Họa viện lưỡng Tống

| 14/09/2014 | 0 Comments

Mỹ thuật | Sơn Thiền

hoa vien-luong-tongTrong lịch sử Trung Quốc, hai triều đại Đường, Tống được xem là thời kỳ hoàng kim của nền văn hóa nghệ thuật.

Thời nhà Đường, trong khoảng niên hiệu Trinh Quán (Đường Thái Tông, 627-640) đến Khai Nguyên (Đường Huyền Tông, 713-741), chế độ phong kiến phát triển đến đỉnh cao, bối cảnh chính trị ổn định, nền kinh tế phồn vinh, các hoàng đế bản thân là những người yêu chuộng nghệ thuật, các ngànhvăn hóa nghệ thuật như được tiếp một luồng sinh khí mới sau suốt mấy thế kỷ binh đao loạn lạc. Phong trào sáng tác, sưu tầm nở rộ ở hầu khắp từ thi ca, hội họa, âm nhạc, vũ đạo…

Sau đó, Trung Quốc lại trải qua một thời gian dài chìm trong binh lửa liên miên suốt 54 năm của thời Ngũ Đại, phong khí nghệ thuật thời đại nhà Đường tan rã tản mác trong dân gian. Chỉ đến khi Triệu Khuông Dẫn thống nhất thiên hạ lập ra nhà Tống, Trung Quốc mới đi dần vào ổn định, nền văn hóa nghệ thuật lại thêm một lần hưng phục và phát triển rực rỡ chưa từng thấy.

Nhà Tống (960-1279) trải qua 320 năm với 18 đời vua, thường được gọi là Lưỡng Tống , gồm: Bắc Tống (960-1127) và Nam Tống (1127-1279); về phương diện văn hóa nghệ thuật, thời kỳ này đã gặt hái được những thành tựu vĩ đại được ngưỡng mộ cho đến tận ngày nay, như nghệ thuật chế tác ngọc, chạm ngà, gỗ; trà và nghệ thuật thưởng trà, nhất là đồ gốm sứ, tranh và thư pháp. Đặc biệt, đối với nghệ thuật hội họa, đây là giai đoạn phát triển tột đỉnh. Các hoàng đế nhà Tống là những người ưa chuộng nghệ thuật, một số trong đó là nghệ sĩ thực hành và là nhà sưu tập trứ danh đã là điều kiện tuyệt vời thúc đẩy quá trình trăm hoa đua nở của một thời đại được xem là phong vận đỉnh thịnh trong suốt chiều dài lịch sử.

Về lịch sử hội họa, thời Tống quan trọng với 3 lý do chính: Đó là thời kỳ mở màn cho hội họa kinh viện theo phong cách hiện thực thông qua quá trình hoạt động của các Họa viện (viện hàn lâm hội họa) triều đình; sự suy thoái và chuyển biến của thể loại nhân vật họa; sự phát triển của ngành hội họa phong cảnh từ cảm hứng đươc khích lệ bởi các bậc thầy thời Ngũ Đại và tiền Tống.

Trong đó, sự ra đời và hoạt động của Họa viện là một yếu tố quan trọng thúc đẩy sự phát triển của hội họa thời Tống.

Nguyên ủy, Họa viện có nguồn gốc từ họa thất đời Hán, được thành lập bắt đầu từ triều nhà Hậu Thục, thời Ngũ Đại. Nhà Tống định quốc, lập ra Hàn lâm đồ Họa viện thu hút các họa gia tài danh rải rác từ nhiều miền như cha con Hoàng Thuyên, cha con Cao Văn Tiến, Viên Nhân Hậu, Hạ Hầu Diên Hựu (Hậu Thục); Chu Văn Cử, Đổng Vũ, Đổng Nguyên (Nam Đường); Quách Trung Thứ (Hậu Chu)…tụ hội về kinh đô Biên Lương (Khai Phong phủ). Các họa gia đều đươc Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dẫn (960-976) phong chức Quốc tử bác sĩ. Đội ngũ này cùng với các họa gia tài danh Trung Nguyên như Cao Ích, Vương Đạo Chân, Yến Văn Quý…làm thành lực lượng nòng cốt mở màn cho phong trào Họa viện.

Họa viện thời Tống là một cơ quan mang hình thức Hàn lâm viện bao gồm các ngành sáng tác, nghiên cứu, đào tạo, sưu tập và lưu trữ. Họa viện có các định chế sau:

Họa viện thu nạp họa sĩ dựa trên chế độ khảo thí. Đầu thời nhà Tống, số lượng thí sinh ứng thí lên đến 3.000 người với chỉ tiêu thâu nhận chỉ 100 người. Đề thi thông thường yêu cầu các thí sinh thựchiện một tác phẩm theo đề tài bích họa tôn giáo (Lào, Phật) hoặc phong cảnh sơn thủy mang ý nghĩa tượng trưng.

Thời Tống Huy Tông (1101-1125), đề thi thường là một câu thơ có không gian, hình tượng. Sách Hội sự trung ngôn chép: Trong khoảng niên hiệu Chính Hòa, vua Huy Tông mỗi lần tuyển nhập họa sĩ vào Họa viện thường lấy ý từ Đường thi làm đề. Có kỳ, đề thi là câu thơ: “Trúc tỏa kiều biên mại tửu gia” (Rặng trúc bên cầu che khuất đường qua quán rượu); hầu hết họa sinh đều chăm chú vẽ quán rượu bên cầu, riêng Lý Đường chỉ vẽ chiếc cầu và lá cờ hiệu của tiệm rượu phất phới sau rặng trúc. Bài thi của Lý Đường được đánh giá là đạt ý chữ “ tỏa” (khóa, ngăn cản) trong câu thơ, và họa sĩ họ Lý được đỗ đầu. Từ câu chuyện này cho thấy việc khảo thí ngoài tài năng và kỹ pháp còn bao hàm yếu tố quan trọng, đó là ý tưởng và trí tưởng tượng dồi dào của cá nhân sáng tạo.

Về mặt tước vị, các họa sĩ trong Họa viện được chia làm bốn bậc, đó là: Họa viện học chính, Họa viện nghệ học, Họa viện chi hầu và Họa viện đãi chiếu. Người đang được đào tạo gọi là Họa viện học sinh. Về mặt đãi ngộ, các quan chức trong Họa viện được hưởng theo chế độ như các quan chức ở các cơ quan khác.

Về trang phục, Họa viện chỉ phân biệt với các bộ khác ở chỗ không đeo ngọc bội hình cá. Ngoài ra, Họa viện còn có phân biệt về đẳng cấp xuất thân; người xuất thân từ sĩ đại phu  được gọi là sĩ lưu, xuất thân trong dân gian gọi là tạp lưu và được bố trí nơi ở riêng biệt.

Phân khoa học tập chia thành các môn như tôn giáo, nhân vật, điểu thú (chim muông), hoa trúc, ốc mộc (nhà cửa, cây cối).

Về chức năng sưu tâm bảo quản các danh tác, Họa viện đong một vai trò rất tích cực với những hoạt động hết sức hiệu quả. Trong khoảng niên hiệu Khai Bảo, Họa viện đã thu thập được bộ tranh 16 vị La-hán của Quán Hưu. Vua Huy Tông vừa là một họa sĩ kiệt xuất vừa là nhà sưu tập đã đóng gop vai trò quan trọng trong việc sưu tập bảo quản, hệ thống một khối lượng tác phẩm đồ sộ của các danh họa từ nhiều triều đại trước. Tổng cộng, có đến 231 tác giả với 6.396 bức tranh, từ Tào Bất Hưng đến Cố Khải Chi, Lục Tảm Vi, Triền Tử Kiền, Ngô Đạo Tử, Chu Phường, Cố Hoằng Trung, Lý Tư Huấn, Vương Duy, Tào Bá, Hoàng Cư Thái…Cuốn Tuyên hòa họa phố soạn dưới thòi Tống Huy Tông là một tài liệu quan trọng đối với giới nghiên cứu nghệ thuật Trung Quốc thuộc nhiều thời đại.

Họa viện dưới thờiBắc Tống đạt đến cực thịnh trong khoảng niên hiệu Chính Hòa (1111-1118), Tuyên Hòa (1119-1125), với sự góp mặt của các họa gia nổi bật như Cao Văn Tiến, yến Văn Quý, Thô Bạch, Cao Nguyên Hanh, Đổng Tường, Vương Khả Huấn, Quách Hi, Mã Phần, Phi Đạo Ninh, Vương Hy Mạnh, Trương Trạch Đoan…

Đến thế kỷ 12, nhà Tống bước vào thời kỳ suy yếu. Đây là giai đoạn chính trị biến loạn cùng cực trước nạn ngoại xâm và nội loạn. Triều đình súng bái đạo Lão, các vua chỉ biết chìm đắm trong thanh sắc cùng các thú chơi tao nhã, quan lại gian nịnh, binh bị, quân sự không được chú trọng đã dễ dàng bị bẻ gãy trước sức mạnh vũ bão của quân Kim. Kết cục bi thảm cuối cùng xảy đến, khi hai cha con Huy Tống và Khâm Tống bị quân Kim bắt giữ lưu đày lên phương Bắc, đánh dấu sự kết thúc của thời Bắc Tống.

Năm 1138, Tống Cao Tông (Triệu Cấu, 1127-1162) thiên đô về Lâm An, Hàng Châu mở ra thời Nam Tống. Tại đây, triều đình Nam Tống vẫn tiếp tục duy trì chế độ Họa viện, các anh tài tiếp tục nở rộ hơn bao giờ hết; nổi bật có: Lý Đường, Lý Đoan, Tô Hán Thân, Lý Địch, Lâm Thuyên, Diêm Thứ Bình, Lưu Tùng Niên, Mã Viễn, Hạ Khuê, Lý Tung, Lương Khải, Trần Cư Trung…

Nói đến Họa viện Lưỡng Tống không thể không nhắc đến vị hoàng đế tài danh mang số phận vô cùng bi thảm: Tống Huy Tông, người đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quá trình tồn tại của Họa viện và đưa nền văn hóa nghệ thuật dưới thời Tống phát triển đến cực điểm.

Tống Huy Tông (Triệu Cát, 1101-1125) là con thứ mười của Tống Thần Tông, tước phong là Thoại Vương, lên ngôi năm 1101. Ông sùng thượng đạo Lão, thường tự xưng là Ngọc Thanh giáo chủ hạ giáng. Cuộc đời ông là một mối mâu thuẫn lớn. Về cá nhân, ông là một trang phong lưu tài tuấn nhất đời, một họa sĩ, một thư pháp gia kiệt xuất, một nhà sưu tập vĩ đại. Ngược lại, ở phương diện chính trị, ông lại là một vị vua hèn kém, bỏ mặc triều đình hũ bại, thối nát trong tay một bộ phận quan lại bè đảng, tham nhũng; nền kinh tế lụn bại, muôn dân đồ thán. Bên ngoài là nạn ngoại xâm rình rập, trong nước các cuộc khởi nghĩa nông dân liên tiếp nổ ra đẩy triều đại ông đến bên bờ vực thẳm.

Năm 1125, ông thoái vị nhường ngôi cho con là Tống Khâm Tông (1126-1127) và cuối cùng đón nhận một kết cục bi thảm: Năm 1127, hai cha con ông lọt vào tay quân Kim va bị lưu đày lên phương Bắc trong suốt 10 năm ròng rã, để cuối cùng chết trong cảnh đói rét dưới lòng giếng cạn ở Ngũ quốc thành, nay là Ninh Cổ Tháp thuộc tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc.

Do bản thân là họa sĩ và là một thư pháp gia, Tống Huy Tông đã dành một sự quantâm đặc biệt với Họa viện. Những năm mới lên ngôi, ông bổ nhiệm Mễ Phất vào chúc Thư họa học bác sĩ, chỉnh đốn và kiện toàn tổ chức Họa viện, quy định các chế độ cũng như củng cố địa vị chính trị cho các họa gia Họa viện. Ngoàira, ông thường đặc cách phong tặng chức danh cho các họa gia nổi tiếng không thuộc Họa viện, như trường hợp Tống Tử Phòng được phong chức Hạ viện học bác sĩ.

Năm Đại quan nguyên niên (1107), ông ra quy định giảng viên ở Họa viện gồm các ngạch: Thư họa học vụ, thưa họa học chánh, thư họa học lục, thư họa học trực. Năm Đại Quan tứ niên (1111), nhận các họa sinh vào Hàn lâm đồ họa cục.

Mặt khác, ở cương vị một nghệ sĩ thực hành, ông là người đạt đượcthành tựu vượt bậc ở đề tài hoa điểu và là người sáng tạo ra thể chữ “Sấu kim thể” (thể chữ xương gẩy). Tác phẩm của ông còn lại đến ngày nay gồm: Trì đường thu vãng, Liễu nha đồ, Lạp mai sơn cầm, Ngũ sắc anh vũ đồ, Đào cưu đồ, Tuyết giang quy trạo đồ…Đây là những tác phẩm xuất sắc trong kho tàng nghệ thuật nhân loại.

Về văn học, ông cũng là một vị vua nổi tiếng. Hai tác phẩm Đại Quan trà luận (luận về cách trồng trà, chọn trà và thưởng trà) do ông chấp bút cùng bộ danh mục Tuyên Hòa họa phổ do ông chỉ đạo biên soạn là hai công trình biên kháo giá trị và vô cùng quan trọng đến tận ngày nay.

Trải qua một quá trình ngót 3 thế kỷ với bối cảnh lịch sử đầy biến động, dưới hình thức Hàn lâm viện cung đình, Họa viện đời Tống đã phát huy hiệu quả và đạt được nhiều thành tựu đáng được ngưỡng mộ (cho dù cũng nhận không ít lời chỉ trích về tính chất hàn lâm kinh viện của nó); đó là, dành cho các họa sĩ một chế độ đãi ngộ thích đáng, quy tụ và đào tạo được nhiều họa gia tên tuổi, kích thích quá trình sáng tạo, kiện toàn các ký pháp, đưa thể loại hoa điểu lên đến tuyệt đỉnh và tạo được nhiều chuyển biến cho thể loại nhân vật họa cùng thể loại phong cảnh. Thời kỳ này cùng chứng kiến sự ra đời và phát triển mạnh của thể loại tranh phong tục. Mặt khác, ở phương diện sưu tập, thống kê, bảo quản, Họa viện đã đóng góp một công lao không nhỏ, tạo sự tác động tích cực cho lịch sử hội họa Trung Quốc.

 

Tổng hợp từ:

–               Vương Bá Mẫn, Trung Quốc hội họa thông sứ. Tam Liên thư điếm, Bắc Kinh, 2000. chương 9, tiêt1: Lưỡng Tống Họa viện (Bản dịch tự liệu của Phạm Hoàng Quân).

–               James Cahill. La Peinture Chinoise. Éđition d’Art Albert Skira, Gèneve, 1960.

–               Lin Yutang. The Chinese theory of Art. William Heinemann Limited, 1967.

hoa-vien-luong-tonghoa-vien-luong-tong

(Visited 196 times, 1 visits today)

Tags: , , , ,

Category: Nghiên Cứu

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *