Chiêm nghiệm theo con lắc thời gian …

| 23/03/2014 | 0 Comments

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 36 | ĐỌC SÁCH |  Võ Anh Minh

Đức Phật là nhân vật có thực của lịch sử Ấn Độ, của lịch sử tư tưởng nhân loại, không phải là sáng tạo của Hồ Anh Thái. Song cái mới là ở chỗ khi tái hiện hình ảnh Phật tổ, Hồ Anh Thái không đi theo lối “thánh hóa” như thường thấy trong kinh sách cổ, trái lại anh còn “bình dị hóa” hình ảnh của Đức Phật thông qua những chi tiết đời thường như bao người, qua đó nhấn mạnh được trí tuệ siêu việt của một thánh nhân, một con-người-thánh giữa cuộc đời đầy trầm luân khổ ải

Chiem nghiem con lac thoi gianKhông phải đến tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi, Hồ Anh Thái mới viết về Ấn Độ, viết về Phật giáo. Theo dõi sát bươc đường văn xuôi của anh sẽ thây đề tài này đã khởi nhen cách nay hơn 10 năm trong Tiếng thở dài qua rừng kim tước – tập truyện ngắn liên hoàn vơi đề tài tương tự. Ở đó, ta từng gặp Đức Phật, gặp tướng cuop81 Anguli Mala, gặp hoàng tử bất hiếu Ajatasattu, gặp nhà vua yêu con đến mê muội Bimbisara, giống như trong tiểu thuyết mới nhất, nhưng đó là những mảnh đơi riêng lẻ là những nhân vật của truyện ngắn. Giờ đây, bóng dáng của những nhân vật đó cùng những nhân vật mà tác giả mới sáng tạo trong một chỉnh thể tiểu thuyết để cùng nhau làm sáng tỏ hơn và bình dị thêm cuộc đời Đức Phật và giáo pháp. Việc sáng tỏ và bình dị ấy không hề đồng nghĩa với đơn giản hóa!

Thật vậy, Đức Phật, nàng Savitri và tôi không phải là cuốn tiểu thuyết dễ đọc, dù cho trong đó đầy những câu chuyện về Đức Phật (mà không ít người đã từng biết qua truyện tích Phật giáo) được Hồ Anh Thái kể lại.

Tiểu thuyết gồm một nhân vật trung tâm là Đức Phật và hai nhân vật chính; Savitri (nhân vật 2 trong 1) và nhân vật xưng “tôi” – nhà nghiên cứu văn hóa Ấn Độ (dù có tôn trọng yếu tố hư cấu sáng tạo của văn chương đến mấy, người ta cũng phải nghĩ ngay đến sự tương đồng giữa nhân vật này với tác giả). Theo bước chân của 3 nhân vật, người đọc liên tục đi đi lại lại giữa quá khư và hiện tại. Dể hình dung rằng tác giả đã tạo ra một con lắc thời gian bằng 3 nhân vật ấy để đưa người đọc đi – về. Mỗi lần đưa đi là một lần tri nhận về thời đại và cuộc đời Đức Phật, mỗi lần đưa lại là một lần giật mình thức tỉnh trong đời sống thực. Đúng như nhân vật “tôi” nhận định: Sau một chuyến du hành qua đời Phật, người ta không còn là người của trước chuyến đi nữa. Khi đi là một người khác, khi về lại còn khác hơn.

Không khác sao được khi chuyến du hành ấy không chỉ để du lịch thưởng ngoạn mà còn để chiêm nghiệm về cuộc đời. Chiêm nghiệm theo nhịp qua lại của con lắc thời gian.

Đức Phật là nhân vât có thực của lịch sử Ấn Độ, của lịch sử tư tưởng nhân loại, không phải là sáng tạo của Hồ Anh Thái. Song cái mơi là ở chỗ khi tái hiện hình ảnh Phậttổ, Hồ Anh Thái không đi theo lối “thánh hóa”như thường thấy trong kinh sách cổ , trái lại anh còn “bình dị hóa”hình ảnh của Đức Phật thông qua những chi tiết đời thường như bao người, qua đó nhấn mạnh được trí tuệ siêu việt của một thánh nhân, một con – người – thánh giữa cuộc đời đầy trầm luân khổ ải. Vì vậy, Đức Phật của Hồ Anh Thái mang nhiều nét khác lạ. So sánh sau đây sẽ minh chưng cho nhận định này:

Về ngày Phật đản sinh:

Theo Phật học khái luận (*) của Hòa thượng Thích Chơn Thiện: Hoàng hậu Ma-da sanh hoàng tử nơi cội hoa vô ưu, khi đang thưởng hoa trong vườn Ngự Lâm-tì-ni. Khi ra khỏi lòng mẹ, Thái tử oai nghiêm như một pháp sư đang bước xuống pháp tòa,  sáng choi như một viên hồng ngọc, thanh tịnh, không dính một chất dơ nào từ lòng người mẹ, chân Thái tử không chạm đất, có bốn thiên tử đỡ…Từ hư không có một dòng nước ấm và một dòng nước mát tăm gội cho Thái tử và Hoàng hậu. Thái tử đứng vững chân, mặt hướng về phía Bắc, bước đi bảy bươc có lọng trắng che, nhìn khắp mọi phương, rồi cất tiếng noi: “Ta là bậc tối tượng ở đời, Ta là bậc tôn kính ở đời, nay là đời sống cuối cùng, không còn sanh lại nữa” (trang 12); còn với Hồ Anh Thái: Maya đứng ở tư thế hơi khom người, hai chân dang rộng. Một bàn tay bám vào cánh cây là xuống ngang đầu người. Lúc ấy sản phụ phẩm hạnh nào cũng hát, thay cho tiêng kêu than khóc lóc (…). Cùng lúc Maya hat đến nốt cao nhất, như có một tia chớp phóng ra từ trong người, bà cũng gục luôn xuống. Đám nữ tì nhanh tay đỡ lấy cả mẹ cả con (…)Hoàng tử mới chào đời thì hoàn toàn tỉnh táo. Trắng hồng bụ bẫm. Xứ Ấn da trắng như vậy thì cũng coi như tỏa hào quang.

Về tang lễ của Phật:

Sách của hòa thượng Thích Chơn Thiện kể lại : Kim thân của Thế Tôn được bọc 500 lớp vải, đặt vào một hòm đầu bằng sắt, hòm này lại được bọc kín bởi một hòm sắt khác. Giàn hỏa thiêu làm bằng loại gỗ hương thơm. Giàn hỏa thiêu không thể bắt lửa cho đến khi Đại Ca-diếp về đảnh lễ dưới chân Thế Tôn. Khi thiêu xong, không có than hay tro còn lại, mà chỉ có xá lợi. Một dòng nước từ hư không và một dòng nước từ cây ta-la rưới tắt giàn hỏa. Dân Malla thì rưới tắt với các thứ nước thơm (trang 32); với Hồ Anh Thái lại khác: Cư sĩ tại gia vùng này ít ỏi. Họ không tiếc công mang hương hoa đến, Không tiếc lời chia buồn xuýt xoa. Nhưng tang lể thì không ai muốn đứng ra nhận. Họ ngần ngại nhìn nhau. Đùn đẩy cho nhau. Củi trầm lẫn củi thường thì cũng cần một số lướng lơn. Dầu bơ tinh khiết nữa. Phí tổn cho thầy tế nữa. Ai là người phải chịu phí tổn bây giờ? Bàn bạc phân công mãi. Đẩy qua đẩy lại mãi. Cuối cùng mỗi nhà mới chịu đóng góp một phần nhò. Vừa đủ mua ít củi thường (…). Đôi chân Phật bọc trong vải trắng vòn chìa ra khỏi bệ củi. Lượng củi gỗ thu thập được quá ít ỏi.

Với cách viết đó, trong chuyến du hành ngược thời gian này, Hồ Anh Tháiđã cho người đọc tiếp xúc Đức Phật ở khía cạnh là một người bình thường chứ không phải một vị thánh. Người sinh ra và mất đi không có gì thật khác biệt với con người. Tôi cho đó là thành công thứ nhất của anh. Nhưng Hồ Anh Thái cũng cho thấy con người ấy bình dị bao nhiêu thì anh cũng biết chọn lọc và móc nối rất nhiều chi tiêt lấy từ Phật sử lại với nhau để cùng lúc cho người đọc chiêm ngưỡng một tư tưởng minh triết siêu việt trong cái hình thưc giản dị khiêm nhường. Đó là thành công thứ hai.

Đầu tiên là việc hoàng tử Siddhartha xuất gia và đắc đạo trở thành Buddha (Phật). Hoàng tử của một vương quốc giàu mạnh, được tận hưởng một cuộc sống bình yên vô tư đến tuyệt đối lại sẵn sàng từ bỏ tất cả chỉ vì một câu hỏi giản đơn nhưng không phải ai cũng quan tâm và không phải ai quan tâm cũng có thể trả lời được, trước Siddhartha cả ngàn ẩn sĩ đã không thể giải đáp nổi: làm sao để chấm dứt mọi khổ đau cho chúng sinh? Đức Phật vĩ đại, hơn người ở điều đó. Vĩ đại nhưng không xa lạ. Tôn giáo của Người không đưa chúng sinh xa rời thực tế mà gắn bó thêm với cuộc đời, đưa con người sống thiện ngay trong cõi người ta. (Thực vậy, Niết bàn và Thiên đàng là hai khái niệm giống nhau. Niết bàn không ở cõi cao với nào cả, cũng không hẳn là kiếp sau, đó còn là trạng thái an lạc tuyệt đối với sự sáng rõ của trí tuệ nhằm xua tan bóng tối vô minh, xua tan tham, sân,si; vì vậy, Niết bàn ở giữa cuộc đời). Mỗi một người nhập Niết bàn là thêm một người nhìn ra chân tướng của khổ đau và biết thoát khổ, là thêm một người hành thiện trong bể khổ. Do vây, sau khi hiểu ra căn nguyên của khổ đau và tìm ra con đường diệt khổ, trở thành bậc Đại giác ngộ, Đức Phật không tận hưởng riêng mình mà Ngài bước vào con đường giáo hóa dẫn dắt chúng sinh thoát khổ. Ngài là người đầu tiên tỉnh thức bước vào hành trình đánh thức “cả thế gian đang mê muội say ngủ”.

Ở quãng đời này của Phật, Hồ Anh Thái viết không chút kinh viện, một điều rất dễ mắc phải nếu người viết muốn mình minh họa cho những Chuyển pháp luân, Tứ diệu đế, Thâp nhị nhân duyên, Hồ Anh Thái đã xây dựng tình tiết để Phật đi vào lòng người bằng chính những sự kiện mà Đức Phật bắt gặp trên con đường hành đạo. Một sự minh họa đầy ẩn ý cho giáo ly và nhân cách của người . Ấn tượng nhất phải kể đến là việc một người mẹ ôm xác con đến nhờ Người làm cho sống lại, việc thu phục tướng cướp Angulimalam cư xử bằng lòng bao dung trước tội lỗi của người em họ Devadatta… Triết lý của Đức Phật đi vào lòng người bằng cách đó, Hồ Anh Thái kể chuyện đời Phât chứ không giảng đạo Phật. Nó vừa làm Phật Tổ thêm gần gũi vừa để cho người ta ngẫm và ngộ ra “tính Phật”.

Những gì về Phật Tổ như vừa nêu trên, Hồ Anh Thái đã phác ra trong các truyện ngắn trước đây của mình (Chuyện cuộc đời Đức Phật. Đến muộn, Kiếp người đi qua). Nhưng hãy nhìn lại dụng ý nghệ thuật của tác giả trong cùng một vấn đề. Các truyện ngắn trước đây được tác giả sáng tác liên hoàn giống như câu chuyện biên niên về cuộc đời Đức Phật, qua đó diễn giải mộc mạc, sinh động các giáo lý cơ bản của nhà Phật và là sự cụ thể hóa các giáo lý ấy qua những tình huống trong đời sống (thông qua các ứng xử của Phật Tổ trên đường hành đạo); còn ở tiểu thuyết Đức Phật, nàng Savitri và tôi, tác giả muốn chứng thực các chân lý của đạo Phật qua một số phận dày dặn, sinh động, trong một cấu trúc mới và luồng ánh sáng mới.

Để làm được điều này, việc nhắc lại những chi tiết sự kiện trong các truyện ngắn trước đó là một hiển nhiên. Cái khác là ở chỗ Hồ Anh Thái luôn di chuyển điểm nhìn, di chuyển thời gian và không gian nghệ thuật giữa hai cực hiện đại và cổ đại, hiện tại và quá khứ một cách sinh động và linh hoạt để người đọc đối chiếu, suy ngẫm.

Đến đây không thể không nói đến sáng tạo lớn nhất của tác giả trong tiểu thuyết này là nhân vật Savitri, nhân vật được Hồ Anh Thái dựng lên để đáp ưng ý đồ nghệ thuật trên kia.

Nếu lấy ngôn ngữ quảng cáo để áp vào văn chương thì Savitri là nhân vật “2 trong 1”. Quả vậy, Hồ Anh Thái đã xây dựng 1 Savitri trong 2 kiếp sống. Tiền kiếp (cách nay hơn 2.500 năm) là công chúa Savitri, một đời yêu thương và theo đuổi Đức Phật theo cách của riêng mình và hiện kiếp là Nữ thần Đồng trinh đã giải nghệ Savitri với nghề hướng dẫn viên du lịch như một nghệ nhân kể chuyện đời Đức Phật (và cả chuyện đời mình). Vấn đề tác giả đặt ra nơi Savitri được lồng trong hai quãng thời gian đó.

Nhân vật Savitri là sáng tạo của Hồ Anh Thái 100%, nhưng cái tên Savitri thì không phải anh nghĩ ra. Đó là tên của một công chúa đức hạnh thủy chung trong truyền thuyết Ấn Độ, người đã dám giành lại mạng sống của chồng từ tay Thần Chết Yama. Còn Savitri của tiểu thuyết lại khác, vua cha đặt cho cái tên ấy để mong cô lơn lên thành người vợ lý tưởng, có học vấn có đức hạnh thủy chung. Nhưng cái tên không quyết định được con người, cái tên thanh khiết bao nhiêu thì con người ây lại trần tục bấy nhiêu. Cô có học vấn, nhưng đó là học vấn của Kama Sutra, của Dục Lạc kinh đã trang bị cho cô đủ vành đủe vẻ về kiến thức gối chăn, biến cô thành kẻ chỉ biết chạy theo và đuổi tìm dục lạc; cô có đức thủy chung, nhưng đó là lòng thủy chung với một hình bóng không tưởng là Đức Phật và một mục đích là chiếm đoạt thân xa của Đấng Giác Ngộ.

Với tiền kiếp ấy, Hồ Anh Thái muốn nói gì? Tác giả đã lấy ngay giọng Savitri hiện tại để kể về Savitri quá khứ, kẻ đã đốn ngộ đang kể lại quá khứ của mình như một sự sám hối; tác giả đã để cho Savitri kể lại bằng một giọng thản nhiên, thậm chí dửng dưng như kể chuyện người khac, không hổ thẹn, không né tránh. Cũng phải thôi, Savitri quá khứ không phải là Savitri hiện tại. đó là hai con người. Savitri quá khứ là kẻ tham ái, kẻ vô minh, Savitri hiện tại là kẻ phải gánh chịu nghiệp chướng và cũng là kẻ đốn ngộ.

Đức Phật đã chỉ ra rằng, nguyên nhân chủ yêu dẫn đến đau khổ là ham muốn dục vọng. Chính dục vọng làm cho con người ta không thấy được bản chất sự lý, tức là vô minh; do vô minh nên dẫn đến lòng tham ái, sự thù hận, sự mê muội. Có thể nói, ớ quá khứ, Savitri là kẻ vô minh. Cô là hiện thân của sự ham muôn,, được cụ thế hóa qua ham muốn xác thịt. Trên hành trình đeo đuổi hình bóng Phật 60 năm, tham vọng chiếm đoạt thân xác Phật ở cô không ngừng nghỉ. Và trong hành trình đó, Savitri luôn có những miếng bánh ăn tạm cho đỡ đói lòng là chàng Yasa, là tướng cướp Angulimala, là vị tiểu vương già, là chàng thương nhân qua đường, thậm chí là những anh chàng vãng lai. Một dục vọng không ngơi nghỉ, lúc trẻ cũng như lúc về già. Một dục vọng mê muội khiến cho Savitri trở thành kẻ say ngủ mà không biết được, không lý giải được vì sao chàng trai phong tình Yasa, cô hầu gái đam mê thể xác Juhi, kỹ nữ Usa, thậm chí kẻ giết người tàn bạo Angulimala, và nhiều nhiều người nữa lại có thể quy y Phật pháp. Nhục cảm của Savitri đã một lần giăng bẫy được Yasa nhưng chiến thắng không trọn vẹn và nhục cảm ấy thất bại hoàn toàn trước bậc Giac Ngộ. Kể về quá khứ của mình, Savitri đã nhận ra rằng: Dục lạc thống trị lên đời người, lên mọi kiếp người. Nhưng dục lạc trở thành độc tôn độc diễn thì dục lạc đi kèm tai họa. tai họa đầu tiên mà Savitri gánh chịu chính là nỗi cô đơn và sự sám hối muộn màng của cô. Hình ảnh Savitri ra đi sau lễ hỏa táng Đức Thế Tôn với cái bát đựng nươc ở lễ hiến tặng khu vườn cho Tăng đoàn, ra đi khi không trở thành tín đồ cuối cùng được chính Đức Phật truyền thọ lễ quy y là hình ảnh nhiều day dứt. Công chúa Savitri lúc này đã 60 tuổi. Chẳng lẽ kiếp sống này là vô ích đối với Savitri? Nàng không gia nhập giáo đoàn sư nữ, không có cơ hội để nhập Niết bàn, nhưng nàng là người từng trải nghiệm thế tục, chứng nghiệm những chân lý mà giáo chủ đúc rút được. Hồ Anh Thái đã hé mở cánh cửa để độc giả đến với Savitri như thế ở cuối tác phẩm. Theo đó, Savitri là tấm gương cho dục vọng soi vào mà suy ngẫm.

Tai họa nối tiếp tai họa. Savitri của ngày hôm nay phải gánh chịu cái Nghiệp do chính tiền kiếp của mình tạo ra. Hành động tạo nhân ở kiếp trước tạo quả ở kiếp sau. Cái Nghiệp mà Savitri mắc phải có nhân là lòng dục vô độ của cô. Chính cái nhân ấy đã tạo quả ở kiếp sau: Savitri trở thành Nữ thần Đồng trinh. Mà nữ thần đồng trinh giải nghệ rồi sẽ chẳng lấy được chồng. Vinh quang hay một sựtrừng phạt? Không ai dám cưới về vì các chàng trai đều sợ sẽ chết bất đắc kỳ tử khi lấy cựu Nữ thần Đồng trinh làm vợ. Một sự trừng phạt. Đã vậy, lại thêm một sự trừng phạt nữa, Savitri không thể gần gũi những người đàn ông mình yêu thương. Sự trả giá quá đắt.

Savitri hiện tại trở thành hướng dẫn viên du lịch. Thật đặc biệt, trước mỗi chuyến đi, cô luôn chủ động chọn người khách để cùng mình du hành trở về chuyện đời của Phật. Trước mỗi lần kể chuyện, Savitri đều cho tay vào những cái bao tải luôn mang theo bên mình có chứa câu thần chú được mở đầu bằng âm tiết “Om”huyền bí. Người Ấn cho rằng, suy tưởng về âm tiết “Om”có thể dẫn đến sự giác ngộ. Và quả vậy, sám hối của Savitri là sự sám hối của một người (có thể) đã giác ngộ sau một (hoặc nhiều) kiếp vô minh.

Hồ Anh Thái đã sáng tạo ra một chi tiết rất lạ để hé mở cho độc giả đóan nhận Savitri hiện tại là người đã, chính xác hơn là đang giác ngộ. Savitri có thể nhìn thấy khi mọi người xung quanh cô không trông thấy gì, nhưng cô lại không thể thây được gì khi người đời nhìn thấy. Savitri có thể nhìn xuyên qua những lớp sương mù, nhìn xuyên màn đêm nhưng không thể nhìn trong bóng chiều chạng vạng . Phải chăng người giác ngộ không thể bình thường giữa cuộc đời? Hay cuộc đời này không thể bình thường trước người đang thoát khỏi vô minh? Không biết được . Chỉ chắc chắn một điều, người tỉnh thức trong cuộc đời đầy kẻ mê muội say ngủ sẽ là người giác ngộ. Savitri đang có tư cách đó trong đời này, ít nhất là đối với nhân vật “tôi”.

Savitri là một nhân vật không dễ giải mã vì tác giả đã “nén” vào đó nhiều tư tưởng Phật học. Và như để “giải nén”, Hồ Anh Thái đã tung vào tiểu thuyêt nhân vật “tôi”trongthế tương tác cùng Savitri. “Tôi”trở thành kẻ chiêm nghiệm và kiểm chứng sau mỗi lần được Savitri đưa đi đưa lại trên con lắc thời gian.

Một gợi ý của người viết bài: Khi đọc Đức Phật, nàng Savitri và tôi là một thành quả khó mà kỳ vọng hơn. Đó là thành quả của riêng Hồ Anh Thái nhưng ý nghĩa lại chung cho người đọc. Khi rời khỏi cuốn sách này, ít nhất người ta sẽ phải ngẫm lại những hành vi của mình trong sự đối sánh với hai từ: Vô minh và Giác ngộ ; tiếp theo, có thể khẳng định thêm một điều, đó chính là sức sống của văn chương chân chính.

Tháng 5-2007

(*) Thích Chơn Thiện, Phật học khái luận, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, 1999

(Visited 144 times, 1 visits today)

Tags: ,

Category: Đọc sách, Võ Anh Minh

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

Facebook Auto Publish Powered By : XYZScripts.com