Chưa từng quên lãng

| 09/12/2015 | 0 Comments

Thích Nữ Thuần Chơn

chua-tung-quen-langTrong ký ức đẹp đẽ của tôi về những mùa hạ đã qua, là những buổi sớm sau giờ công phu, trời Huế còn lạnh, khi tôi còn đang miên man trong giấc ngủ nướng vì chưa muốn rời cái chăn mỏng nhưng thật ấm của mình, sư tỷ tôi đã sang gọi dậy. Mắt nhắm mắt mở, quàng vội chiếc khăn len cho đỡ lạnh, tôi hí hửng cùng chị chở nhau đi… hái sen.

Nói là hái sen cho oai vậy chứ kỳ thực là đi mua hoa sen tại hồ. Ở Huế, mỗi lần đến mùa sen, những khu vực hồ có sen trồng nhiều như Tịnh Tâm, Thành Nội…những ông chủ sen thường chèo đò ra hồ từ sớm, cắt sen rồi bó thành từng bó lớn để trên bờ chờ khách tới mua. Khách thường là những mối quen, bạn hàng, buôn chuyến với số lượng lớn, đem cả xe hàng đến chở về, rồi sau đó sẽ tỏa sen đi khắp nơi để tiêu thụ. Ít có những người đi mua lẻ như chị em tôi, một phần người chủ sen có tâm lý ít thích bán lẻ, một phần để mua được sen đẹp, sen tươi người ta thường phải chịu khó đi vào giờ rất sớm, khi sương còn lạnh, lúc trời còn mờ mờ chưa sáng hẳn trước khi lớp sen đẹp đã được đưa đi, chỉ còn những đợt sen vớt lại. Đã vậy, chúng tôi trở thành những khách hàng đặc biệt của những ông chủ sen vốn chân chất, nhưng nóng nảy và cộc tính, khi chịu khó chèo thuyền ra giữa hồ trong cái lạnh thấm đẫm của buổi sớm mùa hạ, tự tay cắt cho chúng tôi những cành sen tươi khỏe, ưng ý nhất. Chị tôi cẩn thận, chọn lựa sen rất kỹ, ông chủ cũng chịu khó và kiên nhẫn vô cùng chiều ý chúng tôi mà không một tiếng phàn nàn…Rồi ông bó gần hơn trăm cành sen rất đẹp thành ôm lớn cho chúng tôi mang về; thời gian sau này khi chị tôi gửi tiền, ông luôn từ chối và mỉm cười dễ thương xin được dâng hoa cúng Phật.

Tôi nhớ mùa hạ năm đó, ngày nào chị em tôi cũng dâng hoa sen trên chánh điện để rồi lặng người đi khi mỗi buổi sớm thức dậy công phu, được chiêm ngưỡng những cành sen nở tròn viên mãn, hương thơm ngạt ngào khắp cả không gian, tưởng như không loài hoa nào có thể thanh tao và vô nhiễm hơn nó. Rôi khi những cành sen trút bỏ những chiếc cánh cuối cùng của mình để hóa thân vào một cõi huyền ảo xa xăm lúc nắng đã lên vào một ngày mới đến, hương sen thơm mát như vẫn còn đọng lại, hòa quyện cùng khói trầm hương, quấn quít theo những bước chân kinh hành niệm Phật của đại chúng sau mỗi buổi quá đường. Mấy chị em tôi lại ngồi cùng nhau sau hiên nhà Tổ, dưới bóng mát của giàn gấc không bao giờ ra trái mà chỉ toàn thấy lá liêu xiêu, nhìn lên bầu trời đong đưa đầy nắng, chị em tôi lại cắt những cánh sen đã được phơi khô thành sợi nhỏ rồi hôm sau đem hãm nước sôi để có được món trà sen thi vị dọn cho đại chúng dùng sau thời quá đường. Hương sen, trà sen…chỉ chừng đó chưa phải là tất cả những gì người ta có được từ sen, nhưng trong ký ức tôi,và có lẽ với nhiều người nữa, sen đã vẽ nên một bức tranh đẹp đẽ, thanh thoát và đạo vị…về một ngày mùa hạ ngát thơm. Chỉ vậy thôi mà thương, mà nhớ…

Rồi mùa hạ năm sau, sư tỷ tôi có duyên đi học xa, tôi cũng không còn ở gần chùa. Những sư tỷ khác của tôi có vị cũng đang đi học, có vị đang đi làm Phật sự ở tỉnh khác chưa về…Các sư muội của tôi thì đang tuổi ăn, tuổi lớn, hồn nhiên như những bụi cỏ mùa xuân, gặp dòng nước mát mà lên xanh vô tư lự. Không còn ai buổi sớm thức dậy, hì hụi đi chọn sen, ông chủ sen xưa giờ này vẫn còn cắt sen…hay đã nghỉ làm vì già yếu để lũ con cháu trong nhà nối tiếp công việc hái sen thi vị, thanh tao…nhưng không kém phần gió sương, gian khổ?! Đã lâu rồi, tôi cũng chưa về lại chốn xưa vào dịp mùa hạ để trả lời cho những câu hỏi của mình. Chỉ biết, mỗi năm đến hạ, hoa sen ở Huế vẫn nở nhiều, cung vẫn đủ cầu cho những bạn hàng buôn mối…cần lấy với số lượng nhiều, và cả những khách hàng đặc biệt khó tính như chúng tôi. Khi mỗi lần ngang chợ, qua những con đường nhỏ, bên bờ hồ phía Tây Nam thành phố tôi vẫn thấy người ta bày bán thật nhiều sen, sắc trắng, sắc hồng… bó thành bó 10 cành, 20 cành. Lại nhớ đến chùa hạ năm nào đã nằm yên một góc trong ký ức của mình, nhưng bỗng bồi hồi thức dậy khi bất chợt nhìn thấy sắc sen xưa, bất chợt được nghe mùi hương sen thơm ngát thoảng về…

Những ngày tháng sống xa thầy tổ, xa tỷ muội, với tôi, quả thật là những ngày tháng thật khó khăn, cho dù tôi vốn cũng là một kẻ đã từng “giang hồ”trên nhiều nơi chốn. Ngày tôi quyết định y áo chỉnh tề, cúi lạy thầy tôi trong phương trượng để ra đi theo nghiệp sách đèn. Thầy nhìn tôi mà không nói nhiều, chỉ nhẹ nhàng nhắc: “Nhớ lên chùa lạy Phật lạy Tổ mà đi…”Tôi nghe lời thầy, đem theo hai mảnh giấy nhỏ trong đó có viết chữ “đi”và “không đi”rồi lên chánh điện cầu Ngài Hộ Pháp, xin Ngài chỉ cho tôi một con đường phù hợp. Tôi nhớ mình đã mừng vui hí hửng vô cùng khi bắt được mảnh giấy có chữ “đi”. Đem xuống khoe với thầy thì thầy cười, rồi nói “Ừ, Ngài cho đi là được”. Vậy mà thấm thoắt cũng đã hơn hai năm…Ngày ấy thầy cho phép tôi khăn gói lên đường dự thi vào Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh khi tôi vừa gần bước qua tuổi thanh xuân. Thầy tôi dạy rằng: “Cho hắn đi học, không thôi sau ni già, học không vô nữa thì tội…”.

Hai năm đầu trôi qua với nhiều kỷ niệm buồn vui khác nhau. Có những lúc tôi cảm thấy mình lạc lỏng, bơ vơ và cũng cô đơn cùng cực, nhiều khi tôi chỉ muốn buông bỏ mọi thứ để về lại nơi chốn tôi luôn cảm thấy mình bình an, không nhiều phiền lụy. Ở đó, dù sao tôi cũng còn thấy tổ, còn tỷ muội của mình dắt dìu, nâng đỡ và nghiêm khắc mỗi khi tôi vấp ngã, lỡ lầm. Ở cái thành phố hiện đại và năng động nhưng thật không kém phần xô bồ, ồn ả này, có khi tôi cảm thấy ngột ngạt không lành… Nhưng rồi, những lúc ngồi suy tư trầm ngâm một mình trong góc phòng, khi xung quanh vắng lặng, tôi lại đem ra những cuốn sách mà các sư tỷ dặn tôi đi học phải mang theo, bất chợt bắt gặp được những bài học của người xưa, về những tư duy Thiền học, như câu chuyện của Thiền sư Ẩn Phong và Ngài Mã Tổ: “Đã tiến nhất định không lùi” hay “đưa chân ra thì không rút lại”. Khi đắm mình vào trong thế giới uyên thâm đầy trí tuệ đó, tôi nhận thức được mình cần phải làm gì. Để rồi lại bắt đầu hồ hởi cho một chặng đường phía trước…

Mùa hạ năm này, sức khỏe thầy tôi đã kém hơn rất nhiều so với hai mùa hạ trước. Những lần tôi gọi điện về thăm thầy, thầy mệt nên chỉ nói được vài câu ngắn gọn rồi gác máy. Tôi viết thư tay thăm hỏi sức khỏe của thầy một cách đầy hình thức bởi tôi biết mình sẽ chẳng làm được gì khi đang ở xa, đặc biệt trong mùa hạ này, khi tôi đã xoay sở đủ cách để có thể về chùa an cư cùng thầy và các tỷ muội. Nhưng duyên chưa đủ để có thể làm theo những gì mình mong muốn, tôi đành ở lại thành phố để an cư tập trung cùng đại chúng nơi ngôi chùa tôi đang tạm trú trong thời gian theo học. Tất cả mọi điều, tôi chỉ biết tự mình nỗ lực cố gắng thanh tịnh an cư trong ba tháng hạ, chấp tác, tụng kinh, niệm Phật, kinh hành, học tập giới luật…mong hồi hướng chút công đức nhỏ nhoi đến thầy tôi huyễn thân được khinh an, tinh thần nhẹ nhàng, thư thái. Ba mẹ tôi vẫn lên chùa những buổi cúng dường quá đường. Mẹ kể thầy nhắn tôi Tết này nhớ về…bây giờ cũng gần cuối hạ, còn một học kỳ mới phía trước, cũng gần 4, 5 tháng… Thời gian rồi sẽ trôi qua phải không, đến ngày tôi sẽ lại bước lên chuyến tàu Bắc Nam trong chuyến hành trình về lại miền Trung đầy nắng gió của mình. Nơi ấy, có thầy và các chị em tôi đang đợi…

Những mùa hạ tiếp theo chưa đến. Sẽ có một mùa hạ năm nào khi các sư tỷ của chúng tôi đi học xa trở về, có người đã hoàn tất công việc Phật sự…cảnh chùa lại rộn rã tiếng nói cười xưa, nghịch ngợm, tinh quái…nhưng kém phần đạo vị giải thoát. Có những sư tỷ sẽ tiếp tục ở lại chốn này, mang những gì mình đã học được, đã góp nhặt được nơi phương xa mà phục vụ đạo pháp, phục vụ chúng sinh. Cũng có vị khi thắng duyên đầy đủ, sẽ gầy dựng một nơi chốn mới để tiếp tục công việc hành đạo ích đời của mình. Lớp đàn em chúng tôi, có đứa rồi cũng như tôi, sẽ lại khăn gói lên đường đến những phương trời xa để học tập, hay cũng có người vẫn chuyên tâm sớm tối bên thầy, cần mẫn làm tròn nhiệm vụ của một vị thị giả mỗi chiều mỗi sớm…rồi cũng có vị tìm thấy được niềm vui trong những công việc thường nhật mà nhất quyết không chịu…đến trường (!). Thì dẫu vậy, dù ở hay đi, mỗi mùa hạ đều sẽ qua và rồi lại đến như một quy luật tự nhiên, giản dị, như những bông ngô đồng xứ Huế chỉ nở mỗi độ xuân về trong suốt một mùa dài, khi sang thu là bắt đầu rụng những bông hoa cuối cùng để trở về với cội nguồn của nó. Mỗi mùa hạ, ở chốn này, chúng tôi đã từng bên nhau từ thuở thiếu thời, cùng chia sẻ biết bao nỗi buồn vui, tương chao đạm bạc..Nơi đó chính là ngôi chùa đầu tiên trong cuộc đời xuất gia của tôi, nơi chúng tôi đã được thầy thế phát và được đắp những chiếc pháp y thiêng liêng mầu nhiệm…Cũng là nơi này, có những mùa hạ đã qua, và sắp đến..đầy kỷ niệm, đầy ký ức…Những mùa hạ ở Huế, nơi tôi có thể nhìn thấy những cánh sen nở tròn viên mãn trong thời công phu buổi sớm rồi lại lặng lẽ trút những chiếc cánh mỏng manh của nó khi ngày mới bắt đầu. Hoa sen là một biểu tượng cho ý niệm về sự vô thường, những mùa hạ rồi sẽ qua, những ký ức rồi sẽ cũ, nhưng trong tâm thức của riêng tôi, hình như chưa từng có một nhạt nhòa nào.■

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 93

(Visited 109 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Kỷ Niệm

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *