Và như thế (tiếp)

| 22/08/2014 | 0 Comments

Lời Phật trong đời sống |   (tiếp theo “ VÀ NHƯ THẾ…” Văn Hóa Phật Giáo số 61 và hết)

  • Đỗ Hồng Ngọcva-nhu-the-

 

Cái gì “tạo ra sự khác biệt”- nói theo kiểu thời thượng bây giờ? Tại sao trong cùng một hoàn cảnh, người thì thảnh thơi tự tại mà kẻ lại quằn quại khổ đau?

Câu trả lời là để thấy thực tướng Bát-nhã không thể dừng lại ở văn tự mà phải quán chiếu, nghĩa là phải thực hành, phải “hành thâm Bát-nhã”! Kim Cang là để dạy thực hành đó. Muốn chữa được bệnh thì phải uống thuốc, chớ chỉ đọc…toa thuốc không thôi thì dễ bị tẩu hỏa nhập ma lắm!

Trong buổi “Gươm báu trao tay” này là để chuẩn bị cho những trai thiện gái lành-những vị Bồ-tát tương lai-dấn bước vào đời. Cũng có nghĩa là họ sẽ phải ăn phải uống, phải giặt giũ, đánh răng, thay quần áo…,cũng có nghĩa là họ sẽ phải thấy những điều người khác thấy, phải nghe những điều người khác nghe, phải nói những điều người khác nói. Nhưng lục độ vạn hạnh họ phải rèn tập, đi đứng nằm ngồi họ phải “trang nghiêm”, nói mà không vướng, thấy mà không mắc….Tóm lại, họ phải sống mộtđời sống “ba-la-mật” thực sự thì họ mới đích thị là Bồ-tát! Cho nên phải kiên trì, phải tinh tấn, phải nhẫn nhục! Trong suốt kinh Kim Cang, Phật đã rất nghiêm khắc với những điều căn bản – ắt có và đủ – đó. Có cách nào hay hơn là dạy từ những thực tế của cuộc sống…để từ đó họ có thể sống hạnh phúc đó cho mọi người? Sẻ chia, không phải như chia một cái bánh mà là dạy cách làm bánh!

Kim Cang đòi hỏi thực hành. Phải tự thân “hành thâm Bát-nhã”cái đã rồi nói gì thì nói, thuyết gì thì thuyết. Tâm có thông thì thuyết mới thông.

Thiền và Quán. Đó chính là con đường Phật đã trải nghiệm. “Cứ đến. Nếm thử đi. Rồi thấy”. Đừng hý luận, đừng giáo điều. Nó như là một khoa học thực nghiệm, chính xác và phổ quát. Phải tự mình thể nghiệm thôi.

Một người thấy mộng, huyễn, bào ảnh….là mộng huyễn bào ảnh, chỉ thấy có tàn phai và huyễn hoặc đầy phiền não và khổ đau, thì người được trang bị “gươm báu”trong tay sẽ biết nhìn bằng…năm thứ con mắt, sẽ thấy đằng sau sự tàn phai, huyễn hoặc kia là duyên sinh, là không, là vô ngã, một tất yếu, chân như, như như. Cầu vồng cứ là cầu vồng, chẳng phải vì có tình yêu của ta mà cầu vồng rực rỡ, chẳng phải vì tình ta tan vỡ mà cầu vồng chóng tàn phai! Mộng, huyễn, bào ảnh có cái tuyệt vời của nó, sanh trưởng thu tàn có cái…tuyệt vời của nó. Lúc đó thõng tay vào chợ không còn sợ bị quấy nhiễu. Sống thời @, thế giới phẳng mà không thấy đảo điên. Chẳng cũng khoái ru?

Cứ “như vậy”đó mà hàng chục cái tâm. Đó là Thiền. Cứ “như vậy”đó mà nhìn cho rõ bản chất của mọi sự vật hiện tượng. Đó là Quán. Và, chỉ có cách đó mới có thể “Bất thủ ư tướng, Như như bất động”!

Nguyễn Du đọc Kim Cang ngàn lần không uổng. Không chỉ đọc, ông đã thực sử “hành thâm”!

Mãn cảnh giai không hà hữu tướng,

      Thử tâm thường định bất ly thiền.

(Nguyễn Du)

(Tất cả cảnh đều đã không rồi thì tướng còn đâu nữa?

Tâm ta đã thường định rồi, nhờ chẳng phút giây rời thiền!)

Cái như như-chân như-vốn không hề thay đổi. Chỉ có lòng ta thay đổi thôi! “Đào hoa y cựu”vẫn “tiếu đông phong”mỗi độ xuân về. Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông, chẳng cần biết chàng thi sĩ Thôi Hộ kia đang đau khổ ra sao vì “nhân diện đào hoa”năm nọ chẳng biết đã biền biệt về đâu? Không về đâu cả! Bởi cũng chẳng đến từ đâu.

Ly tướng khác bất thủ tướng! “Ly”, mang ý nghĩa tránh né. Lên núi, xuống biển, cách ly với cõi nhân sinh, vui cùng cỏ cây mây nước…Còn “bất thủ”lại mang ý nghĩa không bị dính mắc một khi đã dấn thân, vào cuộc, lăn lóc trong cõi hồng trần!Ly ở ngoài còn bất thủ ở trong. Bởi “thủ”là thủ ở trong tâm. Nên bất thủ khó hơn. Đó chính là “vô tâm”của Trần Nhân Tông, là “vô niệm”của Huệ Năng. Thủ thì do “Ái”mà ra. Rồi vì thủ mà sinh “hữu”. Ái,thủ, hữu…mới sinh sự! Cho nên bất thủ tướng khó hơn ly tướng. Ly nhứt thiết tướng đã tức danh chư Phật, còn bất thủ ư tướng thì…tức danh “Như như bất động”, Như lại, Chân như vậy!

Nhưng dù không, dù vô ngã, mọi thứ lại vẫn luôn có cái tướng của nó. “Thế gian tướng thường trụ”! Tùy duyên mà bất biến. Bất biến mà tùy duyên. Chẳng thú lắm sao? Động tâm sinh sự, thức này tướng nọ làm rối tung cả lên là tại ta! “Phiền não vô tận”là tại ta. Tại ta sinh sự, tại ta không “như như bất động” được đó mà thôi!”…Đời tôi ngốc dại, tự làm khô héo tôi đây…Chiều hôm thức dậy chập chờn lau trắng trong tay…”(Trịnh Công Sơn).

“A-nậu-đa-la Tam-miệu-tam-bồ-đề…”có lẽ là thành quả cuối cùng, vô thực vô hư, trong khi cái tâm “bồ-đề”lại là tâm có thực, từ những hạt mầm được gieo trồng, chăm bón. Thần Tú hoàn toàn có lý khi bảo phải siêng năng chăm sóc, tưới bón cho “cây bồ-đề”của mình, đừng để nó héo, nó khô, cũng như phải siêng năng chủi rửa tấm gương của mình, đừng để nó bị bụi bám, nhện giăng. Tinh cần, nhẫn nhục đâu có dễ! Tự lợi và lợi tha. Không từ bi với mình thì sao có thể từ bi với người? Phải “quán tự tại”rồi mới có thể quán thế âm”! Cho nên, ở phần cuối, Kim Cang chỉ nhắc đến “tâm bồ-đề”của các vị “bồ-tát tương lai”mà không cần nói đến “A-nậu-đa-la…”vô thực vô hư gì đó nữa. Đó chính là tinh thần rất thực tế của Kim Cang…

Nhìn lại hành trình tu thiền của Đức Phật, ta thấy Ngài đã trải qua những chặng đường không kém cam go. Vượt qua tám chặng đường thiền định kinh điển mà vẫn chưa thấy được lối thoát thực sự bởi lúc nào cũng còn bị cái “tưởng”đến quấy phá cho đến khi tự mình tìm ra được một con đường riêng sau những tháng năm khổ hạnh miệt mài. Có thể nói đó là một bước nhảy vọt, từ lượng sang chất. Chính là cửu thiền, thiền thứ chín, diệt thọ tưởng định. Lúc đó tưởng đã không còn để quấy rối nữa, thọ cũng không còn để khơi ngòi nữa. Đã có thể “như như bất động” rồi vậy! Đã có thể thấy”…diệt độ vô lượng vô số vô biên chúng sanh mà thực ra không có một chúng sanh nào được diệt độ”! Bởi có còn sanh ra nữa đâu mà diệt! “Bất sanh bất diệt”là vậy. Như người biết giữ gìn sức khỏe, biết rèn luyện nâng cao sức khỏe thì bệnh tật không phát sinh được, và như vậy thì không có lý do gì để phải…..uống thuốc! Ốm đau, bệnh tật tuy có thể giảm, mà “phiền não vô tận”từ tham sân si..thì vẫn còn kia, nên phải có cái nhìn mới, cái “tri kiến”mới, vượt ra, vượt qua, vượt lên-paramita-thì mới giải quyết rốt ráo. Đó là con đường tất yếu mà một vị Bồ-tát tương lai-những trai thiện gái lành-sẽ phải kinh qua, như là điều kiện ắt có va đủ. Thiền để thoát và Quán để vượt. “Hành thâm Bát-nhã”đến độ chín muồi thì mới có thể Bất thủ ư tướng, như như bất động, từ đó mà “vị nhơn diễn thuyết”đó vậy!

Khi nhận ra Vô thường, vô ngã, Không…thì hóa ra lại thấy cái gì cũng đáng quý, cũng tuyệt vời! Không có chuyện tiêu cực, buông bỏ ở đây! Đừng nói đoan diệt. Kim Cang dạy rất kỹ. Thấy “thường”đã sai mà thấy “đoạn”càng sai. Thấy có đã sai mà thấy không càng sai. Bồ-tát thì “bất tận hữu vi bất trụ vô vi”. Không có hữu vi thì cũng chẳng thể thấy được vô vi! Núi vẫn là núi, sông vẫn là sông, khác chăng là một hành trình miên mật của sự tu tập dài lâu để nhận ra “sắc tức thị không, không tức thị sắc”, chân không mà diệu hữu…Sự chuyển hóa chỉ có thể đến từ bên trong. Thiền và Quán . Lộ trình đã vạch. Hàng trang đã đủ. Cho nên không phải vô cớ mà tinh tấn và nhẫn nhục lại là những ba-la-mật không thể thiếu vắng trên hành trình đi vào nội tâm.

Khi không còn chấp thủ, không còn tham ái, thì mọi thứ đã trở nên nhẹ nhàng, thong dong, tự tại.

   “Gươm báu”đã được “trao tay”từ đó!

      “Và như thế tôi đến trong cuộc đời/

      Đã yêu cuộc đời này bằng trái tim của tôi…”

(Trịnh Công Sơn).

(Visited 91 times, 1 visits today)

Tags: , , , , , ,

Category: BS. Đỗ Hồng Ngọc, Lời Vàng

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *