quả tử (mãng cầu, khế, măng cụt, phật thủ….) đặt trên đỉnh trụ tráp ở các góc bát giác của vòng tường bích đến các mảng phù điêu, các bức văn tự chạm chìm..Đặc điểm dễ nhận ra ở đây là các đồ án chạm khắc đậm tính trang trí, chú trọng đến tính đăng đối trong việc bố cục các mảng trang trí của toàn thể cấu trúc cũng như trong từng cấu kiện riêng biệt. Điều đó đã tạo nên thể dạng chân phương và bình chính của công trình. Mặt khác, việc bố trí xen kẽ các mảng phù điêu và bức văn tự lại tạo nên vẻ thoáng đảng và thanh thoát, không lạm vào sự cầu kỳ.

Nếu đầu cột mộ biểu theo thức phối trí chỉ ra ảnh hưởng của kiểu thức phương Tây hay các đĩa quả tử, gồm các loại trái cây thổ sản thì ngược lại các phù điêu lại tuân thủ các đề tài truyền thống: dây lá hóa rồng, cổ đồ bát bửu (ống tiêu, bầu trói, phát trần, bảo bình, quạt vả…),đề tài cảnh-vật cặp đôi (Trúc-Tước, Hoa-Điểu, Tùng-Hạc, Tùng-Lộc, Liên-Áp…) Các phù điêu đề tài cảnh vật cặp đôi đa phần đều tuân thủ khuôn mẫu “một cây-một con”truyền thống, song cũng thấy một số bức phá cách bằng cách tích hợp các chi tiết phụ khiến cho chúng nghiêng về tranh phong cảnh. Chẳng hạn phù điêu Tùng-Lộc mặt sau khắc bài mình nói trên lại có cội lan ở hậu cảnh và trên cành cây tùng lại thêm một đôi chim; ở môt phùđiêu Tùng- Lộc kháclại có thêm chim hạc đứng dưới cội tùng. Những biến tấu dó phảichăng bắt nguồn từ xu hướng khai phóng chung của thời đại đầu thế kỷ XX, khi cơ cấu văn-xã đã bước ra khỏi khuôn mẫu của di sản và truyền thống.

Nói chung, theo quan niệm “sống cái nhà, già cái mồ”, truyền thống xứ ta luôn coi trọng phần “âm trạch” ngang với “dương cơ”. Mồ yên mã đẹp là mong muốn chung của mọi người và luôn được con cháu lưu tâm thực hiện khi điều kiện vật chất cho phép. Chính vì vậy, trong lịch sử không ít các ngôi mộ, lăng mộ là những công trình kiến trúc-mỹ thuật. Đặc biệt, đây là ngói âm trạch cua một phụ nữ xứng đáng là nghĩa nữ của Phấn dũng tướng quân Bình Tây Đại nguyên soái nên ngoài giá trị nghệ thuật còn hàm chứa những ý nghĩa lịch sử đáng trân trọng.

(1)              Xem thêm: Huỳnh Ngọc Trảng-Trương Ngọc Trương: Nghìn năm bia miệng, NXB, TP.HCM, 1992, tập II, tra 5-12.

(2)              Thức phối trí/thức composit là một trong những thức cổ điển. Đây là mộtsự tái tạo Roman của thức Corinth: có lá ô rô ở đầu cột, kết hợp với vòng xoắn rộng của thức lonic và những chi tiết khác.

(3)              Trụ sen là mộ biểu. Do có hoa sen trên đỉnh nên cũng có thể là “hoa biểu”. Lưu ý: nguyên ủy bia dựng ở mộ quan gọi là “mộ biểu”, dựng ở mộ dân gọi là “mộ liệt”. Về sau, mộ biểu là cột trụ trên có gắn biển đề phần mộ của ai đặt trên đường dẫn vào lăng mộ, chủ yếu là để chỉ dẫn đường. Còn hoa biểu là sản phẩm thuần mỹ thuật dùng để trang nghiêm các công trình kiến trúc và nó hàm chứa ý nghĩa biểu trưng và tôn vinh.

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 58 | HUỲNH NGỌC TRÁNG – NGUYỄN ĐẠI PHÚC

(Visited 660 times, 1 visits today)

Tags: , , ,

Category: Di sản, Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn Đại Phúc

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *