Ba ông già khó chịu

| 10/02/2017 | 0 Comments

Tản mạn cuối năm |  VŨ  THẾ  NGỌC

ba ong gia kho chiu

Đây là ba ông  già danh  tiếng  Phạm Duy, Nhất Hạnh và Nguyễn Cao Kỳ. Nhưng nếu nói như nguyên  văn lời ông Phạm Duy, người lớn tuổi nhất và là người duy nhất thân  thiết với hai người còn lại, thì phải ghi là “Ba thằng  già khó chịu nhất nước, chẳng ai bảo ai mà cùng về Việt Nam”.

Đó là ngôn  ngữ của Phạm Duy, khỏi cần phải chú thích. Tuy nhiên từ “khó chịu nhất nước” cần phải giải thích khá dông dài. Thứ nhất là cả ba người đều là người danh tiếng trong và ngoài nước. Với vị trí và quá khứ của họ trong tình hình Việt Nam lúc bấy giờ, ít người nghĩ rằng họ lại trở về Việt Nam, nói gì đến chuyện về cùng lúc. Trong nhiều năm trước đó, cho đến bây giờ, đời sống và việc trở về của họ vẫn tiếp tục là trung tâm của nhiều ý kiến khác biệt. Lẽ dĩ nhiên tôi không lặp lại các tranh luận và càng không viết về cuộc đời của ba người này. Họ đều là những người danh tiếng, đã và sẽ có nhiều bạn bè và người thân viết về cuộc đời và sự nghiệp của họ. Nhưng từ ngày họ về nước tôi đã muốn viết bài này và muốn  viết sớm hơn, khi họ còn sống, vì nhân đây viết về tâm tình của những người xa quê.

Sự kiện lịch sử 1975 đã khiến khá nhiều  người bỏ nước ra đi. Trong bối cảnh đương thời, nhiều người ra đi đều nghĩ rằng khó còn có thể có cơ hội trở về, cho nên mọi người dù có cách sống và hoàn cảnh khác nhau đều ít nhiều chia sẻ tâm tình đó. Tôi nhớ lần xuất bản quyển Bồ Đề Đạt Ma Tuyệt Quán Luận khoảng năm 1981, tôi có tặng cho một nữ văn sĩ, chị có nói một câu mà tôi còn nhớ đại khái “Anh tin tiếng Việt có thể sống ở nước Mỹ này hay sao?” Lẽ dĩ nhiên, đây cũng là ý kiến của rất nhiều người khác. Tôi cũng tin gần như thế, nhưng thay vì buông xuôi tôi lại làm ngược lại cố viết thật nhiều, đủ loại, với ý tưởng ngây thơ là làm một tủ sách văn hóa cho người Việt lưu vong. Lẽ dĩ nhiên sau đó tình hình thay đổi. Người Việt Nam đến Mỹ càng ngày càng đông và đã tạo thành  những  cộng  đồng  nho  nhỏ  ở nhiều nơi. Việc viết sách và làm báo Việt ngữ không những sống lại, mà còn là phương tiện nghề nghiệp của nhiều người. Đó là chuyện về sau, nhưng chưa phải là chuyện cuối vì những năm gần đây, hoạt động này lại đến một giai đoạn mới hơn nữa. Người Việt hải ngoại không còn nhiều người đọc và viết tiếng Việt nữa. Nhóm người lớn tuổi mua sách và đọc sách vốn đã ít, nay già và chết dần. Số người trẻ sinh ra ở Mỹ nói thạo tiếng Việt đã hiếm nói gì đến việc biết đọc. Lớp người mới đến cũng đông nhưng cũng không có nhu cầu đọc sách. “Văn hóa đọc” của người Việt xưa nay đã được nhiều người than phiền.

Trong thời gian này tôi cố tìm hiểu về các lưu dân Việt Nam như hậu duệ của các gia đình nhà Lý Trần Hồ Lê và cả những  vua nhà Nguyễn mới đây, lưu lạc nơi xứ người sống ra sao. Ngay cả những người kỳ tài như Tuệ Tĩnh, Nguyễn An, Hồ Hán Thương rồi cũng chỉ như những  tảng  muối, rồi cũng tan dần trong  biển… Tôi chợt nhớ một nhân vật nổi tiếng đã đi rồi trở về là Lý Ông Trọng. Ông bị tiến cống trong thời nội thuộc nhà Hán và được đưa di đánh quân Hung Nô; lập công lớn, ông xin được trở về quê nhà. Vài năm sau lại có chiến tranh, vua Hán triệu ông trở lại, ông đã tự tử để được ở lại quê nhà. Và cứ như thế, cái tình tự “ngã quốc, ngã dân” chỉ làm tôi lạc lõng bơ vơ hơn. Nhìn quanh những lưu dân đã sống yên ổn và lặng lẽ ở đây nhiều thế hệ cũng  không  làm tôi yên tâm  hơn. Lúc này lý thuyết “salad bowl” thường được nói đến. Đây là hình dung từ chỉ ý một xã hội đa dạng đa chủng, hòa hợp như một đĩa rau sống trộn nhưng vẫn giữ nguyên bản chất văn hóa của mỗi sắc tộc. Đây là một thiện ý và cũng phản ảnh phần nào thực tế xã hội. Nhưng nhìn quanh những nhóm thiểu số đặc biệt là nhóm Á châu Hoa Nhật, có thể là dưới cái nhìn có phần thiên lệch và chủ quan của người mới đến, tôi thấy nhiều người vẫn sống như kẻ mộng du. Tôi cảm giác xã hội Hoa Kỳ quá rộng lớn, làm tan biến nhanh những bản sắc đặc thù.HT-Thich-Nhat-Hanh

Tôi gặp thầy Nhất Hạnh lần cuối cùng ở San Jose vào khoảng  năm 1983 ở nhà cựu dân biểu Nguyễn Công Hoan. Lúc này gia đình anh mở nhà in và cũng lo in sách cho Lá Bối. Hôm đến thăm thầy, tôi đi với giáo sư Huỳnh Văn Hải, cũng là người quen cũ của thầy. Giáo sư Hải tức là vị thượng  tọa ngồi chung xe và đổ xăng cho Hòa thượng Thích Quảng Đức. Vô tình mà anh Hải và anh Hoan lần đầu tiên gặp nhau  ở đây. Trong lần gặp này, tôi biết thầy Nhất Hạnh đến Hoa Kỳ âm thầm và từ chối gặp gỡ nhiều người. Thầy có vẻ không vui, cũng không nói gì nhiều với Hải, mặc dù thời còn là tu sĩ, anh sống rất gần thầy, nhất là giai đoạn học xong MA ở Mỹ anh qua Paris học tiếp có ở chung  với thầy một thời gian. Có lẽ lúc này thầy Nhất Hạnh không phải chỉ buồn vì chương trình con tầu cứu “boat people” của thầy thất bại, mà càng buồn  hơn vì sự đánh phá liên tục của tờ báo Quê Mẹ, tờ báo Việt ngữ nổi tiếng thời đó. Vì tờ báo này không phải như các báo của nhóm Cần Lao cũ chuyên về các đề tài đánh phá Phật giáo. Trái lại, Quê Mẹ là “báo Phật giáo” nổi tiếng do Thi Vũ Võ Văn Ái chủ trương. Anh Ái lại là người đồng hương, đồng  đạo  và đồng  chí vì trong  suốt  thời gian chiến tranh Việt Nam anh làm việc sát cánh trong các hoạt động  với thầy. Sau vụ thất bại của con tầu vớt người vượt biển và “chiến dịch” đánh phá quá đáng của Quê Mẹ, thầy ít ra ngoài, từ chối tiếp xúc và lui về Làng Mai viết sách. Và có lẽ cũng vì việc này mà sau đó sách thầy viết bằng Anh ngữ tràn ngập nhà sách và thầy trở nên một tác giả về Phật giáo có rất nhiều độc giả. Mặc dù thầy nổi tiếng trên quốc tế, nhưng vẫn có nhiều nhóm người Việt chống  đối. Phê bình, kể cả phê  phán  chủ quan,  đúng  ra đó là hiện tượng  chung  trên  thế  giới đối với mọi cá nhân nổi tiếng, nhất là thầy là người nổi tiếng  trên diễn đàn thời sự về chiến tranh Việt Nam, là nơi cho đến bây giờ người ta vẫn không bao giờ có chung chính kiến. Nhưng trong cộng đồng người Việt, vấn đề khác biệt tư tưởng thường  biến thành  các vu khống thất thiệt và lăng mạ với mọi kỹ thuật “cắt dán”. Lẽ dĩ nhiên người bị vu khống có thể thưa kiện, nhưng thưa kiện là một chuyện tốn tiền và có thắng  kiện thì gặp  những  kẻ không  tiền  và cũng  không  danh  thì cũng như khôn; chưa nói đến nhiều người mong được thưa kiện vì muốn nổi tiếng. Đến thời đại internet khi ai cũng có thể phóng tin viết bài một cách vô danh và vô tội vạ, thì đúng là thời vàng son mới của trò chơi này. Ở Hoa Kỳ còn có những nhóm “quái đản” hơn cả Việt Nam, thí dụ như nhóm “flat earth” của những người tiếp tục tin rằng mặt đất phẳng, trên là thượng  đế và dưới là địa ngục như Thánh kinh đã dạy, hay nhóm  UFO nổi tiếng với vụ 12 kỹ sư uống thuốc ngủ (và chết) ở San Diego để nằm đợi phi thuyền từ ngoài trái đất bay đến đưa về đất hứa. Nghĩa là ở những  xã hội tân tiến họ vẫn có những  nhóm siêu quá khích, nhưng  may mắn là đại đa số quần  chúng  đều có trình độ tri thức cao nên hầu như không ai bận tâm đến các nhóm  người quá khích. Vì thế, chủ nhật mùa hè nào trong các công viên cũng vẫn có các “nhà tiên tri” vác biển “ngày mai tận thế” đi lại tự do giữa đám đông  vô tư nhưng  không ai thắc mắc. Các quảng cáo “Sắp hết năm, chỉ còn giới hạn số người lên Thiên Đàng” hay các nhóm  Hare Krishna mặc áo vàng trọc đầu nhẩy múa trong tiếng chuông  tiếng thanh la trên đường phố cũng bớt dần. Nhưng dường như trong thế giới mạng Việt ngữ thì “dòng chính” rất nhỏ mà râu ria thì càng ngày càng nhiều hơn.

Trong hoạt động mới, thầy Nhất Hạnh chỉ nói về các đề tài tu học của Phật học đối trị với các vấn đề thời đại vốn đang phá sản từ tri thức tâm linh đến môi trường thiên nhiên  xã hội, nên sách và các buổi nói chuyện của thầy rất phổ biến và thu phục được lòng tin yêu của nhiều  người Âu Mỹ. Nhưng các hoạt  động  hòa bình và chống  chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam vẫn là một đỉnh cao trong  sự nghiệp  của thầy, và tất nhiên đó cũng là một đỉnh điểm của các người không đồng chính kiến. Vì vậy tin thầy trở về Việt Nam lại xẩy ra một xáo động mới trong các cuộc chống phá trước đó vẫn âm ỉ. Các chống phá này không phải chỉ nhằm cá nhân thầy mà cả tập thể Phật giáo(2).CoPTT-NguyenCaoKy

Ông Kỳ thì nhiều người đã biết, là ông tướng diều hâu từng làm thủ tướng, phó tổng  thống, và còn rất nhiều  chiến hữu đàn  em, thế  mà cũng  không  thoát được các màn vu khống kinh dị – Tôi nói là chụp mũ chứ không  phải tranh  luận chính kiến bình thường. Một anh  bạn  nhà  văn, người thiếu  tá nhảy dù sống sót ở Charlies, một lần giận dữ nói với tôi “ông ta bảo chúng  tôi mang  M16 của Mỹ để bắn giết người Việt Nam.” Anh bạn này quả quyết đã nghe lời tuyên bố ấy trên internet. Tôi ngạc nhiên và không tin ông Kỳ khó mà có sơ hở như vậy. Ông Kỳ là một người mà tôi nghĩ người ta có thể phê bình nhiều thứ nhưng vốn là người khôn ngoan có tài ăn nói. Sau khi lùng trên internet thì quả thật ông Kỳ có nói câu gần như thế nhưng trong một toàn bộ ví von “AK 54 thì làm ở Trung Quốc, M16 thì làm ở Mỹ.” Với những “thông tin” tương tự, cho nên người ta không lấy làm lạ khi ông Kỳ mất ở Mã Lai Á thì các nhóm dọa khủng bố các chùa ở Orange County không nhận cho gia đình làm tang lễ ở chùa. Có một chùa đã nhận  lời nhưng  cuối cùng  cũng  xin từ chối vì nhận  được thư đe dọa. Sau đó một vị người Công giáo từ Orange County lên dự đám tang anh Đoàn Thế Ngọc – ông Ngọc là bạn ông Kỳ từ thời Hà Nội 1950 – nói lại với tôi với ý chê trách. Tôi nói “Nhà chùa làm như thế là không đúng. Tôi biết các ông, nhưng không ngờ người chết về quê mà cũng khó khăn như thế”.

Trường hợp ông Phạm Duy cũng không kém phức tạp. Cá nhân tôi từng ủng hộ quyển “Phạm Duy đã chết CoNS-PhamDuynhư thế nào” của một sinh viên Văn khoa thời 1960s. Tôi chỉ “hòa” với ông nhân từ hôm thân hữu gặp giáo sư Trần Văn Khê ở nhà  bác sĩ Bùi Duy Tâm trên  San Francisco. Lần này, đối diện và thẳng  thắn, Phạm Duy đã cho tôi thấy những  sai sót của mình khi phê bình ông. Tôi hiểu và từ đó thân với ông hơn. Đúng như lời Phạm Duy, tôi cũng như nhiều anh em trẻ thời đó “vì yêu Phạm Duy mà nhìn quá cao về Phạm Duy”. Như ông nói, ông là một nhạc sĩ – và là một nhạc sĩ chuyên nghiệp (hiểu cả theo nghĩa nghệ thuật lẫn nghĩa kinh tế, vì ông không giống như nhiều nhạc sĩ khác là giáo chức, quân  nhân,  công  chức hay làm nghề  thương mại). Thế hệ như tôi, vì yêu Phạm Duy mà trở nên ghét Phạm Duy vì muốn  nhìn ông như một triết nhân  với những  tiêu chuẩn lãng mạn “sống với hương hoa, ăn không cầu no…” hay như một hiện thân văn hóa với các lý tưởng  đạo đức Khổng Mạnh. Đúng như chính ông nhấn mạnh “Phạm Duy là một nhạc sĩ, chấm hết.” Và cũng  vì có tài và quá nổi tiếng, Phạm Duy có cái ngông  của những  người “bất cần đời” nên ông thẳng thắn và không cần che giấu. Tôi nghiệm ra rằng nhiều nhạc sĩ khác cái tài chỉ bằng một phần của Phạm Duy nhưng cái tật về các mục đàn bà hay tiền bạc thì chắc chắn chẳng  thua  ông, nhưng  họ dấu hoặc chẳng  có ai soi mói. Phạm Duy không  những  bất  cần mà còn nhiều khi thích thú với dư luận tàn ác về mình. Một lần gặp ông ở Sài Gòn, tôi có hỏi đùa “có báo ở Orange County nói anh về Việt Nam tuyên bố hăm thì còn xài được, băm thì chê.” Ông cười lớn “Thì tớ nói đấy, nói cho chúng  thích”. Rồi ông nheo  mắt cười và nói nhỏ “Cậu phải biết tuổi tám bó là như thế nào!”. Tôi đã đọc nhiều người viết về Phạm Duy, nhưng chỉ lần đi ăn cơm tây với ông ở Orange County cũng do bác sĩ Bùi Duy Tâm mời, tôi mới nhớ hai tính tốt của Phạm Duy mà ít người để ý là ông không hút thuốc và không uống rượu. Cũng trong lần này khi thấy ông thích ăn nhiều caviar, tôi hỏi ông có thấy ngon không. Ông không trả lời ngon hay không mà nói “món này đắt tiền lắm”. Đó là Phạm Duy, ông nói rất thực những sự thực đơn giản mà những người khác thường tìm cách che dấu.

Cho nên dù thời đại thay đổi, ngày xưa một người Hoa lưu dân ở Việt Nam phải đợi cả đời để trở về quê hương. Ngày nay, một người Hoa ở San Francisco xa cách quê nhà Phật Sơn cả một Thái Bình Dương nhưng có thể gọi điện thoại và nhìn thấy người thân bất cứ lúc nào, và chỉ cần sau mươi giờ bay anh ta đã có mặt ở quê nhà. Nhưng khoảng  cách không chỉ là khoảng cách không gian, cho nên nhiều người Hoa đã không trở về Đài Loan hay Đại Lục. Người Việt Nam cũng như thế và còn những  gian nan khó khăn hơn. Vì vậy tôi không ngạc nhiên khi thấy quanh  tôi có rất nhiều hội ái hữu, đồng  hương, đồng  tộc. Đó cũng  chỉ là một phản ứng phải có của những con người cô đơn cô độc bất lực.

Bi ca khả dĩ thương khấp
V
iễn vọng khả dĩ đương qui
T
ư niệm cố hương uất uất lũy lũy
D
ục qui vô gia nhân
D
ục độ hà vô thuyền
Tâm tư bất năng ngôn
Trường trung xa luân chuyển.

Bi ca là giọt nước mắt, nhìn xa như thấy về. Nhớ cố hương buồn đau biết mấy. Muốn về, nhà không còn ai. Muốn qua sông thuyền không có. Về đi không thể như nguyện, lòng rối bời như bánh xe quay… Một bài hát cũ của ông nhạc sĩ già vừa mất vang vọng “Chiều rơi trên đường vắng. Có ta rơi giữa chiều …” Một buổi chiều hai mươi tám năm trước tôi cũng đi trên con đường  này đến  tiễn biệt Krishnamurti. Ojai mờ mờ trong  sương lam, đó là điểm đến tối nay, nhưng sau đó về đâu?■

(1) Số là mấy  năm  trước,  có  người  gửi đến  Hội ái hữu Đại học Vạn Hạnh (mà tôi là hội trưởng  đầu tiên) một đoạn  phim màu về cuộc tự thiêu của ngài Quảng Đức. Người gửi đoạn phim còn chiếu lớn và chỉ rõ đường dẫn xăng cháy từ ngoài cháy vào (với ngụ ý ngài Quảng Đức bị đốt cháy, chứ không phải ngài tự bật diêm). Anh chị trên mạng có bàn tán xôn xao một lúc cũng chỉ làm tôi buồn. Buồn là vì các anh chị đều là người đứng  tuổi, vừa là người trí thức phần  đông lại là Phật tử mà không  biết hình ảnh cuộc tự thiêu lịch sử 11 tháng  6 năm 1963 này chỉ được ghi lại duy nhất và đầy đủ là loạt hình chụp trắng đen của ký giả Malcolm Browne (1931-2012) – Malcolm Browne được giải thưởng cao quí Pulitzer Price năm 1964 vì bộ hình này.  Còn đoạn  phim  màu  1 phút  39 giây kia là của nhà  làm phim  người Ý  là Gualtiero Jacopetti  (1919-2011) nổi tiếng với bộ phim “phục chế” Mondo Cane. Jacopetti  không cố ý làm giả, ông chuyên  làm phim “sockumentary” (tài liệu gây xúc động) tái lập lại các sự kiện nổi tiếng (thí dụ như đoạn phim công nương Diana bị đụng xe chết). Các đoạn phim phục chế được dàn dựng  khá công phu. Đoạn phim màu 1 phút  39 giây về cuộc tự thiêu của ngài Quảng Đức được tách ra rồi bị một số người khai thác và cố ý đánh lừa người xem ít hiểu biết. Không cần mở internet  coi về tiểu sử Malcolm Browne, Jacopetti hay bộ phim Mondo Cane, người hiểu biết coi kỹ đoạn phục chế 1 phút  39 giây này sẽ thấy ngay phim được dựng ở Thái Lan với các sai lầm dễ thấy: Cuộc tự thiêu có cảnh sát điều hành trật tự, chư Tăng Ni và người đóng giả ngài Quảng Đức không phải là người Việt Nam, mấy tấm biểu ngữ viết bằng  tiếng  Việt hoàn  toàn  sai chính tả, chiếc xe giả chiếc Austin nổi tiếng  cũng  sơn không  giống  màu, và nổi bật là địa điểm làm phim khác xa ngã tư quen thuộc Phan Đình Phùng, Lê Văn Duyệt (nơi có tòa nhà kiến trúc độc đáo vì nguyên là Tòa Đại sứ Campuchia). Tuy nhiên hiện nay đoạn phim màu 1 phút 39 giây này vẫn tiếp tục được đưa lên internet thêm cước chú “Dân biểu  CS Nguyễn  Công Hoàn đốt  Thích Quảng  Đức” đánh đồng ông Hải với ông Hoan.

 

(2) Trong dòng chảy lịch sử cận đại người ta luôn luôn thấy Phật giáo và Đảng Cộng sản giống  nhau  là đưa ra đường lối dân tộc. Không cần biết đúng hay sai, chủ trương hay chiêu bài, nhưng chính vì lá cờ dân tộc này đã khiến Phật giáo và Đảng Cộng sản có những nét trùng hợp bên cạnh nhiều khác biệt. Những thế lực khác Phật giáo, hoặc vì lập trường chính trị khác biệt hoặc vì bản chất “phi dân tộc” đã đánh phá Phật giáo phần nhiều vì chỉ thấy chỗ giống nhau này. ■

Văn Hoá Phật Giáo số Xuân 2015 218-219

(Visited 120 times, 1 visits today)

Tags: , , ,

Category: Kỷ Niệm, Nhân Vật

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *