Nghĩ từ thơ Thái Kim Lan

| 17/02/2014 | 0 Comments

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 49-50 Xuân

NGUYỄN THỊ HOÀNGnghi-tu-tho-Thai-kim-Lan

 1– Như tiếng rơi từng giọt của vô thinh, tiếng đồng vọng đáp lại trong vũ trụ thu nhỏ từ đời kiếp nào hồn nhiên, phần trích vô tỉ lệ của  một huyền không mặc tịnh.

Như con chim chân tu không bao giờ nếm thịt, như hoa tuyết băng trinh không bao giờ điểm trang, chân thiện va kỳ mỹ thường hằng trong tạng thức, cho đến ngày lộ diện tươi cười, khi tia sáng mặt trời chân thể phản chiếu dịu dàng trong sấm chớp hào quang xúc động từ giai cảm tương ứng.

Mỗi một nhân vật rực rỡ nồng nàn cá tính trong ngoại giới vô tận ấy, chính là một li ti bụi hồng của hàng triệu-một-tôi-đánh thức. Nên cũng chẳng cần một đồng cảm giữa vật giới và tâm giới, mà chính là nhau, uộc giao hưởng hòa âm những tuyệt thể, dưới đũa thần nhạc trưởng tình yêu khoáng đại.

Xa nhà từ bao lâu? Đã từ lúc sinh ra nơi Cõi Khổ này, nhưng như là nơi từ biệt  quê nhà xa vời tít táp trên cao để về đây, để xuống đây, nên mãi hoài xa lạ, trong thân cận. Vì, cái cảm giác lạnh lẽo nhuốm khắp châu thân, đắm cùng hồn tính từ đấy, chỉ ấm áp yên vui khi bắt gặp thoáng qua chút bóng dáng hư huyền mà yêu dấu của chân trời cũ. Cho nên ta yêu người vô cùng tận, mà chỉ trong chớp mắt duy nhất trước khi ta và người mất hút trượt qua nhau.

Cái khoảnh khắc vô tận ấy âm vang suốt những kiếp phù du tại thế, nhưng kỳ thực chẳng có gì, chẳng là gì trong tâm thể hoàn không, vì ta phải sống cùng một-xung-quan quá thấp lùn hạ giới.

Tất cả vội vã, lướt trôi, thoáng qua, bằng tốc độ không khí, bằng thanh âm ánh sáng, vì ta đang rảo bước về nhà. Cái Cõi Gốc tưởng hàng triệu năm mới đến, mà kỳ thực đang mở cửa, dang tay đón đợi  trong chính tự thể chôn vùi, dưới sắc bóng phù hoa khoác mặc.

Trở về, về đến nơi, khi ta nghe tiếng mình gọi mình, kẻ lạ mà người thân bên trong Uẩn Thức thâm u. Gối  đầu lên Chân Thể, như trên chiếc lồng chim, như trên cánh bông hoa. Nghe mùa trở lại theo giọt mưa đầu tiên gióng gỉa hồi chuông từ Hải Đăng Biển Lớn. Ai nghe ra tiếng chuông từ Huyền Không ấy thì nghe lắng được, yêu mến được, chan chứa được cùng ta, chút xúc động dần khởi để yêu thương đích thực được Con Người trong Bào Thai Vũ Trụ cưu mang nó.

2- Đừng hòng tìm thấy nơi thơ Thái Kim Lan (TKL) những vần điệu du dương cổ điển, hay những chữ nghĩa gồ ghề của cái gọi là đương đại. nên không có gì cho những phê bình, nhận định, khen chê, trong và ngoài thơ. Chỉ à những góp nhặt, hoặc ngược lại, trang trải những nỗi niềm xúc động hồn nhiên của một thân phận, không chỉ về mình, mà về kẻ khác, khi đi qua chính cuộc đời mình.

Vì thế, thơ TKL ít mà nhiều, ít về những gì được góp nhặt để trang trải, mà nhiều , vì mỗi một hình ảnh, âm thanh từ ý tưởng, chất chứa và khêu gợi quá nhiều cảm nhận, về những sự việc, những tính cách, những ký hiệu được tâm giới hóa quanh cõi tạm bình thường này muốn nhận ra cái nhiều ấy, phải đi xuyên qua Triết  và Đạo để đến cùng. Không phải Triết Đạo đóng váng trong tàn thư hay cổ kinh, mà phần chuyển hóa kết tinh, như máu sau thức ăn, với một liều lượng đủ phóng hỏa Vẻ Đẹp và Nguồn Yêu khỏi thực thể đó.

Văn chương bác học  hay văn chương bình dân, chỉ khác nhau về ngôn từ hay phương thức diễn đạt, nhưng vẫn đồng nhất về một diễn cảm, khi, từ một ẩn dụ, một biểu tượng từ ngoại giới khúc xạ hay phản chiếu được nội tâm, vẫn là tín hiệu phát sáng được phương hướng và tính cách nhân vật, có thể rất thâm sâu trong lời giản dị, mà cũng có thể rất bình thường quen thuộc, từ những nguyên lý, định đề.

Nên, phải xuyên qua phía tươi sáng hồn nhiên để truy nguyên uẩn khúc hay ném vỡ giọt nước mắt, để cảm nhận được nguồn vui. Cái phức-thể nay ẩn náu rải rác trong thơ TKL, đúng hơn là trong hồi ức một cuộc  đời cuốn theo dòng nước nhưng luôn luôn tìm kiếm nhìn ngắm lại mình qua những mảnh thời gian rạn vỡ long lanh.

Chưa đi, đã muốn về. Chưa xa đã thấy nhớ. Đó là tình Huế, của người xa xứ đêm đầu tiên (Gặp gỡ).

Nơi dải phân cách ngôn ngữ giữa hai nền văn hóa giữa Đông và Tây, giữa tĩnh và động của đời và đạo, cô bé trẻ thơ mãi hoài thơ trẻ hồn nhiên, vì khởi nguồn từ Vô Tánh (Nói với người bạn Đức).

Mưa, phận người rơi xuống trần gian. Trần trụi đơn độc, thiếu vắng tình thân, hơi ấm, cảm thông. Trên tất cả là cảm giác thiếu một ấp ôm, vỗ về, che chở, từ một đoàn viên không đơn giản chỉ là gia đình, người thân, mà với một ai đó chính là mình không bao giờ có dẫu tìm kiếm trăm vòng trái đất, hay đã có rồi mà chưa theo về kịp trong hiện kiếp vẫn phải…chèo queo (Mưa sáng ở xứ người).

Nên đếm từng ngày cơn lạnh không cùng tận của đơn độc, cái khấc  thời gian li ti trong vô số kiếp một hành trình chuyển hóa.

Cái nhìn màu hồng tím phản chiếu tịch dương trong con mắt cực kỳ hội họa, phác thảo từng sợi bong bóng hay lông tơ mượt mà trên áo choàng vũ điệu bay lên nền trời nhuộm thắm ánh trần gian (Xuân sớm, Mùa xuân). Còn nhìn xuyên qua cái thấy, đối ảnh long lanh của sáng tối mất còn, là vẫn nhận ra chút Không Thể thơ ngây mông lung trong giới hạn chập chùng này. Mãi mãi xanh non, mãi mãi trẻ thơ, bất chấp biến hiện quen mòn của Sáng Tối..

Có em bé mồ côi quê hương, ngồi đâu đó trên bờ lưu lạc, nhìn ra Cõi Vắng Con Người, nhìn trái đất quay, thách đố thời gian bằng tri cảm cội nguồn  xuân xanh mình bất tận.

Mùa xuân đâu chỉ bốn mùa lặp lại trần gian.à cuộc sinh khởi bàng hoàng, chấn động vang rền vẫn chỉ trong sấm chớp ô tình, sau chuyển nghiệp. (Khi chạm phải chữ này trên bản thảo thơ đọc lướt đã muốn nói KL đổi chuyển nghiệp thành chuyển kiếp. Bởi theo chứng nghiệm, nghiệp không thể chuyển, mà ra khỏi nó, phóng thích khỏi nó bằng tiêu diệt được nguồn cơn nghiệp khởi). Nó không ngoài ta. Nó không trong ta. Nó chính là ta. Nên tất cả tràn ngập trên mỗi một, đã trở thành thiền tịnh, mà cũng chính là vũ điệu.

Vũ điệu  vô tướng nơi đôi chân. Sóng gió hồn nhiên bên bờ tóc, cái ta giòn giã tươi cười lao phóng về phía trước, trên những con đường cao tốc hồi sinh.

Thế nhưng thức tỉnh nào cũng còn vương âm ba của mộng, thề giới hư thực hòa hợp thu nhỏ vào tín hiệu biểu tượng tĩnh-động-sinh-thể là cuộc giao thoa dịu dàng giữa tâm và cảnh giải thoát (Buổi sáng bên hồ). Từ đó cái nhìn khúc xạ trong thiên nhiên vẽ đẹp thuần khiết, an tịnh, nét quyến rũ thiêng liêng thầm lặng của sự sống tắm đẫm hào quang từ sắc bóng chuyển hóa. Đức Phật, con chim, nụ cười, vạn giới hóa sinh làm một trở về Nguồn Cội.

Nhưng khi mưa về, mùa ấm, cõi người ta, những góc tranh não nùng thao thức ngoài dđời cũng còn làm ta xao xuyến, chạnh lòng (Hạ mùa), nỗi chạnh lòng của người tình-nữ lẻ loi. Đôi khi buông thả xúc động tự tìm kiếm trong bối cảnh vẻ đẹp rưng rưng, như ánh cười trong mắt, nhận ra mình chì còn mình. (Mùa hè).

Tần ngần nuối tiếc vẻ đẹp héo tàn theo thực thể, nhưng niềm yêu như cơn mưa trở về, đẫm ướt, thấm đượm hồn không, mãi mãi.

Một khúc phim nào xưa, Gregory Peck thả trái bóng lăn trên đường, khi quyết định vượt dãy Pyrenée về nhà thăm mẹ. Khúc phim này của TKL, thả ngọn lá đỏ bay trở lại bầu trời xanh, cảm hiểu được, cũng đủ cùng nhau qua bên kia bờ, mỗi một và nhiều hơn (Tiết thu).

Dẫu mỗi một hay muôn vàn ca vịnh, cũng chỉ là bay biến với đời cho đủ món (Ca vịnh). Quanh co, rồi cũng đến lúc phải chấn động vì cuộc phục sinh tuyệt vời kỳ ảo, trong vóc dáng và tính tướng người-đẹp-đàn-bà, đúng hơn femmer-enfant (Tuyết đầu tiên). Có lẽ tình yêu gỏ cửa bên ngoài, đâu đó, hay trong góc tối riêng tư chưa khám phá.

Trên tất cả qua thơ TKL là âm hưởng mênh mang, vời vợi của một lòng yêu chứa chan với thân phận người (Người ta tìm thấy em bị giết), với bạn bè thế giới (Việt tình), với bà con (Vie1t61 cho những người bà con di tản), với người đàn ông (Thư không bao giờ gửi) với mẹ (Tóc sâu cuả mẹ ), với chị (Tưởng nhớ chị), ngộ nghĩnh cho con (Cô bé Tường Nhi), với cả gáo nước mưa trong khi trở về nhà sau năm tháng tha phương. Lòng yêu ấy không tan nguội, nhập cùng khí thể, nên chiêu niệm  hay lặng căm, vẫn êm đềm theo hơi thở khổ vui.

Nhưng tình yêu lại không giống như lòng yêu ấy. Nó chớp sáng bất ngờ tromg khoảng tối, trong rỗng không, trong chán chường mệt mỏi, terong chao đảo cuồng điên mọi gánh nặng miệt mài cuộc sống vây quanh. Cái chớp sáng biến trở thành sức hút đủ nhận ra nhau, đủ nhận lấy nhau, và thế là…hỏa diệm sơn phun lửa. Không chỉ là một đoạn phim, mà một thiên sứ, đủ dệt nên chăn nệm ấm áp một đời yêu. Sau hỏa diệm sơn chỉ là phun xuất thạch. Rồi tro than. Điều còn lại là niềm hoang vu tịch mịch không cùng tận mỗi lần không phải nhớ lại, mà nhìn thấy toàn thể màn ảnh thầm lặng ấy thoáng hiễn trong không. Chẳng có gì mất. Chỉ là đã có, mà không còn. Ta không còn Em. Bởi vì Ta cũng chẳng còn Ta. Không còn Em lúc ấy và không còn Ta lúc ấy. Chỉ vậy thôi (Thiền luận về một câu chuyện tình).

3. Thôi không nói chuyển nghiệp hay chuyển kiếp. Mà chỉ là chuyển. Chuyển thể (như chuyển thể tiểu thuyết thành kịch bản phim, ở cái thồi điện ảnh tung hoành này). Chuyển một Être thành Néant, trong nghĩa hiện hữu trong hư vô hay trong hư vô có hiện hữu.Chỉ là một cách nói, hoặc nói đùa. Đúng điều muốn nói là chuyển tình qua Đạo. Đạo không hư vô. Đạo không hiện hữu. Mà Đạo trong hiện hữu, không cùng tận trong mỗi giới hạn, như vũ trụ cưu mang nuôi dưỡng lấy con người.

Cuộc đời cứ trôi, người cứ theo dòng, mọi thứ tưởng như còn chồng chất ngổn ngang trong cõi sống xung quanh. Nhưng không còn níu giữ được, không còn tác hại được, không còn ràng buộc được, bởi vì ta ra khỏi, đúng hơn là lên khỏi, những vòi độc của thuồng luồng  dưới những triền sông.

Chỉ một chuyển niệm, một xoay mình, ngồi xuống xếp chân, khoan hòa hít thở. Thế giới cứ tiêu tan, thế giới mới sáng ngời rộng mở. Một ngụm trà xanh, để tuần hoàn điệu sống luân lưu, để bình an cõi bờ tâm thể. Uống ngoài đời, vì khát. Uống, trongn thiền, vì hết khát. Hết luôn cả cái khát nhức nhối cuồng điên nhất là khát Ái năm xưa (Trở về với Thiền).

Với TKL, ở cây số đường đời này, ngồi xuống chỉ để đứng lên, để còn quay mòng mòng nhịp điệu thời gian.

Bà Eckermann cho là tác giả, căng thẳng giữa hai đầu thế giới, trong lời dẫn tập thơ LẠNH HƠN XỨ MÌNH của TKL. Có lẽ không một ai hơn bà ấy về việc xuyên qua (Triết, còn Đạo?) để đến với một trường hợp độc đáo.

Nhưng, như trong một góc vườn rừng nào đó, người đang viết có chút cảm nhận về TKL. Không hẳn luôn luôn tác giả LHXM bị căng thẳng giữa hai áp lực, níu kéo hay gọi mời, mà căng thẳng vì chính tự do chọn lựa của mình. Cái căng thẳng này thường trực đôi khi, vì những chèn ép, xô đẩy gau gắt của bờ bến này làm cho ý thức sáng tinh quyết liệt dứt lìa để qua bờ bên kia, nhưng bên kia lại từ chối những điều kiện khoác mặc ngoại thân một hóa trang bóng ảnh ngoài đời. từ đó chọn lựa ở lại bên này phố thị phồn hoa hay đoạn diệt tất cả để về bên kia bờ chỉ còn vắng lặng vườn rừng vắng hoe lạnh ngắt. Đó mới là nơi Lạnh Hơn Xứ Mình. Nên không thể, chưa thể.

Mỗi cuộc phóng vút chỉ là vòng chao lượn thể nghiệm để lại trở về với Ta trước, cộng sinh Ta sau lồng lộng mây trời. Từ ấy, không gian sáng ngời rạng rỡ, thời gian không lặp lại, mà mỗi ngày một mới, mời mọc ân cần. Nên không đoạn mà chuyển. Chẳng phải chuyển bây giờ, mà từ ngàn muôn năm trước. Chuyển mà cóc cần lay bởi thể tính đã là không khí.

Đường đi xa nhất của kẻ hành hương là lối về ngôi chùa tịch mịch  bên trong mình. Quét hết lá vàng khô, alu chùi hết bụi bặm, gõ tiếng chuông phóng sinh cái Ta lận đận nghin  muôn năm cũ bên bờ này, bay về bờ bên kia chỉ với một chớp mắt bàng hoàng nhận ra bóng ảnh mình đậm nét trong không.

TKL đã có khi căng thẳng giữa đôi bờ, đã có khi níu giữ bên này, rồi chao lượn bên kia. Nghiệp cứ chuyển, mà kiếp thì chưa, nên không phân vân bên kia hay bên này bờ.

Hãy là cầu nối giữa Này và Kia, giữa Chưa Qua và Đến Bờ. Để không còn lạnh hơn, Vì, xúc động chứa chan, Cứ tri cảm tuôn tràn. Nhưng không gì xúc nhiễm được vòm cao lồng lộng giữa hai bờ, đã bên trên, cách xa dòng nước chảy.

Lạnh hơn xứ mình, song ngữ Đức-Việt

NXB Phương Đông, 12.2007

Thuộc Tủ sách Văn Hóa Phật Giáo

NGUYỄN THỊ HOÀNG

(Visited 180 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Đọc sách, Nguyễn Thị Hoàng

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *