Bắt trẻ đồng xanh

| 13/04/2016 | 0 Comments

KHÁNH UYÊN |bat-tre-dong-xanh

Bắt trẻ đồng xanh là tựa bằng tiếng Việt mà vào khoảng các năm 1965, 1966 hai nữ dịch giả Phùng Khánh và Phùng Thăng đã đặt một cách thật tài tình cho bản dịch quyển tiểu thuyết The Catcher in the Rye, một tác phẩm nổi tiếng được xuất bản lần đầu ở Hoa Kỳ vào năm 1951. Với kỹ thuật cho nhân vật chính kể lại chuyện của mình ở ngôi thứ nhất, The Catcher in the Rye diễn tả những trải nghiệm trong thời gian vài ngày ở khu Manhattan, thành phố New York của cậu bé 16 tuổi Holden Caulfield khi cậu ta vừa bị đuổi khỏi trường Pencey Prep, ngôi trường dự bị đại học hư cấu tại một thành phố hư cấu Agerstown thuộc bang Pennsylvania. Câu chuyện của Holden Caulfield là một trong những ý tưởng và tình tiết rời rạc phản ánh chính xác lối sống thác loạn và lối nói dung tục của lứa tuổi thiếu niên Hòa Kỳ thời bấy giờ. The Catcher in the Rye là tước hiệu tự phong của nhân vật chính trong quyển tiểu thuyết khi cậu ta tưởng tượng rằng mình có nhiệm vụ bảo vệ trẻ em trong thế giới của những người lớn xấu xa, giống như việc bảo vệ những đứa trẻ chạy nhảy chơi đùa trong những cánh đồng lúa mạch đen bên rìa một bở vực để chúng đừng bị rớt xuống vực, dẫn xuất từ việc cậu ta nghe nhầm những lời hát trong bản đồng dao lấy ý từ những câu Gin a body meet a body, Comin thro’the rye, Gin a body kiss a body, Need a body cry? (Bẫy một người gặp một người, dọc theo con đường từ làng về nhà. Bẫy một người hôn một người, có vấn đề một người phải khóc hay không?) trong bài thơ Comin’through the Rye của nhà thơ người Ái Nhĩ Lan thế kỷ 18 Robert Burns. Trong truyện, tác giả cho Holden Caulfield nghe nhầm từ kiss thành từ catch. Nhân vật Holden Caulfield trong The Catcher in the Rye đã trở thành biểu tượng cho sự nổi loạn của lứa tuổi thiếu niên Hoa Kỳ. Tuy nhiên, chính bản dịch Bắt trẻ đồng xanh đã làm cho độc giả Việt Nam biết đến tác giả của nó, J.D. Salinger, người vừa qua đời ngày 28 tháng Giêng năm 2010, hưởng thọ 91 tuổi.Bat Tre Dong xanh

Jerome David Salinger sinh ngày 1 tháng Giêng năm 1919 tại New York. Thân phụ của ông là một người Ba Lan gốc Do Thái đã di cư sang Mỹ, còn thân mẫu là người gốc Ái Nhĩ Lan theo đạo Thiên Chúa, một điều mà Salinger chỉ được biết khi đã lớn vì ông vẫn được nuôi dạy trong môi trường Do Thái giáo. Trước khi vào trung học, ông vẫn theo học ở các trường công lập của thành phố New York. Khi vào học ở một trường trung học tư có tên là McBurney Private School, Salinger tỏ ra có khiếu viết lách và đã tham gia vào việc viết cho tờ báo của trường. Ông đã thực sự hoàn tất học trình trung học tại một học viện quân sự thuộc bang Pennsylvania và tại đó ông đã viết những truyện ngắn đầu tay của mình. Khi vào học ở New York University, ngay năm đầu tiên Salinger đã bị rớt nên thân phụ ông đã cho ông đến Vienna, Austria để học về việc kinh doanh nhập khẩu thịt gia súc. Khi Austria bị chế độ Quốc xã Đức sáp nhập vào Đức, ông vừa vặn thoát khỏi Vienna để trở về Hoa Kỳ và vào đại học một lần nữa, nhưng lần này ông bị cho thôi học ngay sau học kỳ đầu. Vào năm 1940, ông theo học một lớp dạy viết văn tại Columbia University. Dưới sự bảo trợ từ vị chủ biên của Story Magazine là Whit Burnett, ông đã có những truyện ngắn đầu tiên được đăng tải trên tạp chí này. Vào năm 1942, Salinger gia nhập quân đội và có mặt trong cuộc đổ bộ Normandie, cuộc đổ bộ để giải phóng châu Âu, Salinger đã tìm gặp Ernest Hemingway bấy giờ đang là một phóng viên chiến trường. Hai người đã kết thân và thường trao đổi thư từ cho nhau trong thời chiến tranh và một thời gian không lâu sau khi chiến tranh chấm dứt. Khi còn phục vụ trong quân đội, Salinger đã có những truyện ngắn được đăng trên Collier’sSaturday Morning Post, nhưng trong hai năm 1945-1946, những cố gắng gởi bài cho New Yorker của Salinger đã không có kết quả.

Vào năm 1948, truyện ngắn “A Perfect day for Bananafish”của Salinger gây được ấn tượng cho các vị biên tập của tờ New Yorker nên được tờ bào này cho phổ biến ngay và sau đó hầu như Salinger đã dành độc quyền cho New Yorker đăng tải truyện ngắn của mình. Vào năm 1949, hãng phim MGM đưa truyện ngắn “Uncle Wiggily in Connecticut”của Salinger lên phim với tựa đề là “My foolish Heart” nhưng nội dung phim đã biến đổi hầu hết những tình tiêt câu chuyện nguyên thủy của Salinger nên sau này ông đã không cho phép truyện của mình được dựng thành phim, kể cả những cố gắng của nhà đạo diễn kiêm sản xuất phim ảnh Steven Spielberg muốn dàn dựng phim từ quyển tiểu thuyết The Catcher in the Rye của ông.

Năm 1951, việc xuất bản The Catcher in the Rye đã bảo đảm một địa vị vững chắc của Salinger trong nền văn học Hoa Kỳ. tác phẩm này đã làm cho cá tính nhân vật Holden Caulfield trở thành một hình ảnh có tính biểu tượng trong thế giới văn học. Tác phẩm này cũng gây ảnh hưởng cho nhiều thế hệ nhà văn Hoa Kỳ, đặc biệt là các nhà văn thuộc trào lưu Beatnik như Allen Ginsberg và Jack Kerouac. Nó tiên đoán bản chất nổi loạn của cả một thế hệ trước khi sự nổi loạn ấy xảy ra. Tác phẩm này gây tranh cãi đến nỗi ngay tại Hoa Kỳ, có những nơi người ta cấm đưa nó vào trường học trong khi ở nơi khác nhà trường lại yêu cầu học sinh đọc như một tác phẩm văn học cần nghiên cứu. The Catcher in the Rye đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, đã liên tục nằm ở danh sách các tác phẩm bán chạy nhất của New York Times suốt 30 tuần lễ liên trong năm 1951 và đã bán được gần 100 triệu bản trên khắp thế giới.

Sau The Catcher in the Rye, Salinger cho xuất bản một số tác phẩm ở dạng phối hợp giữa truyện ngắn với tiểu thuyết hoặc các tuyển tập truyện ngắn, trong đó phần lớn tình tiết các câu chuyện xoay quanh những nhân vật của một vài gia đình hư cấu như gia đình Glass và gia đình Caulfield. Chủ đề chính của những tác phẩm này thể hiện mối quan tâm của Salinger đối với những vấn đề tâm linh trong đó có Thiền của Phật giáo, có Ấn giáo, có kỹ thuật Kriya Yoga, có những luận thuyết về siêu hình học của khoa học giả tưởng và cả khuynh hướng nghiên cứu khoa học của Thiên Chúa giáo. Vào năm 1965, sau khi tờ New Yorker công bố tác phẩm “Hapworth 16, 1924” của ông-người ta thấy ông rút lui khỏi văn đàn.

Thực ra, không phải đợi đến khi Salinger rút khỏi văn đàn người ta mới tò mò về ông. Ngay từ năm 1953, khi ông dời đến sống ở Cornish, New Hampshire, cuộc sống riêng tư của Salinger đã là đối tượng của nhiều mẫu chuyện ngồi lê đôi mách trên các trang báo lá cải lẫn vô số suy đoán mang tính văn học. Khoảng năm 1937, khi đang học ở Ursinus College thuộc New York University, Salinger đã bị thu hút bởi Oona O’neil, con gái của Eugene O’neil, một nhà biên kịch đã được trao giải Pulitzer. Hai người viết thư cho nhau hầu như hàng ngày, nhưng sau đó, O’neil nhận lời lấy Charlie Chaplin (danh hề Charlot) khiến Salinger bị choáng váng. Vào năm 1945, Salinger chung sống với một nữ bác sĩ người Pháp có tên là Sylvia nhưng chẳng bao lâu sau họ chia tay. Năm 1955, ông kết hôn với Claire Douglas, con gái của nhà phê bình nghệ thuật người Anh Robert Langton Douglas và trong cùng năm đó, hai người cho ra đời cô gái Margaret Salinger. Vào năm 2000, cô con gái này đã cho xuất bản một quyển hồi ký có tựa đề Dream Catcher tiết lộ một số chi tiết về cuộc sống kín đáo của bố mình. Cuộc hôn nhân của Salinger với Douglas cũng chỉ kéo dài đến năm 1967. Vào năm 1972, lúc ấy đã 53 tuổi, Salinger lại có những quan hệ tình ái với Joyce Maynar, một cô sinh viên năm đầu của Đại học Yale có viết bài cho tờ New York Times. Maynar đã bỏ học đến sống với Salinger tại Cornish, New Hampshire một thời gian để hoàn thành tác phẩm đầu tay của cô. Cuộc dan díu chấm dứt sau hơn mười tháng nhưng đã để lại những dư âm cho cuộc đời Salinger. Maynar thú nhận rằng khi cuộc tình với Salinger chấm dứt, cô cảm thấy mất phương hướng. Sau này, Maynar đã kể lại quãng đời tình ái giữa cô với Salinger.

Salinger có khuynh hướng sống ẩn dật và đã dành khá nhiều thời gian cho việc tìm hiểu về vấn đề tâm linh nhưng có lẽ những tìm hiểu ấy chỉ đủ để ông đưa vào tác phẩm của mình một số nhận định được đặt vào lời lẽ phát biểu của một số nhân vật. Suốt thời gian sinh sống ở Cornish, New Hampshire, ông không tiếp khách lạ, từ chối nhận thư từ và kiên quyết tránh các cuộc phỏng vấn. Trong một cuộc tiếp xúc hiếm hoi vơi các phóng viên của tờ New York Times vào năm 1974, ông cho biết, “Tôi thích viết. Tôi mê viết. Nhưng tôi chỉ viết cho tôi và cho sự thích thú của chính tôi”. Có người cho rằng Salinger còn nhiều tác phẩm đặc sắc hơn nữa chưa phổ biến. Giữa năm 2009, Salinger phá vỡ sự im lặng thông qua luật sư riêng khi ông yêu cầu luật pháp ngăn cấm việc phát hành một tác phẩm có nội dung tiếp nối câu chuyện trong The Catcher in the Rye.

Sau khi Salinger qua đời, dư luận Hoa Kỳ cho thấy sự ngưỡng mộ của công chúng đối với Salinger là lớn. Nhiều người vẫn hy vọng sẽ có những tác phẩm được công bố sau khi tác giả đã qua đời. Họ nhắc lại trường hợp của Frank Kafka. Tuy nhiên, cũng có người đã bày tỏ sự thất vọng khi thấy những người đại diện cho Salinger chưa có thông báo gì về di cảo của ông. Điều đó cho thấy Salinger thật sự có ảnh hưởng đối với công chúng đọc Hoa Kỳ. Với độc giả người Việt, ngoài Bắt trẻ đồng xanh, các tác phẩm khác của Salinger chưa được chuyển ngữ. Hy vọng trong thời gian tới, chúng ta có thể đọc được những tuyển tập truyện ngắn của Salinger để hiểu được vì sao ông đã khiến công chúng đọc Hoa Kỳ quan tâm đến thế.■

Bat tre dong xanh

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 100

(Visited 323 times, 1 visits today)

Tags: , , ,

Category: Đọc sách, Khánh Uyên

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *