Vài ý kiến về thời đại An Dương Vương

| 23/07/2016 | 0 Comments

Bài & ảnh: NGUYỄN  VĂN  TOÀN

Vai-y-kien-thoi-dai-An-duong-VuongThời đại An Dương Vương  là một  “lỗ hổng” lịch sử. Tuy đã có nhiều lập luận về gốc tích của nhân vật Thục Phán và sự thành lập nước Âu Lạc được nêu ra nhưng các ý kiến vẫn trái ngược nhau. Dù sao chăng  nữa, giới sử học cũng đã công nhận triều đại An Dương Vương là một triều đại chính thống. Trên thực tế, di tích thành Cổ Loa đã được khai quật cho thấy có nhiều điều phù hợp với các truyền thuyết; và trong dân gian, lễ hội Đền Cổ Loa vẫn được tổ chức hàng năm để tưởng nhớ người đã lập ra triều đại nhà Thục. Ở đây, chúng tôi xin được nêu một số ý kiến về thời đại còn gây nhiều tranh cãi này.

Gốc tích của Thục Phán

Dân tộc Việt Nam trong giai đoạn lịch sử từ 218 ttl – 179 ttl đã chịu đựng một thời kỳ đầy biến động. Đó là lúc nhà Tần bắt đầu cuộc “Nam tiến” nhằm tiêu diệt Bách Việt và cuộc kháng chiến 10 năm thành công của nhân dân Tây Âu – Lạc Việt (218 ttl– 208 ttl); thời đại Hồng Bàng chấm dứt sau 18 đời vua Hùng (207 ttl); nước Âu Lạc thành lập, xây Loa Thành định đô (208 ttl); Nam Việt thôn tính Âu Lạc (179 ttl) mở đầu thời kỳ Bắc thuộc lần thứ nhất. Một điều dễ nhận ra là nhân vật Thục Phán An Dương Vương gắn liền với những biến động lịch sử này. Do đó, nghiên cứu về nhân vật Thục Phán cũng là để hiểu rõ hơn về giai đoạn cổ sử của dân tộc Việt Nam, một “lỗ hổng” vẫn còn nhiều sự hồ nghi cần bàn cãi.

Đại Việt sử ký toàn thư trong phần  ngoại kỷ, kỷ nhà Thục chép về An Dương Vương chỉ ghi cô đọng, “Họ Thục, tên húy là Phán, người Ba Thục, ở ngôi 50 năm, đóng đô ở Phong Khê, (nay là thành Cổ Loa)”. Tuy nhiên, trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục, sử gia triều Nguyễn có nhận xét rằng xứ Ba Thục ở tận Tứ Xuyên Trung Quốc cách Việt Nam rất xa, không thể nào Thục vượt hàng ngàn dặm để sang đánh lấy nước Văn Lang. Có lẽ nhận xét đó của cương mục đã khiến nhiều người bác bỏ việc Thục Phán là người Ba Thục. Nhà sử học Trần Trọng Kim cho rằng nhà Thục chép trong sử nước ta không phải là nhà Thục bên Tàu và Ngô Tất Tố còn khẳng định rằng nước Nam không có ông An Dương Vương nhà Thục. Khi các nhà nghiên  cứu dân tộc học phát  hiện truyền thuyết “Chín chúa tranh vua” của đồng  bào Tày ở Cao Bằng có nói về nhân vật Thục Phán, đã xuất hiện quan điểm cho rằng Thục Phán là một thủ lãnh của người Tày cổ ở Cao Bằng đã xuất quân đánh nước Văn Lang của các vua Hùng và cuộc tranh chấp này là giữa những người “đồng văn đồng  chủng”. Những người bênh  vực quan điểm này dựa vào những  phát hiện về thành  Bản Phủ ở Hưng Đạo, Hòa An, Cao Bằng và những  nghiên  cứu dân tộc học ở khu vực Cao Bằng để kết luận đã có một sự kế tục giữa Bản Phủ và Cổ Loa và cho rằng điều đó đã làm sáng tỏ giả thuyết Thục Phán là người Cao Bằng. Thế nhưng gần đây hơn, một số tác giả nhận xét rằng truyền thuyết “Chín chúa tranh vua” của người Tày Cao Bằng không chứa đựng chi tiết nào phủ nhận việc Thục Phán không phải là người bản địa, có nghĩa là Thục Phán vẫn có thể là một nhân vật ngụ cư sau một vài đời, và có khả năng nhân vật này vốn thuộc dòng dõi Khai Minh làm vua nước Thục ở Tứ Xuyên đã bị nhà Chu rồi nhà Tần tiêu diệt mà phải lưu vong. Các tác giả cũng nêu ra rằng đường từ Tứ Xuyên đến Quảng Tây rồi xuống đồng bằng Bắc Bộ không phải là không đi được. Và các tác giả đó có người đề nghị nên dè dặt với thuyết Thục Phán là người Cao Bằng, có người khẳng định Đại Việt sử ký toàn thư đã đúng khi viết Thục Phán là người nước Thục. Ở đây, chúng tôi thiên về những kết luận sau, và cho rằng cần có những nghiên cứu sâu rộng hơn trước khi có những kết luận mang tính khẳng định.

Về thời điểm Thục Phán diệt nước Văn Lang

Về điều này, Đại Việt sử ký toàn thư cho rằng Thục Phán diệt họ Hùng vào năm 257 ttl. Nếu như vậy thì bốn,  năm  chục  năm  sau, Thục Phán  lãnh  đạo  cuộc kháng chiến chống  Tần (218 ttl – 208 ttl) là ai? Theo “Lịch sử Việt Nam” (Viện Sử học – 1991) thì năm 218 ttl, Tần Thủy Hoàng huy động 50 vạn quân chia làm 5 đạo đi chinh phục Bách Việt, một đạo quân phải đào con kênh nối sông Lương (vùng An Hưng, Trung Quốc ngày nay) để chở lương thực; nhờ vậy, đạo quân do Đồ Thư thống lĩnh đã vào được đất Tây Âu, giết tù trưởng Dịch Hu Tống, chiếm đất rồi tiến vào Lạc Việt. Như vậy, thủ lĩnh Tây Âu là Dịch Hu Tống chứ không  phải là Thục Phán. Thục Phán chỉ là nhân vật cầm đầu cuộc kháng chiến 10 năm (218 ttl– 208 ttl) của người Tâu Âu – Lạc Việt khi Dịch Hu Tống đã bị Đồ Thư giết. Có thể hiểu là Thục Phán nhờ có thế lực dòng  họ Thục lưu vong của mình đã dần nắm được sự lãnh đạo đối với người Tây Âu sau khi Dịch Hu Tống bị giết, và từ vị thế này đã liên kết với người Lạc Việt của vua Hùng để chống Tần. Sau cuộc chống Tần thắng lợi, Thục Phán đã buộc vua Hùng thứ 18 nhường ngôi, lập ra nước Âu Lạc

Tuy nhiên, sử liệu Việt Nam vẫn mâu thuẫn  về điều này. Thậm chí có tài liệu cho rằng Thục Phán được vua Hùng thứ 18 “nhường ngôi” sau khi đã có công chống Tần. Nếu thế, việc này phải xảy ra trong  khoảng  thời gian 218 ttl – 208 ttl hoặc sau đó nữa, khi cuộc kháng chiến chống Tần đã kết thúc.

Chúng tôi có quan điểm sau đây: Thời điểm 257 ttl không thể diễn ra việc Thục Phán diệt họ Hùng và lập nước Âu Lạc. Thời điểm này Thục Phán và đồng  bào của ông ta đã nương nhờ tù trưởng Dịch Hu Tống trên đất Tây Vu, gần Văn Lang. Sau này, khi Dịch Hu Tống bị Đồ Thư giết chết, bằng sự lấn át của dòng tộc mình có thể Thục Phán đã cướp quyền lãnh đạo ở vùng đất Tây Âu và dùng  vị thế này liên kết với nhân  dân Văn Lang để chống Tần. Tuy nhiên, sau khi đã thắng lợi thì Thục Phán nhớ đến vinh quang  xưa của dòng  họ; và với dã tâm quyền lực, đã diệt họ Hùng để lập ra nước Âu Lạc. Chính vì vậy, Sử ký Tư Mã Thiên, bộ sử đầu tiên của Trung Quốc được soạn trong khoảng  109 ttl đến 91 ttl, đã viết nước Âu Lạc lập sau năm 208 TCN. Mốc thời gian này hợp lý hơn nhiều vì Sử ký Tư Mã Thiên có độ tin cậy cao hơn các tư liệu khác: nó là bộ sử gần nhất với sự kiện lập quốc Âu Lạc, quốc gia liền kề với Nam Việt và nước Hán ở Trung Quốc.

An Dương Vương lập quốc theo mô hình nào?

Một điều đáng  để suy nghĩ nữa là Thục Phán An Dương Vương lập quốc theo  mô hình nào? Mô hình của nước Thục đã diệt vong thời Chiến Quốc hay mô hình Văn Lang? Hay là một mô hình mới?

Mô hình nước Thục xưa được An Dương Vương áp dụng ở những chứng cứ sau: Việc dời đô từ vùng bán  sơn địa Phong Châu (Phú Thọ) về vùng đồng bằng Cổ Loa (thuộc Hà Nội ngày nay) chứng tỏ một bước tiến vượt bậc trong việc quản lý đất nước mà nước Văn Lang lúc trước vẫn chưa đạt được. Từ việc không có thành trì, phải nhổ tre đánh giặc như Thánh Gióng thời Văn Lang, nước Âu Lạc đã xây dựng thành Cổ Loa vững chắc, tinh vi với vị thế là kinh đô của cả nước, chế ra “nỏ thần” và phân biệt rạch ròi giữa vua và dân về nơi cư trú. Về “nỏ thần” có ý kiến cho rằng đó là sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, cũng có ý kiến cho là do Cao Lỗ chế ra nhờ cải tiến loại nỏ từng được sử dụng trong cuộc kháng chiến chống Tần hoặc là tiếp thu từ nỏ của quân Tần. Ta thấy về sau một số dân tộc thiểu số ở miền Bắc Việt Nam sử dụng nỏ cũng rất tài tình, nhất là trong cuộc kháng chiến chống Tống lần hai.

Mô hình Văn Lang được nhìn nhận ở những chứng cứ sau: Bộ máy nhà nước của nước Âu Lạc không có nhiều thay đổi so với bộ máy nhà nước thời Văn Lang. Đứng đầu  bộ máy hành  chính ở trung  ương  vẫn là Vua và Lạc hầu, Lạc tướng. Đứng đầu  các bộ vẫn là Lạc tướng. Đứng đầu các chiềng, chạ vẫn là Bố chính. Tuy nhiên, ở thời An Dương Vương, vua có quyền thế hơn. Con gái vua, như Mỵ Châu, vẫn được gọi theo cách gọi của dân gian Văn Lang. Mỵ Châu có nghĩa là con gái trưởng  của vua, khác với Mỵ Nương là công chúa nhưng  không phân  biệt thứ tự. Và tục ở rể vẫn thịnh hành  như thời Lang Liêu cưới được công chúa nên được nhường ngôi. Bằng chứng là Trọng Thủy của nước Nam Việt, một nước lớn và mạnh hơn, phải sang ở rể tại Âu Lạc.

Như vậy, mô hình Âu Lạc là sự kết hợp giữa mô hình Thục và mô hình Văn Lang. Chính vì điều này, nhà nước Âu Lạc đã có sự phát triển vượt bậc trong vòng 30 năm (208 ttl – 179 ttl), đủ sức đẩy lùi những cuộc tấn công của nước Nam Việt trong một thời gian khá lâu dài.

Sự phản kháng của người Văn Lang

Lịch sử ít nhắc đến  sự phản  kháng của người Văn Lang đối với nhà Thục. Tuy nhiên, qua nghiên cứu của cá nhân  chúng  tôi, chính sách cai trị của An Dương Vương khá chuyên chế và nhiều cuộc phản kháng đã diễn ra. Việc thành  Cổ Loa “xây rồi lại sập” nhiều  lần không phải là do nhà Thục không đủ kỹ thuật. Thực tế là kỹ thuật xây thành của nhà Thục rất điêu luyện và công phu. Kiến trúc kiên cố của Loa Thành phát hiện sau này với thành  cao, hào sâu, rộng, nhiều ụ, lũy và hàng vạn mũi tên đồng tìm được là những minh chứng điển hình.

Sự tích thành  Cổ Loa” cho rằng  thành  sập là do “hàng vạn thiên binh thiên tướng” và “con tinh gà trắng” quấy nhiễu. Rõ ràng các sự việc trên là không có thật. Sự thật  chỉ có thể là do những  nguyên  nhân  thực tế hơn. Đó là do người dân Văn Lang cũ bất phục tùng lẫn phá hoại trong việc phải phục dịch để xây dựng cung  điện cho một bộ tộc khác. Bởi Loa Thành là một kiến trúc có sự phân  biệt rạch ròi giữa vua, quan, thường dân đầu tiên trong lịch sử Việt Nam. Phong Châu, kinh đô của các vua Hùng thì không có sự phân biệt lớn về điều này. Và dĩ nhiên, sự phu phen, lao dịch nặng nề khiến cho người dân Văn Lang, nhân lực chủ yếu trong xây thành, vốn không quen với công việc này cảm thấy mình đang bị áp bức và cần nổi dậy đấu tranh. Trong “Sự tích thành  Cổ Loa” thì An Dương Vương đã mấy lần sai nhân dân đắp lại thành đổ chỉ trong một ngày. Nhưng chính khi xây lần đầu tiên An Dương Vương đã cho rằng thành  Cổ Loa là một tòa thành  có thể đứng vững muôn  đời, sấm sét không lay chuyển, mưa bão không làm sạt được, và quân giặc cũng không thể phá đổ. Điều này chứng tỏ An Dương Vương đã tàn bạo hơn hẳn Tần Thủy Hoàng trong việc xây thành và không hề tính toán gì đến công sức, xương máu của lao dịch vốn là nhân dân Văn Lang xưa. Về sự việc này, sử thần Ngô Sĩ Liên đã viết rằng: “An Dương Vương hưng công đắp thành  có phần  không  dè đặt sức dân, cho nên  thần thác vào rùa vàng để răn bảo, chẳng phải là vì lời oán trách động dân mà thành ra như thế ư?”.

Do đó, dù Thục Phán là “anh hùng  đánh  bại quân Tần” thì vẫn không thể xua tan tâm lý “bài ngoại” của cư dân Văn Lang vốn còn lưu giữ chế độ thị tộc rất sâu sắc. Việc An Dương Vương đánh bại quân Tần xâm lược thực chất phần lớn là do công lao của nhân dân Văn Lang. Nhân dân Văn Lang với truyền thống chống ngoại xâm có thể đã tạm liên minh với An Dương Vương để chống kẻ thù  lớn hơn,  là nước Tần. An Dương Vương, “kẻ thù của kẻ thù” đã trở thành  bạn của Văn Lang trong trường hợp như vậy. Và bởi Thục Phán cũng là thủ lĩnh ngoại tộc bị nhà Tần dồn đuổi mới chạy xuống vùng đất Văn Lang và đã cướp ngôi vua của Hùng Vương thứ 18 . Những cuộc chiến diễn ra giữa hai bên Hùng – Thục được miêu tả rất nóng bỏng và sinh mạng của người Văn Lang đã bị tàn hại rất nhiều. Theo truyền thuyết thì Sơn Tinh là một vị tướng quân Văn Lang chống lại Thục Phán An Dương Vương. Và những trận chiến giữa hai tập đoàn người ở vùng đất Văn Lang để tranh giành “không gian sinh tồn” dĩ nhiên là rất bạo tàn theo kiểu chiến tranh bộ tộc hay chiến tranh cổ đại với sự thương vong lớn, và luôn giết tù binh vì không đủ lương thực để nuôi. Bên cạnh  đó, đối với cư dân vừa thoát  thai khỏi chế độ thị tộc và xuất hiện sự hình thành dân tộc thì yếu tố ngoại lai thường gây ra sự khó chịu. Việc “bài ngoại” và “đào thải” của cư dân Văn Lang cũ dưới thời Thục Phán không phải là ngoại lệ. Thời Hai Bà Trưng, năm 40-43, hai bà vẫn nhắc đến “nghiệp xưa họ Hùng” chứ không phải nghiệp xưa nhà Thục và tên nước cũng là Lĩnh Nam (tên nước cũ thời Lạc Long Quân). Chứng tỏ dấu ấn Thục Phán là rất ít ỏi trong lòng người Việt.

Chính vì vậy nên  mới có chuyện  Thục Phán phải đăng đàn với trời đất để cầu thánh thần phù trợ. Việc  Vai-y-kien-thoi-dai-An-duong-Vuongnhà Thục tung tin rằng thần Kim Quy đến giúp sức xây thành, cho lẫy làm “nỏ thần” và ở lại ba năm chính là một thủ thuật gây “nhiễu” cho tâm lý người Văn Lang trước khi sử dụng bạo lực áp chế họ xây thành  và cai trị họ. Việc đứa con gái chủ quán và đám yêu tinh bị quân  của  An Dương Vương giết  chết  trong  truyền thuyết  có thể là nghĩa quân của người Văn Lang bất phục tùng vì lao dịch và sự cai trị của nhà Thục. Chúng ta đã từng suy nghĩ là chiếc “nỏ thần” vào thuở  ban đầu do tướng Cao Lỗ làm ra chính là thứ vũ khí để áp chế dân chúng  trước khi chống Triệu Đà không? Bởi Cao Lỗ là tướng của Thục Phán. Vị tướng này có công lao với nhà Thục trong  việc xâm chiếm thành  công Văn Lang. Tất nhiên, nỏ thần do ông chế tạo cũng là để bảo vệ nhà Thục dù trước nghĩa quân Văn Lang hay quân xâm lược Triệu Đà.

Chính vì nền tảng quyền lực như vậy nên Thục Phán mới đa nghi  với nhân  dân  nhưng  lại “hòa hiếu” với Triệu Đà. Sau này các tướng của nhà Thục đều bị Trọng Thủy gièm pha với An Dương Vương và họ đều bị giết chết  hoặc đuổi đi. Thậm chí đến  con gái mình cũng bị An Dương Vương  xem là “giặc”. Một sự bao  biện đến  kinh hoàng. Bởi Mỵ Châu rõ ràng không phải là giặc. Nhưng thần Kim Quy lại bảo là giặc và An Dương Vương tin theo. Điều đó có nghĩa mọi việc đều do An Dương Vương hoặc người đời sau bày vẽ ra. Bởi không có chuyện thần Kim Quy là thần tiên lại không biết rõ sự tình.

“Độc nhất vô nhị” thành cổ Cổ Loa

Khó có một tòa thành có nhiều sự độc đáo như thành cổ Cổ Loa. Các nhà khảo cổ học đã đánh giá đây là “tòa thành cổ nhất, quy mô lớn vào bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ”.

Gần 15.000m tường  thành  Cổ Loa đều  được  xây dựng bằng cách triệt để lợi dụng địa thế tự nhiên, đắp vòng nối với nhau nơi Trấn Nam môn, tạo thành  một hình xoáy trôn ốc nên được gọi là Loa thành. Cách đắp này cổ kim, Đông Tây chưa hề có. Thành Cổ Loa theo tương  truyền  gồm  chín vòng xoáy trôn ốc, hơn hẳn những tòa thành khác về số vòng thành (các tòa thành sau này chỉ có nhiều nhất là ba vòng thành).

Những gì đã phát hiện cho phép xác định rằng khu vực Tây nam thành Cổ Loa xưa là một“binh công xưởng” làm nhiệm vụ đúc mũi tên trang bị cho quân đội của An Dương Vương. Đến đấy người ta sẽ được xem tận mắt dấu vết của lò đúc, những phần còn lại của khuôn đúc, những  mũi tên đồng  ba cạnh đặc trưng Cổ Loa – sản phẩm  mang “thương  hiệu Việt” đã từng  nhiều lần gây kinh hoàng cho quân xâm lược. Ở Trung Quốc cũng có nỏ máy của Khổng Minh trong trận chiến với Mạnh Hoạch nhưng những cỗ máy bắn tên này chỉ nổi tiếng sau “nỏ thần” Cổ Loa hơn 400 năm.

Bên cạnh đó, hiếm có tòa thành  nào ở Việt Nam lại có nhiều truyền  thuyết  ly kỳ, hấp dẫn như thành  Cổ Loa. Từ truyền thuyết định đô (truyền thuyết Độc Nhãn Long), truyền thuyết  xây thành  (Sự tích thành Cổ Loa) đến truyền thuyết về sự thất thủ (truyện Nỏ thần, truyện Mỵ Châu – Trọng Thủy) đều được dân gian lưu truyền từ đời này sang đời khác như những ký ức không thể nào quên…

So với việc Lý Thái Tổ cùng bá quan văn võ thấy rồng vàng bay lên ở thành Đại La, dời đô từ vùng Hoa Lư về đây, sau đặt là Thăng Long thì truyền thuyết  về  việc An Dương Vương định đô xây thành  hấp dẫn hơn rất nhiều. Truyền thuyết  xưa kể rằng, An Dương Vương lệnh cho các thầy địa lý tìm khắp cõi Âu Lạc xem đâu có thế  đất  thịnh  vượng để dựng  kinh đô. Sau hàng tháng  trời tìm kiếm, các thầy báo về có một nơi được coi là đỉnh của vùng tam giác châu thổ sông Hồng, là vị trí đắc địa; bởi từ đấy có thể khống chế một vùng rộng lớn cả đồng bằng lẫn sơn địa. Đó chính là Cổ Loa. Khi quyết định rời đô từ Phong Châu (Lâm Thao – Phú Thọ) về, đoàn  thuyền  của vua chứng  kiến cảnh chín con rồng quần thảo một hòn ngọc lớn. Vua cho đấy là điềm lành nên chọn đúng nơi có chín con rồng quần thảo để xây chính điện (đền Thượng ở Cổ Loa bây giờ). Trong cuộc giao tranh, một con rồng khỏe nhất chiếm được hòn ngọc và ngậm vào mồm. Nhưng nó cũng bị hỏng một mắt sau cuộc chiến đó bởi chính An Dương Vương đã dùng  bảo kiếm của mình chọc thủng  mắt rồng để khắc phục bản tính hung dữ của nó.

Trong quá trình xây dựng, thành  Cổ Loa thường  bị sập, sau phải nhờ sức thần mới diệt được con tinh gà trắng mới có thể xây thành. Đó chính là “Sự tích thành Cổ Loa”. Tiếp đó, truyền thuyết “Mỵ Châu – Trọng Thủy” là một trong những câu chuyện có sức hấp dẫn được lưu truyền trong dân gian từ ngàn xưa. Đây cũng là tác phẩm mang dấu ấn bi kịch sớm nhất trong văn chương dân tộc. Bên cạnh bài học về việc cần đề cao cảnh giác với kẻ thù, tấm oan tình còn để lại những bài học mang giá trị nhân văn sâu sắc.

Cuối cùng, dân gian có câu: “Thứ nhất lễ hội Cổ Loa – Thứ hai hội Gióng, thứ ba hội Chèm”. Bắt đầu từ năm 1961, Lễ hội Cổ Loa được tổ chức vào ngày 6 tháng Giêng âm lịch, tương truyền là ngày An Dương Vương lên ngôi hoàng  đế. Làng Cổ Loa gồm 12 xóm nhưng hội Cổ Loa là của chung một cụm tám làng (ngày trước gọi là Bát Xã) gồm: Ðài Bi, Sàn Dã, Cầu Cả, Mạch Tràng, Văn Thượng, Thư Cưu, Cổ Loa, Xép. Cả tám làng này đều thờ Thục Phán nên đều tham gia tổ chức hội. Lễ hội là dịp để người dân địa phương nói riêng và người dân trên cả nước nói chung tưởng nhớ công lao của vị vua đầu tiên của nước Âu Lạc. Mặt khác, nước giếng Ngọc (tương truyền là nơi Trọng Thủy tự tử vì hối hận) nếu đem rửa ngọc trai thì ngọc sáng bội phần. Trong “Tang thương ngẫu lục” của Nguyễn Án và Phạm Đình Hổ thế  kỷ XVIII có chép  về việc Nguyễn Công Hãng sang Trung Quốc bị tướng nhà Thanh đòi nước giếng để rửa ngọc trai. Ông đã ứng đối giỏi mà phá được lệ đó. Nhân dân Cổ Loa hiện nay vẫn biết chuyện xưa kia chúng ta phải cống nước giếng Ngọc sang Trung Quốc để rửa ngọc trai.

Thông qua  những  luận điểm  trên  đây, chúng  tôi mong  muốn  góp một phần  lý giải thêm  về một thời đại hết sức biến động  và khá mơ hồ của dân tộc Việt Nam: thời đại An Dương Vương. ■„

Văn Hoá Phật Giáo số 201

(Visited 480 times, 3 visits today)

Tags: , , , , ,

Category: Lịch Sử, Nguyễn Văn Toàn

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *