Losar, Tết Tây Tạng

| 15/03/2017 | 0 Comments

Diệu Ngộ |

Losar-Tet-Tay-tangNăm nay tôi ăn Tết đến ba lần: ngoài Tết tây và Tết ta, lại được hân hạnh dự ngày Tết Losar của người dân Tây Tạng. Nhân dịp này xin ghi lại một  vài nét  chính  trong nghi  lễ để thấy những  nét  đặc thù  của Phật giáo Kim Cang thừa có mặt hàng ngàn năm nay trên nóc nhà thế giới, quê hương của Đức Đạt-lai Lạt- ma thứ 14. Tết Losar được các dân tộc Nepal, Bhutan và Tây Tạng ăn mừng theo lịch Tây Tạng, năm nay nhằm vào đầu tháng  Ba dương  lịch. Tôi đến tu viện Gaden Samten Ling để cùng Phật tử đón mừng năm mới Tây Tạng trong thời tiết giá lạnh của xứ Canada.

 

Tu viện Gaden Santem Ling

Mặc dù ở đây rất ít người gốc Tây Tạng cư ngụ nhưng vẫn có ngôi già-lam do một nhà sư Tây Tạng thành lập nhằm giới thiệu văn hóa Phật giáo đến người bản xứ và hướng dẫn họ tu tập theo pháp môn Mật tông truyền thống  của dân tộc vùng tuyết  trắng  trên dãy núi Hy Mã Lạp Sơn. Tu viện Gaden Santem Ling được thành lập vào năm 1986 khi thầy Geshe Ngawang Kalden từ Ấn Độ đến định cư tại thành  phố Edmonton, Canada. Geshe là học vị tiến sĩ Phật giáo Tây Tạng. Thời gian đầu Phật tử cùng  thầy Kalden sinh hoạt  và tu học trong những  căn nhà thuê  lụp xụp cho đến năm 1997 mới mua một căn nhà nhỏ, nơi mà ngôi chùa hiện tại được xây dựng vào năm 2012.

Thầy Kalden viên tịch vào năm 1998 trong  tư thế ngồi kiết già chắp  hai tay mặt  hướng  về chân  dung Đức Đạt-lai Lạt-ma thứ 14. Thầy đi rồi, Phật tử cảm thấy trống  vắng bơ vơ nên ban trị sự đã cung thỉnh thầy Kusho Lobsang Dhamchoe  từ Ấn Độ sang để tiếp tục duy trì mạng mạch Phật pháp tại địa phương. Kusho là danh xưng của một vị cao tăng đã từng tu học dưới sự hướng dẫn trực tiếp bởi Đức Đạt-lai Lạt-ma. Phật tử ở đây gọi một cách thân mật là Kusho-la (tiếng đệm “la” để tỏ vẻ tôn kính). Thầy Kusho là một vị sư trẻ đầy nhiệt huyết, đã nhanh  chóng  tổ chức chương  trình tu học cho Phật tử, hướng  dẫn các khóa thiền căn bản cho sinh viên, nhân viên chính phủ và các công ty tư nhân, đặt kế hoạch  xây dựng  trung  tâm theo  kiến trúc Tây Tạng mà hôm nay lễ Tết Losar lần thứ hai được tổ chức trong ngôi chùa trang nghiêm ấm cúng này.

 

Khăn lụa cát tườngLosar-Tet-Tay-tang

Buổi sáng Tết Losar khi tôi đến tu viện, mặc dù thời tiết lạnh dưới 15 độ âm nhưng tất cả Phật tử đã có mặt đông đủ ngồi trên các tọa cụ chật hết chánh điện. Đa số là người da trắng, chỉ có vài gia đình người Tây Tạng, Mông Cổ, Trung Hoa và duy nhất một gia đình người Việt. Mọi người chắp  tay búp  sen miệng  nở nụ cười chào nhau bằng  lời chúc sức khỏe “Tashi Delek” theo tiếng Tây Tạng và chúc mừng năm mới “Happy Losar”. Đến giờ hành lễ Phật tử đứng nghiêm  chỉnh chắp tay cung thỉnh thầy Kusho bước vào chánh điện, một hình ảnh quen thuộc ở các chùa Việt Nam khi cung thỉnh chư Tăng Ni quang lâm bảo điện. Với khuôn mặt sáng ngời niềm vui đạo vị, thầy chắp tay chào mọi người và đảnh lễ Đức Bổn Sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Trước tượng Phật Bổn Sư mạ vàng là bức hình lớn của Đức Đạt-lai Lạt-ma thứ 14 đặt trên pháp  tòa. Thầy cung kính dâng  khăn lụa cát tường khata màu trắng và bột lúa mạch cúng dường Đức Đạt-lai Lạt-ma. Theo tập tục dân gian của người Việt thì màu trắng là màu của tang  chế nhưng đối với người Tây Tạng, khăn lụa trắng tượng trưng cho tâm  thanh  tịnh tinh khiết như tuyết  trắng  vùng  núi cao Hy Mã Lạp Sơn. Ta thường  thấy mỗi khi gặp một vị sư Tây Tạng, Phật tử nâng khăn khata trên hai tay cúi đầu cung kính xá thầy và được thầy tiếp nhận  khăn để choàng lên cổ người Phật tử như một lời chúc lành trong sự che chở của mười phương chư Phật.

Sau khi dâng khăn lụa khata lên Đức Đạt-lai Lạt-ma, thầy Kusho ngồi trên pháp tòa để Phật tử thay phiên nhau tiến lên dâng hai chiếc khăn lụa khata, một cho Đức Đạt-lai Lạt-ma và một  cho thầy để thầy choàng vào cổ và đọc câu thần chú “Om Mani Padme Hum”, tức thần chú lục tự đại minh Án Ma Ni Bát Di Hồng mà ta thường tụng trong các khóa lễ để tịnh hóa thân tâm.

Điểm khác biệt với Phật giáo Việt Nam là trong nghi lễ Phật giáo Tây Tạng, thầy trụ trì luôn ngồi trên pháp tòa quay mặt về phía Phật tử để thuyết pháp hay hướng dẫn tụng  kinh, đọc thần chú cho suốt buổi lễ. Nhiều người từng quen thuộc với hình ảnh Đức Đạt-lai Lạt-ma ngồi trên pháp tòa cao trong những buổi giảng pháp cho hàng chục ngàn Tăng Ni Phật tử khắp nơi trên thế giới. Tại buổi lễ Losar, một tấm hình lớn của ngài cũng được đặt trang  trọng  trên pháp  tòa ngay phía trước tượng Phật Thích-ca. Pháp tòa của thầy Kusho đặt ở vị trí thấp hơn bên phải, bên trái là một mạn-đà-la cát rất  đẹp. Mạn-đà-la này do các vị cao tăng Tây Tạng từ Ấn Độ trên đường hoằng pháp làm nên.

Sau khi thầy Kusho đọc thần chú cúng dường tam bảo, mọi người được thưởng thức hương vị Tết với một ít xôi ngọt Desi và trà sữa Chai. Thầy Kusho và vị trưởng ban trị sự ngỏ lời chào mừng Phật tử đến tham dự và nghi lễ mừng Xuân Losar theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng chính thức bắt đầu.

 

Quy kính Tam bảo

Namo Gurubhya, Namo Budhhaya, Namo Dharmaya, Namo Sanghaya

Chí tâm  đảnh lễ thầy, đảnh lễ Phật, đảnh lễ Pháp, đảnh lễ Tăng,

Với tâm thành quy kính ba ngôi Tam bảo,

Con nguyện suốt đời hành hạnh từ bi và trí huệ, Cho đến ngày đạt thành chánh quả,

Đcứu giúp muôn loài chúng sanh.

Ở đây ta thấy đầu tiên là đảnh lễ thầy, một nét đặc thù của Mật tông Tây Tạng, bởi vì thầy bổn sư là sứ giả của Như Lai trực tiếp hướng dẫn Phật tử trên đường tu học. Như ông bà ta thường nói “không thầy đố mày làm nên”; tùy theo căn cơ mỗi người, chúng  ta cần một vị thầy nhắc nhở và truyền dạy phương  pháp  tu tập thì mới mong đạt được kết quả viên mãn. Phật Thích-ca và các vị Tổ đã để lại cho chúng ta ba tạng kinh điển với tám vạn bốn ngàn pháp môn, mấy ai có đủ thì giờ đọc hết và nếu có đọc nhiều thì tự mình cũng không biết phải bắt đầu từ đâu và tu theo pháp môn nào để đi trọn con đường giải thoát. Vì thế vai trò của thầy bổn sư thật sự quan trọng cho việc tu tập. Thật may mắn ở địa phương nơi đây, tu viện Gaden Santem Ling có thầy Kusho, tu viện Trúc Lâm có thầy Pháp Hòa, chùa Phật Quang có thầy Đăng Nhật, các chùa Hoa, Thái, Lào, Campuchia v.v… đều có vị bổn sư. Lành thay Phật tử có được vị thầy hướng dẫn trên đường tu tập đạo giải thoát!

Tại  tu  viện Gaden  Santem  Ling, tụng  kinh bằng tiếng Tây tạng  chuyển âm qua chữ La-tinh và sau đó đọc nghĩa bằng  tiếng Anh. Phần trì chú thì đọc theo âm  của  tiếng  Sanskrit. Tiếng tụng  kinh trầm  bổng cũng giống các chùa Việt Nam, chỉ khác là không có chuông mõ dẫn nhịp nên lời tụng của mọi người so le không đều nghe như âm vang vọng lại từ các dãy núi cao trùng điệp trên vùng Hymalaya đầy huyền bí. Thầy Kusho giảng Pháp bằng tiếng Anh, tôi rất khâm phục khả năng Anh ngữ của thầy đủ để chuyển tải những lời Phật dạy và tạng luận Mật tông mặc dù thời gian định cư không lâu. Điểm đặc biệt của quý thầy Tây Tạng khi định cư ở các nước Tây phương  là nhanh  chóng  học sinh ngữ để có thể truyền dạy Phật pháp cho Phật tử người bản xứ. Phải chăng đây cũng là một phương tiện thiện xảo để xiển dương Chánh pháp và cứu độ chúng sanh! Viết đến  đây tôi lại nghĩ đến  sinh hoạt  tại các chùa Việt Nam hải ngoại hiện nay vẫn sử dụng  tiếng Việt với đa số Phật tử thuộc lớp người lớn tuổi. Không biết trong vài thập niên tới khi mà các thế hệ tiếp theo chỉ dùng  ngôn  ngữ bản  địa thì các chùa Việt có kịp thích ứng hay không, mong rằng sẽ có nhiều vị sư trẻ tiếp nối công tác truyền thừa Phật pháp tại xứ người.

 

Tám Đấng Thiện Thệ

Trở lại với lễ Tết Losar, sau phần đảnh lễ, Phật tử cùng đọc bài nguyện  Tám Đấng Thiện Thệ cho việc tu tập được thành tựu. Trong bài nguyện này Phật tử đọc tụng hồng danh và đại nguyện của tám vị Phật và tám vị Bồ- tát cùng chư thiên nữ và hộ pháp. Phật tử đem hết tâm thành tha thiết dâng lời cầu nguyện đến Phật Pháp Tăng và các đạo tràng trang nghiêm của chư Phật.

Con xin đảnh lễ Phật, Pháp và Tăng đoàn cao quý, Mong tất cả mọi việc đều tốt lành với chúng con! Con xin đảnh lễ Tám đấng Thiện Thệ,

Chỉ cần nghe hồng danh của các Ngài,

Cũng giúp chúng con tăng trưởng sự cát tường và thành tựu!

Con xin đảnh lễ Tám vị Đại Bồ-tát siêu việt, Ban cho sự cát tường và thành tựu!

Con xin đảnh lễ Tám vị Thiên nữ Cát tường,

Chỉ nghĩ tới những phẩm chất cao quý của các Ngài, Là đủ để sự thành tựu càng lúc càng tăng trưởng! Con xin đảnh lễ Tám vị Hộ trì thế giới,

Những bậc làm cho sự an vui và thịnh vượng tăng trưởng trong ba cõi!

Vi tất cả chướng ngại và phiền não đã được tẩy sạch, Cầu mong các công việc chúng con đang sắp bắt đầu,

Sẽ không ngừng phát triển đến thành tựu viên mãn, Và mang đến phước báu, thịnh vượng, hạnh phúc và an bình cho tất cả mọi loài chúng sanh!

 

Đức Đạt-lai Lạt-ma thứ 14

Sau đó Phật tử đọc bài cầu an cho Đức Đạt-lai Lạt- ma thứ 14, một nghi lễ không thể thiếu trong các ngày lễ truyền thống. Đây là những lời cầu nguyện cho Ngài được mạnh  khỏe sống lâu để dẫn dắt nhân  dân Tây Tạng và truyền bá Phật pháp đến mọi sắc dân trên toàn thế giới. Đối với các nước Tây phương, người ta không lạ gì khi nghe đến tên Ngài với lòng kính phục vô biên về hạnh  nhẫn  nhục và lòng từ bi thể hiện trong  các chuyến hoằng hóa độ sinh của Ngài.

Tôi nhớ lại phim Kundun do Công ty Phim ảnh Disney phát hành mà tôi đi xem cách nay khá lâu. Phim diễn tả lại cuộc đời của ngài từ khi còn là chú bé quê mùa trong tỉnh Amdo giáp giới với Trung Hoa cho đến lúc ngài vượt dãy Himalayas phủ đầy tuyết trắng để đào thoát tỵ nạn ở Ấn Độ. Lúc đó Đạt-lai Lạt-ma mới được 18 tuổi. Hành trình tỵ nạn gian nan của ngài đã khiến nhiều khán giả sụt sùi rơi lệ, tôi nghe có vài tiếng nấc vang lên đâu đó trong bóng tối rạp chiếu phim mà không cầm được nỗi xúc động  trong lòng. Khi đến biên giới Ấn Độ, ngài đã ngất xỉu trên lưng ngựa, được đoàn hộ tống dìu đi bộ qua biên giới. Quay nhìn lại quê hương lần cuối, ngài thấy rõ một viễn ảnh đen tối đầy chết chóc và đau thương sẽ xảy ra cho dân tộc thân yêu của mình. Người lính biên phòng Ấn Độ đứng nghiêm kính cẩn chào và nghiêng mình hỏi:

– Thưa ngài, xin ngài cho biết ngài là ai?

– Anh bạn thấy đó, tôi chỉ là một nhà tu bình thường.

– Có phải ngài là Phật sống?

– Tôi nghĩ tôi chỉ là một ảnh hiện, như bóng trăng dưới nước. Khi bạn nhìn tôi, và tôi là một người tốt lành thì bạn đã thấy chính bạn rồi đấy.

Phim dài hơn hai giờ kết thúc với hàng chữ trên màn ảnh: “Đạt-lai Lạt-ma chưa lần nào được trở về Tây Tạng, hy vọng sẽ có một ngày”. Người đóng vai chánh trong phim là một người cháu của Đức Đạt-lai Lạt-ma thứ 14. Trong khi xem phim tôi có một niềm vui nho nhỏ là biết được rằng thầy Kalden, người sáng lập tu viện Gaden Santem Ling ở đây, được đạo diễn Martin Scorsese mời đóng  vai một bộ trưởng trong nội các chính phủ Tây Tạng. Những hình ảnh bi thương trong cuộc hành trình tìm tự do vẫn mãi ghi trong ký ức tôi.

 

Om Mani Padme Hum

Phần cuối của khóa tụng niệm là Chenrezig Sadhana, tức là quán tưởng Bồ-tát Quán Thế Âm và tụng thần chú lục tự đại minh. Thầy Kusho hướng dẫn Phật tử ngồi theo dõi hơi thở và quán tưởng trên đỉnh đầu có vầng trăng giữa tòa sen trắng, theo Mật tông thì chữ Hri diễn tả pháp tòa này. Bồ-tát Quán Thế Âm với đôi mắt từ bi được cung thỉnh về ngự trên pháp tòa, Ngài chiếu tỏa ánh sáng năm màu đến khắp mười phương để cung thỉnh Đức Phật A- di-đà và chư Phật, Bồ-tát cùng chư thiên vân tập thành lập mạn-đà-la đạo tràng trang nghiêm  thanh  tịnh trên đỉnh đầu hành giả. Nhờ thần lực Bồ-tát và chư Phật, tất cả nghiệp chướng được tiêu trừ và hành giả thể nhập vào chân tâm thanh tịnh trong khi tụng câu thần chú sáu chữ “Om Mani Pedme Hum” nhiều lần.

 

Hồi hướng

Sau khi xả thiền, hành giả đọc bài hồi hướng thiện lành đến tất cả chúng sanh tương tự với bài tụng hồi hướng tại các chùa Việt Nam.

Dee tar gom day jee pay so nam jee

Với công đức thiền quán và tụng chú này,

Tất cả chúng con với thân khẩu ý thanh tịnh, Nguyện được sanh về cõi Cực Lạc,

Đcứu độ chúng sanh khắp cả mười phương

Lamrim

Mọi sinh hoạt  tại tu viện Gaden Samten  Ling đều bằng Anh ngữ với các thời khóa tụng kinh trì chú bằng song ngữ Tạng-Anh. Nơi đây thầy Kusho hướng dẫn Phật tử tu tập theo trường phái Gelugpa còn gọi là phái Mũ Vàng, một trong bốn trường phái chính của Phật giáo Tây Tạng: Nyingmapa, Gakyupa, Sagyapa và Gelugpa. Chương trình sinh hoạt hằng tuần vào ba ngày: tối thứ Ba có lớp giáo lý căn bản, tối thứ Tư học và thực tập thiền Lamrim và trưa Chủ nhật có lễ cầu nguyện  Puja. Ngoài ra, hằng năm có hai khóa tịnh tu vào tháng Ba và tháng Bảy trên núi Rocky Mountain. Nhìn chung, ta thấy chương trình sinh hoạt dày đặc của tu viện chứng tỏ giới  Phật tử da trắng tu hành thật miên mật, họ không quản ngại thì giờ eo hẹp trong cuộc sống hằng ngày để thu xếp tham dự đông đủ các khóa tu. Lành thay đạo pháp được thắp sáng và lưu truyền trong một xã hội đầy đủ vật chất nhưng vẫn không làm cho con người cảm thấy hoàn toàn hạnh phúc.

Lamrim là gì? Theo thuật ngữ Phật giáo Tây Tạng,“Lam” có nghĩa là “đạo”, “Rim” có nghĩa là “hệ thống”. Lamrim có nghĩa là hệ thống  con đường dẫn đến giác ngộ mà Tổ Atisha (A-Đề Sa) đã tổng hợp và biên soạn lại từ những lời dạy của Đức Phật. Con đường giải thoát được hệ thống hóa trong Lamrim bao gồm sáu phần chính yếu:

  1. Như Lai tạng, tất cả chúng sanh đều có Phật tánh,
  2. Kiếp người là cơ hội lớn nhất để đạt đạo Bồ-đề,
  3. Điều kiện cần yếu cho hành giả là được hướng dẫn bởi một thiện tri thức hay một vị thầy,
  4. Phương tiện đưa đến Phật quả là những bài pháp do thầy bổn sư chỉ dạy,
  5. Hành giả tiếp thu và thực hành giáo pháp để đạt đến từng cấp bậc trên đường giải thoát,
  6. Ý nghĩa cao cả nhất sau khi chứng ngộ là để xả thân cứu độ chúng sanh.

 

Puja

Khóa lễ Puja vào mỗi sáng Chủ nhật cũng tương tự như khóa lễ cầu nguyện tại các chùa Việt Nam, Phật tử dâng  phẩm  vật cúng dường  chư Phật, Bồ-tát để cầu nguyện các ngài hộ trì cho chúng sanh được an lành và vững tin trên đường tu học. Tùy theo chương trình mỗi tuần, Phật tử ngồi tay bắt ấn miệng đồng niệm các bài thần chú như chú Dược Sư, chú Đại Bi, chú Kim Cang v.v… trong không khí trang nghiêm thanh tịnh.

Bài ca chiến thắng

Trước khi thọ trai, thầy Kusho hướng dẫn Phật tử ra ngoài trời để cùng nhau tung hô bài ca Chiến Thắng theo phong  tục ngày Tết Tây Tạng để cầu nguyện  chư Phật, Bồ-tát và các vị thần linh chiến thắng  ác ma đem đến an bình hạnh phúc trong năm mới. Phật tử đứng vòng quanh một lò lửa đặt trước sân tu viện. Các nhánh thông được đốt lên và Phật tử cùng hát bài ca chiến thắng ba lần trong mùi thơm của gỗ thông:

So… so… so… ke ke so so hla gyalo! So… so… so… ke ke so so hla gyalo! So… so… so… ke ke so so hla gyalo!

(Chiến thắng… chiến thắng… chiến thắng… Cầu mong chư Phật, Bồ-tát và các vị thần linh luôn chiến thắng!).

Mọi người đều  hớn hở vui cười như không  màng đến thời tiết giá lạnh ngoài trời.

Thân chúc  tất  cả độc  giả và nhân  viên tòa  soạn Báo Văn Hóa Phật Giáo trọn một năm được bình an và hạnh phúc.■

Losar-Tet-Tay-tang-

Văn Hoá Phật Giáo số 201

(Visited 48 times, 1 visits today)

Tags: , , , , , , , , , ,

Category: Kỷ Niệm

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *