Vài nét về họ Thân trong lịch sử nước nhà

| 28/10/2015 | 0 Comments

Di sản | Thân Thị Tiệp ++

 Lời tòa soạn: Việc nghiên cứu về các dòng họ thông qua các gia phả, ngọc phả, thần phả hay các tư liệu gia truyền từ lâu đã tỏ ra là một công cụ bổ cứu cho sử học về một dân tộc học, đôi khi có thể đem lại những phát hiện chẳng những thú vị mà còn có giá trị pháp lý, như việc mới đây những bằng sắc liên quan đến quần đảo Hoàng Sa ban hành dưới triều Minh Mạng vừa được công bố. Tất nhiên mọi phát hiện đều phải chờ có sự thẩm định về phương diện khảo cổ, nhưng bản thân việc phát hiện đã có những giá trị của nó.

Bài viết dưới đây của tác giả Thân Thị Tiệp nói về một dòng họ xuất thân là thổ hào vùng biên địa nhưng đã gắn kết máu thịt với lịch sử Việt Nam,phần lớn chỉ nêu lên những gì nhiều người đã biết, nhưng có lẽ chỉ để làm nền cho một chút phát hiện. Trân trọng những nỗ lực của một người trẻ tự hào về dòng họ của mình, Văn Hóa Phật Giáo xin được giới thiệu đến quý độc giả với ý định cổ vũ những nỗ lực tương tự.

Vai-net-ve-ho-ThanKhi dời đô từ Hoa Lư về Thăng Long vào năm 1010, vua Lý Thái Tổ đã chủ trương một số chính sách mới về chính trị, văn hóa, kinh tế…với mục đích đem lại sự thịnh vượng cho đất nước và sự ổn định lâu dài cho vùng kinh đô mới. Một trong những chính sách ấy là tạo sự ràng buộc thân tình giữa các vị hào trưởng người dân tộc thiểu số với hoàng gia để tranh thủ sự ủng hộ của những tộc người vùng biên địa và tăng cường tình đoàn kết dân tộc. Chính sách này đã được thể hiện qua việc gả các công nương thuộc hoàng tộc cho các tù trưởng người thiểu số. Sử sách ghi nhận vị tù trưởng đầu tiên được vua Lý Thái Tổ gả công chúa cho là vị chủ động Giáp Khẩu ở phía Nam ải Chi Lăng thuộc Lạng Châu có tên là Giáp Thừa Quý. Sau khi gả con gái, Lý Thái Tổ còn cho đổi họ Giáp của vị chủ động này sang họ Thân. Từ đó, một dòng họ mới đã được khai sinh, dòng họ Thân, và đến nay họ Thân cũng đã có lịch sử gần một ngàn năm.

Thân Thừa Quý được công nhận là vị tổ họ Thân. Trong thời gian làm phò mã nhà Lý, Thân Thừa Quý đã trấn giữ một vùng núi non hiểm trở nằm ngay phía sau ải Chi Lăng gọi là Châu Lạng (phía Bắc tỉnh Bắc Giang và phía Nam tỉnh Lạng Sơn ngày nay). Ải Chi Lăng là một cửa ải mang ý nghĩa quan trọng đối với nước ta vì đây là con đường tiến quân chủ yếu của các triều đại phương Bắc mỗi khi họ muốn xâm lược Đại Việt. Thân Thừa Quý đã giữ vững được vùng đất xung yếu này và luôn thể hiện lòng trung thành với đất nước với dân tộc, trong lúc nhiều vị chủ động quanh đấy thường dao động khi bị Bắc phương mua chuộc. Con trai của Thân Thừa Quý là Thân Thiệu Thái nối nghiệp cha làm châu mục Lạng Châu đồng thời cũng được vua Lý Thái Tông kén làm rể, là chồng của công chúa Bình Dương, trở thành người thuộc đời thứ hai của họ Thân được làm phò mã nhà Lý. Đến đời Lý Thánh Tông, con trai của Thân Thiệu Thái là Thân Cảnh Phúc, tiếp tục nối nghiệp làm châu mục Lạng Châu, lại được nhà vua gả con gái là công chúa Thiện Thành, khiến cả ba đời liên tiếp của Thân tộc đều là phò mã của triều đại nhà Lý. Mối quan hệ hôn nhân giữa ba đời họ Thân với hoàng gia Lý triều đã củng cố vùng biên giới giữa Đại Việt với Trung Hoa ở suốt một dải đất từ ải Chi Lăng đến thung lũng sông Lục Nam, giúp người Việt đánh thắng mọi cuộc xâm lược của nhà Tống, giữ yên bờ cõi. Chính sử sách nhà Tống đã chép lại những lần các vị phò mã họ Thân mang quân sang tận đất Tống truy bắt những người dân Đại Việt trốn ra nước ngoài, và còn đánh bại quan quân nhà Tống ngay trên đất địch. Đối phó với cuộc xâm lăng Đại Việt vào năm 1077 do nhà Tống chủ trương giao cho Quách Quỳ làm thống chế, phò mã Thân Cảnh Phúc dưới trướng Lý Thường Kiệt đã hết lòng chống giữ những cửa ải hiểm yếu của thế trận quân Việt nhưng do nhà Tống mua chuộc được các thổ hào chung quanh khiến quân của Thân Cảnh Phúc lâm vào thế cô, phò mã Thân Cảnh Phúc đành anh dũng hy sinh. Ở đây chúng ta thấy rằng gia đình phò mã Thân Thừa Quý rất được tín nhiệm và trọng dụng trong thời kỳ xây dựng và mở mang kinh đô Thăng Long.

Trải qua chiều dài lịch sử, các thế hệ con cháu họ Thân đã định cư trên mọi miền đất nước. Sự có mặt của dòng họ Thân ở nhiều nơi như ngày nay là công lao to lớn của các bậc tiền bối. Trong công cuộc khai hoang mở cõi về phía Nam của người Việt, hậu duệ của các vị phò mã họ Thân triều Lý đã đóng góp công sức khai khẩn những vùng đất mới đầy gian khổ và nguy hiểm đồng thời phát triển dân tộc ở những vùng đất này. Theo sử sách ghi lại, vào khoảng đầu thế kỷ XIV, một vị quan họ Thân thường được gọi là ngài Thân Đại-lang đã được triều đình nhà Trần cử vào trấn thủ vùng đất từ phía Nam sông Gianh đến phía Bắc đèo Hải Vân (nay thuộc các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên). Ông đã cùng các họ Nguyễn, họ Đỗ lập làng tại An Lỗ (1). Ông được con cháu trong họ coi là ông tổ họ Thân ở Huế, hiện nay nhà thờ họ Thân ở Nguyệt Biểu (làng An Lỗ, huyện Quảng Điền) là nơi con cháu họ Thân trở về với cội nguồn trong những dịp lễ lớn của dòng họ. Năm 1470, vua Lê Thánh Tôn thân chinh bình định các vùng đất Chiêm Động, Cổ Lũy và Đồ Bàn (tức Quảng Nam, Quảng Ngãi, và Bình Định ngày nay) thành lập “Quảng Nam đạo”. Nhà vua đã cử ngài Thân Phước Cẩm là tổ họ Thân ở đất Quảng Nam và ngài Thân Văn Ngôn là tổ họ Thân ở đất Bình Định. Vào thế kỷ thứ XVIII, ngài Thân Đồng, hậu duệ của cụ tổ Thân Khuê từng thi đỗ tiến sĩ khoa 1628 và được cử làm phó sứ trong sứ đoàn sang kết hiếu với triều đình nhà Thanh, đã cử binh cùng Tây Sơn chống Nguyễn Ánh nhưng không thành công, sau đó con của ông là ngài Thân Đỗ Ngạc đã cùng thủ hạ vào Hà Tiên. Về những hoạt động dưới triều nhà Nguyễn, dòng họ Thân vẫn hãnh diện nhắc đến công nghiệp của Bố chính tỉnh Quảng Nam là ông Thân Văn Nhiếp trong việc chống giữ Đà Nẵng khi quân Pháp xâm lược Việt Nam năm 1858, tinh thần cần vương của phò mã Thân Văn Di và Đô úy Thân Đức Luận khi hai vị này quyết tâm theo Tôn Thất Thuyết phò giá vua Hàm Nghi, và của Thân Văn Phúc lãnh đạo nghĩa quân ở Yên Thế chống nhau với giặc Pháp. Tóm lại, họ Thân đã từng có mặt khắp mọi vùng đất nước trong suốt chiều dài lịch sử mở nước và giữ nước của dân tộc, luôn có những đóng góp ngay trong những thời kỳ khó khăn phức tạp của công cuộc mở mang bờ cõi về phương Nam và gìn giữ đất nước trước thế mạnh của quân xâm lược.

Về phương diện khoa bảng, người khai khoa Tiến sĩ cho họ Thân là ngài Thân Nhân Trung. Ông đỗ tiến sĩ khoa thi năm 1469 trong thời nhà Lê. Dưới triều Lê Thánh Tông ông là Phó soái hội Tao Đàn, trở thành vị trí thức đứng đầu cả nước và đã đóng góp cho niên hiệu Hồng Đức một nền văn trí huy hoàng. Trong tấm bia tiến sĩ đầu tiên được dựng ở Văn Miếu vào năm Nhâm Tuất 1442, lời của ông khi ông được giao nhiệm vụ soạn văn bia tiến sĩ Quốc Tử Giám, đã trở thành kim chỉ nam cho việc đào tạo nhân tài của các triều đại phong kiến tiếp theo, “hiền tài là nguyên khí quốc gia. Nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà nguyên khí suy thì thế nước yếu”. Ngay trong đời Thân Nhân Trung, hai người con của ông cũng đều đậu tiến sĩ trong các khoa thi 1481 và 1490 và một người cháu nội đỗ thám hoa trong khoa thi 1487.

Kể cả trong lĩnh vực kinh tế phát triển, hậu duệ của Thân Thừa Quý cũng đã có những đóng góp xứng đáng cho đất nước. Vào hậu bán thế kỷ thứ XVII, một vị võ quan trấn nhậm các vùng Kinh Bắc, Thái Nguyên và Lạng Sơn tên là Thân Công Tài đã không chỉ dốc sức lo cho việc trị an mà còn quan tâm sâu sắc đến việc mở ra các cơ hội làm ăn cho cư dân về mặt thương nghiệp. Chính ông là người tổ chức khai thông việc buôn bán với Trung Quốc và lập nên phố Kỳ Lừa. Có tài liệu nêu là ông có công cho san lấp đồi núi, mở mang đường sá để việc đi lại được thuận tiện nên đã thu hút được thương nhân nước ngoài, cho thấy ông có tầm nhìn chiến lược hơn hẳn các vị trấn thủ đương thời. Nhìn thấy được tầm quan trọng của việc buôn bán nơi đây, ông lập chợ tạo điều kiện cho người dân ở vùng biên giới qua lại giao lưu với nhau khiến phố Kỳ Lừa Lạng Sơn thời đó trở thành một nơi buôn bán sầm uất ở vùng biên giới phía Bắc. Ngày nay, Lạng Sơn cũng vẫn giữ vai trò là một cửa khẩu quan trọng trong việc trao đổi hàng hóa giữa Việt Nam và Trung Quốc. Công lao của ngài Thân Công Tài đã được người dân nhiều nơi lập đền thờ ghi nhận.

Tại Thừa Thiên, kể từ ông tổ Thân Đại Lang, các thế hệ sau đã nối tiếp sự nghiệp khai hoang mở đất. Họ Thân ở đây cũng có nhiều người đỗ đạt làm quan,đáng chú ý là chỉ họ Thân Trọng vì trong 12 vị khoa bảng họ Thân tại Huế thì có 8 người mang họ Thân Trọng, trong đó có phò mã Thân Trọng Di. Con cháu họ Thân Trọng đang bước tiếp con đường truyền thống hiếu học của cha ông. Dưới thời Tự Đức, khi ấy ngài Thân Văn Nhiếp đang là một vị đại thần đã nhiều lần dâng sớ can vua vì ông cho rằng “….Hoàng thượng có nước mà chẳng biết tiếc, làm tôi đâu dám tiếc cái chết mà không nói thực…”. Đó là lời khẳng khái ông thấy việc xây dựng Khiêm lăng quá tốn kém khiến nhân dân lầm than. Ông đúng là một vị quan yêu nước thương dân thật đáng quý. Đọc những trang sử nói về các bậc tiên hiền, chúng ta thấy rằng tiền nhân đã để lại cho con cháu những giá trị truyền thống cao đẹp, những giá trị tinh thần quý báu, đó là tấm gương kim cổ mà con cháu phải noi theo.

Ngoài các vị danh nhân họ Thân có công lao với đất nước đã được ghi vào sách sử, cũng còn có những người được ghi danh trên bia đá của làng xã nơi họ cống hiến. Hiện nay ở thôn Chùa, xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang có ngôi chùa tên chữ là Sùng Quang, còn lưu giữ tấm bia ghi lại công lao ngài Thân Thạc Vọng. Ông làm quan dưới thời chúa Trịnh Tráng, có phu nhân Dương Ngọc Yến là người đức hạnh nhân từ lại hâm mộ Thiền tông, một lòng kính Phật. Ông đã đứng ra làm hội chủ khởi công việc trùng tu ngôi chùa cho khang trang hơn. Trong văn bia (1) dựng lại chùa có đoạn ghi “… sơn vẽ nguy nga sừng sững một vùng làm cho cảnh tượng thêm sáng sủa, cùng rèm châu lấp lánh, khánh ngọc lung linh, tượng Phật cao quý tôn nghiêm ngự trên đài sen, tượng kim đồng, ngọc nữ bày khắp điện quỷ. Ngoài vườn thập phương cúng muôn loài hoa quý. Tàng lọng muôn sắc như rừng tùng, thật như cảnh trần thế.

Rừng bồ đề tươi tốt
Đạo Phật mãi sáng ngời

Phát nguyện như vậy để thờ Phật thật là làm việc một thời mà lưu danh vạn thế….”.

Mặc dù quan trường bận việc, ông luôn luôn quan tâm đến đời sống văn hóa tinh thần của người dân quê hương. Ngôi chùa đã trở thành trung tâm sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng tôn giáo, văn hóa lễ hội của người dân nơi đây. Ngoài ông Thân Thạc Vọng, một vị nữa là ngài Thân Đắc Thọ cũng được lưu danh trên bia để ghi nhận công đức của ông về việc ông đã cúng một phần ruộng cho chùa góp vào sinh hoạt chốn già lam. Tuy công hạnh nhỏ nhoi, hai ông đã góp phần duy trì nếp sống văn hóa tinh thần, giá trị truyền thống tín ngưỡng tôn giáo của người dân quê hương.

Trong thời kỳ đổi mới, đất nước đang trên con đường phát triển hội nhập, hậu duệ họ Thân trên khắp cả nước đang chung tay xây dựng đất nước trong mọi lãnh vực hoạt động của xã hội. Con cháu họ Thân ngày nay đang bước tiếp những trang sử vẻ vang của cha ông và vào năm 2010 sắp tới, họ Thân đón hai đại lễ lớn, đó là kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long và 1.000 năm Thân tộc.■

Chú thích:

Văn bia này đã được ông Nguyễn Văn Mẫn, ở xóm Chùa, xã Tăng Tiến, huyện Việt Yên,tỉnh Bắc Giang, là cán bộ văn hóa Unesco Việt Nam, tổ chức dịch ra tiếng Việt.

Sung-quang-tuTạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 91

(Visited 2,055 times, 1 visits today)

Tags: , , , , , , , , , , ,

Category: Di sản, Thân Thị Tiệp

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *