Tác dụng của sự thấy biết trong sáng

| 02/08/2015 | 0 Comments

Viên Minh

 Có những vấn đề tưởng chừng như bạn không sao giải quyết được, càng suy nghĩ càng rối thêm. Nhưng khi bạn buông nó ra, ngủ một giấc thật ngon, rồi bỗng nhiên bạn lại thấy ra một giải pháp cực kỳ hoàn hảo. Cũng có lúc bạn cố nhớ tên một ai đó mãi không ra, nhưng khi thôi không cố gắng nữa thì bạn chợt nhớ lại một cách dễ dàng…

thay-biet-trong-sang

Sự thấy biết trong sáng giúp chúng ta:

Điều chỉnh tà kiến: Tà kiến là những quan niệm sai lầm hay chủ trương lệch lạc về chính mình, cuộc đời, hoàn cảnh xung quanh, vũ trụ vạn vật. Ví dụ, thuyết thường ngã, định mệnh, đấng Tạo hóa, không có nhân quả nghiệp báo, mọi hiện tượng đều ngẫu nhiên, chủ trương hạnh phúc tùy thuộc vào điều kiện vật chất hoặc do đấng Toàn năng ban thưởng….Những quan niệm võ đoán này, dù phát xuất từ niềm tin cá nhân hay tập thể, một dân tộc hay cả nhân loại- thì cuối cùng vẫn sẽ đưa đến kết quả khổ đau, bất hạnh. Chỉ có người thấy biết trong sáng tự mình chứng nghiệm sự thật khách quan mới có thể điều chỉnh được những tà kiến này.

– Phá vỡ định kiến: Định kiến hay thành kiến là những quan điểm, phán đoán hoặc kết luận cố chấp, bảo thủ, một chiều, không chịu xét lại, thay đổi hay sửa sai. Ví dụ như trọng nam khinh nữ, phân biệt giai cấp, kỳ thị chủng tộc v.v..Định kiến cản trở sự sáng tạo, sự tiến hóa, làm cho khó có được một nhận thức khách quan, trung thực. Chỉ có thấy biết trung thực bản chất thực tại, chúng ta mới có thể chấm dứt được những thành kiến, cố chấp nguy hại này.

– Thoát khỏi hoài nghi: Hoạt động của lý trí thường đi đôi với hoài nghi, phân vân, do dự, lưỡng lự, bất quyết v.v..Nghi ngờ một điều gì đó chưa hẳn là hoài nghi, chỉ vì chưa kiểm chứng nên chưa xác định mà thôi. Nghi ngờ là một thái độ sáng suốt , tự tin, trong khi tâm trạng phân vân, lưỡng lự, mập mờ, thiếu dứt khoát, thiếu tự tin trên một đối tuọng mới thực sự là hoài nghi. Chính hoài nghi đi đôi với si mê làm tâm chúng ta phân tán, suy yếu, không có khả năng quyết định hay chú tâm. Nhờ sự chú tâm lắng nghe, quan sát khách quan mà sự thấy biết được trong sáng, tự tin và thoát khỏi tâm trạng hoài nghi bất nhất này.

– Vượt qua sự hạn hẹp của ý niệm, ngôn từ và biểu tượng: Con người sáng chế ra khái niệm ngôn ngữ và biểu tượng đem lại rất nhiều tiện ích, nhất là trong lãnh vực truyền đạt tư tưởng. Tuy nhiên, bản chất của những khái niệm này là tương đối, khiếm khuyết, mâu thuẫn, bất nhất và dễ gây hiểu lầm. Vì vậy, chúng chỉ có thể cung cấp những kiến thức cục bộ, phiến diện và thiếu chính xác. Qua đó, dĩ nhiên, không thể thấy biết sự thật một cách trung thực và toàn diện được. Sự thật chỉ được hiển bày khi sự thấy biết trong sáng, không bị che lấp bởi quan niệm nào.

– Hóa giải những chướng ngại tiềm ẩn bên trong: Đức Phật gọi những chướng ngại này là những phiền não ngủ ngầm (anusaya) nằm sâu lắng trong tiềm thức, chẳng hạn như tham lam, sân hận, si mê, ngã mạn, đố kỵ, ganh ghét, cố chấp v.v..vượt ngoài hoạt động của lý trí. Chỉ có sự thấy biết tuệ giác trong sáng mới thâm nhập vào tận tiềm thức để hóa giải những chướng ngại tiềm ẩn, vi tế này.

Hỏi:

– Theo tôi được biết, trực giác giác quan có thể là ảo giác nên vẫn sai lầm. Ví dụ, nhìn chỗ hai đường thẳng song song bị cắt bởi một đường chéo, chúng ta thấy dường như cự ly ở đó rộng hơn, nhưng thực tế thì số đo vẫn bằng nhau. Như vậy thấy biết qua trực giác giác quan đâu đáng tin cậy?

Đáp:

– Đúng vậy! Trực giác giác quan dĩ nhiên có thể bị đánh lừa bởi ảo giác, nhưng đúng sai của ảo giác chưa thành vấn đề. Chỉ khi rơi vào khái niệm (pãnnatti), ngôn từ (nãma), vọng tưởng (citta vipallàsa), vọng kiến (ditthi vipallãsa) mới sinh ra ảo tưởng, cái nguy hại của vô minh (avijjã). Nhưng trực giác trong chánh niệm-tỉnh giác là tuệ giác hay trí tuệ là sự thấy biết trực tiếp vượt ngoài ý niệm, không thể bị chi phối bởi bất kỳ phán đoán, kết luận nào, chẳng hạn như khái niệm đúng sai, xấu đẹp, thiện ác v.v…

khi bạn nói: “Hai đường thẳng, đường chéo, giao nhau, cự ly, rộng hẹp, số đo v.v..”tất cả đều dựa trên những khái niệm, ý tưởng, phải không? Đó không còn là trực giác giác quan thuần túy nữa, mà đã trở thành kiến thức quy ước rồi. Ảo giác của trực giác giác quan không ảnh hưởng đến tuệ giác được đề cập trong thiền tuệ Vipassanã.

Hỏi:

– Chỉ với thấy biết trực tiếp như thầy nói, mà không lo liệu gì cho những kế hoạch tương lai thì làm thế nào có thể thực hiện được những dự án đòi hỏi nhiều sự cân nhắc và tính toán cẩn thận trước được?

Đáp:

– Đó là băn khoăn của rất nhiều người. Ngày nay, rõ ràng là trước khi bạn thực hiện một dự án nào cần phải có những kế hoạch khả thi. Tất nhiên, không thể loại bỏ sự cân nhắc, tính toán và những khái niệm cần thiết ra ngoài mọi sinh hoạt đời sống. Tuy nhiên, nếu chúng ta không có đủ tầm nhìn khách quan, trong sáng và trực tiếp để nhận ra những thực kiện của vấn đề, mà chỉ dựa trên những tư tưởng, khái niệm để suy luận thì liệu chúng ta có thể cân nhắc tính toán một cách chính xác, khả thi không? Khái niệm chỉ có giá trị khi nó minh họa cho thực kiện, hay phản ánh trung thực tính chất sự kiện. Nhưng khi khái niệm là ý tưởng chủ quan, thiếu xác thực thì sẽ trở thành chướng ngại cho việc hình thành những dự án khả thi. Đó là lý do tại sao nhiều kế hoạch có vẻ logic, trên thực tế, không thực hiện được.

Vì vậy, mọi cân nhắc tính toán cần phải dựa trên sự quan sát thận trọng và trực tiếp những sự kiện để thấy biết rõ ràng thực chất của chúng, nếu không thì mọi tính toán chỉ là ảo vọng, hoang tưởng. Tóm lại, thấy biết trực tiếp và trong sáng là yếu tố cốt lõi của mọi dự án khả thi.

Hỏi:

– Tôi vẫn chưa hiểu. Giả dụ như khi công ty tôi phải ký hợp đồng với một công ty khác. Dĩ nhiên bên A và bên B phải chuẩn bị soạn sẵn những điều khoản quy định và điều kiện ràng buộc trong hợp đồng để sẵn sàng thương lượng một cách tự tin, không bị thiệt thòi. Vậy tôi có cần phải tiên liệu trước hay cứ để tâm trí trong lặng mà đi ký hợp đồng?

Đáp:

– Tất nhiên bạn phải chuẩn bị những điều khoản cho một hợp đồng, nhưng những điều khoản ấy phải phù hợp với những thực kiện của chủ đề. Ví dụ, một công ty xây dựng, khi xem xét một yếu tố của một hợp đồng, phải nắm vững thực chất nội dung của hợp đồng: Như năng lực, đồ án, bản vẽ kỹ thuật và kết cấu, hối lượng thi công, vật tư, đơn giá, luật xây dựng v.v…cùng với những thỏa thuận công bình, song phẳng có lợi ích cho cả đôi bên.

Ngày nay, bạn khỏi lo điều đó, bạn chỉ cần tải trên mạng xuống một hợp đồng bạn cần là có ngay mẫu tiêu chuẩn. Cứ điền vào đó và thay đổi đôi chút cho phù hợp với tình huống thực tế là xong. Là một chuyên gia hay doanh nhân thành thạo, dĩ nhiên bạn phải nắm vững mọi kỹ thuật cần thiết và luật lệ liên quan đến hợp đồng, bởi vì cái chính là thực lực, đạo đức, sự trầm tĩnh, sáng suốt của bạn chứ không phải là lo toan.

Trong một hợp đồng lương thiện thì mỗi bên không những quan tâm đến lợi ích của mình mà còn quan tâm đến lợi ích của đối tác. Nếu chúng ta chỉ lo tính vì tư lợi thì tính ích kỷ, tham lam sẽ làm cho chúng ta mệt mỏi, căng thẳng, như vậy, làm thế nào chúng ta còn đủ trầm tĩnh, sáng suốt, tự tin để thương thảo với đối tác một cách sòng phẳng được. Kết quả là một hợp đồng như vậy không thể thành tựu tốt đẹp cho cả đôi bên.

Suy nghĩ,tính toán chỉ đúng và lương thiện khi dựa trên khả năng thấy biết chính xác, minh bạch, phát xuất từ quan sát trực tiếp, khách quan và trung thực của một tâm trí trong sáng trầm tĩnh.

Hỏi:

– Xin thầy cho một vài ví dụ cụ thể để chứng minh rằng chỉ cần sáng suốt vô tâm mà dược việc hơn là lo tính trước?

Đáp:

– Trong môn cảm xạ học, người ta dùng một quả lắc nhạy cảm để thẩm tra một vài nghi vấn. Muốn có câu trả lời chính xác, người cầm lắc phải thật định tĩnh, sáng suốt và vô tâm, không suy tính, không phỏng đoán vì sẽ làm cho quả lắc đưa ra câu trả lời sai lạc. Đây là một môn khoa học thật sự, có liên hệ đến sự thấy biết vượt ngoài khả năng phán đoán của lý trí.

Có những vấn đề tưởng chừng như bạn không sao giải quyết được, càng suy nghĩ càng rối thêm. Nhưng khi bạn buông nó ra, ngủ một giấc thật ngon, rồi bỗng nhiên bạn lại thấy ra một giải pháp cực kỳ hoàn hảo. Cũng có lúc bạn cố nhớ tên một ai đó mãi không ra, nhưng khi thôi không cố gắng nữa thì bạn chợt nhớ lại một cách dễ dàng.

Bạn thử xem xét trường hợp đơn giản sau đây: Bạn có một chùm những chìa khóa giống nhau của nhiều phòng. Thật khó khăn mỗi lần tìm một chìa nào đó nên bạn đã dán số cho mỗi chìa để dễ tìm hơn. Vậy mà có lúc, bạn ngạc nhiên khi vô tình lấy đúng chìa khóa bạn cần, từ trong ví, chẳng mất công tìm tòi gì cả. Bởi vì, chính trong khoảnh khắc bạn thật sự bình thản, tự nhiên và vô tâm, tâm bạn trở nên chính xác và bén nhạy trong một khả năng cảm ứng thật kỳ diệu.

Hỏi:

– Định tuệ cần được rèn luyện tu tập mới hữu dụng làm sao buông ra mà định tuệ có thể tự vận hành?

Đáp:

– Thực ra, vì bị trói buộc bởi vô minh ái dục, mà chúng ta đánh mất khả năng của định tuệ, vì vậy tâm chúng ta không còn bình lặng, trong sáng và hồn nhiên nữa. Vô minh biểu hiện qua si mê, tá kiến. Ái dục thể hiện qua tham lam, sân hận. Bao lâu còn bị ràng buộc vào những khuynh hướng tình cảm và lý trí này thì định tuệ vẫn không thể biẻu hiện tính tịch lặng và soi sáng của mình. Vì vậy, buông những cản trở này chính là cách rèn luyện tốt nhất để phục hồi khả năng của định tuệ, trả định tuệ về với tình trạng chưa bị che lấp.

Tạp Chí Văn hoá Phật Giáo số 78

(Visited 260 times, 1 visits today)

Tags: , , ,

Category: Lời Vàng, Viên Minh

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *