Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 88"/>

Mười bốn niềm tin căn bản của Phật giáo

| 03/09/2015 | 0 Comments

Thy Yênmuoi-bon-niem-tin-can-ban

Làm việc trong lãnh vực sản xuất có liên quan tới khoa học kỹ thuật khiến tôi cũng có một chút tinh thần khoa học. Nhưng rõ ràng cuộc đời có nhiều vấn đề mà khoa học đành “bó tay”. Nhận thức đó đã đưa tôi đến với Phật giáo. Tuy nhiên, “tinh thần khoa học” trong tôi vẫn làm cho tôi hay thắc mắc.

Cũng may mắn mà tôi có một thời gian làm việc thân cận dưới sự cố vấn của một người thầy, cố Giáo sư Trần Kim Thạch, một trong những nhà khoa học hàng đầu. Người ta vẫn nghĩ rằng các nhà khoa học không hề quan tâm đến đời sống tâm linh. Thế nhưng thầy Trần Kim Thạch lại là người có nhiều ý kiến sâu sắc về tôn giáo. Vấn đề là thầy không thích phát biểu ý kiến của mình trong lĩnh vực này.

Có một điều tôi cố công tìm hiểu đã lâu, nhưng vì không biết hỏi ai nên không có người giải đáp. Thế mà trong những lúc trao đổi thân tình với cố Giáo sư Trần Kim Thạch sau những giờ làm việc căng thẳng, chính thầy đã đưa ra những lý giải khá thú vị. Lúc thầy mất, tôi đã tâm niệm sẽ có một nén hương dâng thầy, vì thế mà tôi cố gắng nhớ lại hết những gì thầy đã giải thích dựa trên những ghi chép rời rạc lúc trước để hình thành bài viết này, coi như thể hiện tấm lòng của một người hằng ngưỡng mộ thầy.

Trong thời gian tìm hiểu về Phật giáo, tôi vẫn ngờ ngợ về một bản văn được ghi là “Mười bốn điều răn của Phật”. Vì dựa trên những điều mà tôi đã biết thì trong đạo Phật không có khái niệm điều răn với tính cách những sự cấm đoán mà nếu tín đồ vi phạm thì sẽ bị trừng phạt bằng cách này hay cách khác. Giới của nhà Phật chỉ là những điều mà người Phật tử tự nguyện không vượt qua để tự phòng hộ.

Khi tôi trình lên thầy thắc mắc của mình, thầy Thạch cũng đồng ý là những thắc mắc của tôi có cơ sở và hứa sẽ tìm hiểu để giải thích cho tôi khi có dịp. Bẵng đi khá lâu, một hôm thầy đến văn phòng tôi với một xấp giấy trên tay. Sau khi thảo luận về công việc xong, thầy bảo, “Tôi đã có câu trả lời cho em rồi đây”. Ngay lúc ấy tôi cũng chưa kịp nhớ ra để hiểu câu trả lời mà thầy có cho tôi là về vấn đề gì. Thầy nói tiếp, “Em chịu khó lấy giấy bút ra, tôi sẽ đọc cho em viết. Bản văn này tôi vừa mới dịch xong, chưa giao cho em được”. Tôi làm theo mệnh lệnh của thầy.

Thì ra bản văn mà thầy bảo tôi chép làm bản sao có tựa đề là “Mười bốn niềm tin căn bản của mọi hệ phái Phật giáo”. Thầy cho biết đây là một phiên bản rút gọn của Sách giáo khoa Phật học vấn đáp được biên tập theo quyển sách cùng tên xuất bản lần đầu năm 1881 bởi Đại tá Henry Steel Olcott, người Phật tử đầu tiên của Hoa Kỳ. Sau khi tôi chép xong, thầy mới từ tốn giải thích.

Theo lời thầy, bản văn mười bốn điều răn của Phật có khả năng là được các nhà sư chùa Thiếu Lâm bên Trung Quốc biên tập, dựa trên những điều rút từ trong tất cả những kinh Phật đã được gom lại một cách tóm tắt cho dễ nhớ.

Khoảng cuối thế kỷ thứ 20, một đoàn chuyên gia Việt Nam nghiên cứu về quan hệ quốc tế có đến thăm chùa Thiếu Lâm và được vị sư trụ trì chùa Thiếu Lâm lúc bấy giờ tặng cho một bản gốc ghi bằng Trung văn.

Một thành viên trong đoàn chuyên gia này đã dịch ra tiếng Việt rồi sao chụp đem tặng cho những người quen biết, trong đó có thể có một vài vị cao tăng Phật giáo tại Hà Nội. Vị chuyên gia nọ có thể là một người giỏi Trung văn nhưng lại không hiểu sâu về Phật pháp, nên trong lúc dịch thuật, đã dùng chữ “điều răn” là một khái niệm không được sử dụng trong nhà Phật.

Điều đáng ngạc nhiên là sau đó, những bản văn phổ biến dưới dạng in trên lụa hay vẽ chữ trên lụa lại có lạc khoản ghi rõ “Hòa thượng Kim Cương Tử sưu tầm”. Trong các bản in lụa này, sự nhầm lẫn của vị chuyên gia trên cũng không được đính chính. Không rõ có phải Hòa thượng Kim Cương Tử cũng có được một bản gốc Trung văn rồi độc lập dịch ra hay ngài dựa trên bản dịch của vị chuyên gia kia.

Về phương diện nội dung của bản văn, nói chung những điều được rút ra một cách cô đọng như vậy cũng có phần phù hợp với tinh thần Phật giáo, nhưng có lẽ đã được diễn giải theo chủ quan của người biên tập. Chẳng hạn ở điều 1, “Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình” có thể được coi là cách giải thích khác đi một câu châm ngôn nổi tiếng trong số những lời dạy của Đức Phật. “Chiến thắng vạn quân không bằng tự chiến thắng mình”.

Về phương diện hình thức, cách trình bày vấn đề theo trường hợp cực độ, câu nào cũng có chữ “nhất”, làm cho bản văn có tính cách cụ thể và chi tiết, đôi khi không đáp ứng được bản chất đa dạng của vạn pháp.

Một vấn đề khác là con số mười bốn. Trong Phật giáo vốn có một thuật ngữ gọi là “pháp số” để chỉ những vấn đề được Đức Phật quy lại thành các đề mục có thứ tự, cũng là một biện pháp sư phạm của nhà Phật. Tuy nhiên, trong hầu hết nhữngđề mục của nhà Phật không hề có loại đề mục mang 14 hạng mục. Chẳng hạn, chúng ta có nhất thừa, nhị đế, tam học, tứ như ý túc, ngũ căn, lục hòa, thất giác chi, bát chánh đạo, cửu địa, thập lực, thập nhị nhân duyên, thập bát bất cộng pháp, tam thập tam thiên, tam thập thất trợ đạo phẩm, tứ thập bát đại nguyện…nhưng không có con số 14.

Vì thế mà thầy Trần kim Thạch cho rằng có thể các vị Tăng chùa Thiếu Lâm đã được gợi hứng từ bản văn mười bốn niềm tin căn bản của Phật giáo mà mọi tông phái đều tôn trọng, một bản văn được trích từ phiên bản rút gọn của Sách giáo khoa Phật học vấn đáp do vị Phật tử đầu tiên người Hoa Kỳ biên soạn cách đây hơn một thế kỷ.

Ý kiến của thầy Trần Kim Thạch là ý kiến hoàn toàn cá nhân, không biết có xác đáng hay không, nhưng quả thật, tôi có được trong tay bản văn mười bốn niềm tin căn bản của các tông phái Phật giáo mà theo lời thầy thì chính thầy dịch ra rồi đích thân đọc cho tôi chép lại. Tôi xin trân trọng chia sẻ bản dịch này với những người hữu duyên.Henry-Steel-Olcott

MƯỜI BỐN NIỀM TIN CĂN BẢN CỦA MỌI HỆ PHÁI PHẬT GIÁO

(Trích từ phiên bản rút gọn của Sách giáo khoa Phật học vấn đáp do Henry Steel Olcott xuất bản lần đầu tiên năm 1881 tại Hoa Kỳ)

  1. Người Phật tử được dạy hãy thể hiện một tâm từ ái đồng đều với sự khoan dung, độ lượng và tình anh em hướng đến tất cả mọi người không phân biệt, cùng một lòng bi mẫn không lay chuyển hướng đến mọi sinh vật.
  2. Vũ trụ này tiến hóa chứ không phải đã được tạo tác và vận hành theo luật chứ không theo tính khí thất thường của bất kỳ một vị thần linh nào.
  3. Những sự thật mà dựa trên đó Phật giáo đã được thành lập là những sự thật tự nhiên. Phật tử tin tưởng rằng những sự thật đó đã được giảng dạy liên tục trong nhiều thời kỳ của thế giới bởi những vị đại giác ngộ được gọi là các vị Phật, danh hiệu Phật có nghĩa là “Bậc Đại Giác Ngộ’.
  4. Vị Đại Đạo Sư đời thứ tư trong chu kỳ thế giới hiện tại là Đức Phật Cồ Đàm, một vị đã xuất sanh trong một gia đình hoàng tộc bên Ấn Độ cách nay khoảng 2.600 năm. Ngài có một nhân cách lịch sử với tên riêng là Siddhartha Gautama.
  5. Đức Phật Cồ Đàm dạy rằng vô minh sinh tham ái, tham ái không thỏa mãn là nền tảng của sự tái sinh và chính sự tái sinh là nguồn gốc của đau khổ. Cho nên để giải thoát mọi đau khổ thì phải thoát khỏi sự tái sinh; để thoát khỏi sự tái sinh thì cần phải dập tắt tham ái; và để dập tắt tham ái thì cần phải diệt trừ vô minh.
  6. Sự vô minh nuôi dưỡng niềm tin cho rằng sự tái sinh là điều cần thiết. Khi vô minh đã được diệt tận, thi sự vô ích của bất kỳ hình thức tái sinh nào, xét như là một kết thúc của tự ngã, được cảm nhận, đồng thời nhu cầu tối cao của việc chấp nhận một cuộc đời cần thiết cho những cuộc tái sinh lập đi lập lại như thế có thể bị thủ tiêu. Vô minh cũng mang lại những ý niệm phi lý viển vông cho rằng con người chỉ có một cuộc đời hoặc một ảo tưởng khác cho rằng cuộc đời duy nhất đó sẽ được tiếp nối bởi những trạng thái sung sướng hay đau khổ không thể thay đổi được.
  7. Việc tận diệt toàn bộ sự vô minh ấy có thể đạt được bởi sự kiên trì tu tập về lòng vị tha hướng đến tất cả mọi chúng sinh, về sự phát triển tuệ giác, và về sự tận diệt mọi thú vui thấp hèn.
  8. Lòng tham ái đối với cuộc sống là nguyên nhân gây nên sự tái sinh, khi lòng tham ái đối với cuộc sống đã bị dập tắt thì mọi sự tái sinh đều chấm dứt và nhờ thiền định mà cá nhân hoàn hảo đạt được trạng thái an lạc cao tột gọi là Niết-bàn.
  9. Đức Phật Cồ Đàm dạy rằng vô minh có thể được tận diệt và đau khổ có thể được loại trừ nhờ việc biết rõ bốn sự thật cao quý, đó là: a) Nỗi khốn khổ của sự sinh tồn; b) Nguyên nhân gây ra nỗi khốn khổ đó là lòng tham ái mãi mãi tái hiện trong sự tự thỏa mãn mà không bao giờ có thể đạt tới trạng thái tận cùng; c) Việc diệt tận sự tham ái đó, nói khác đi, việc tự giũ bỏ sự tham ái đó; và d) Những phương tiện để đạt tới việc tận diệt sự tham ái. Những phương tiện mà Đức Phật đã chỉ ra để diệt tận sự tham ái được gọi là Bát Thánh đạo: Chánh kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng, Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm và Chánh Định.
  10. Chánh định dẫn tới tuệ giác, nói khác đi, tới khả năng thành Phật vốn tồn tại trong từng con người.
  11. Tinh túy của đạo Phật như được chính Đức Phật tổng kết, gồm có: a) Dựt mọi việc ác; b) Giữ gìn giới đức; và c) Thanh lọc tâm thức.
  12. Vũ trụ này là đối tượng của một nguyên lý nhân quả tự nhiên gọi là Nghiệp. Những hạnh lành và những hạnh ác của một chúng sinh trong quá khứ quyết định điều kiện hiện tại của chúng sinh ấy. Cho nên, mỗi người đều đã chuẩn bị những nguyên nhân cho những kết quả mà hiện nay họ đang trải nghiệm.
  13. Có thể loại bỏ những trở ngại cho việc đạt được một nghiệp tốt nhờ việc tuân thủ những giới luật thuộc về giới điều của Phật giáo sau đây: 1) Không giết hại; 2) Không trộm cắp; 3) Không thỏa mãn các tà hạnh về nhục dục; 4) Không dối trá, và 5) Không dùng các chất độc hại như thuốc làm cho đần độn hay rượu. Năm giới luật khác, không cần thiết được nêu ở đây, cũng nên được tuân giữ bởi những ai muốn chấm dứt đau khổ và vượt thoát tái sinh nhanh hơn người thường.
  14. Phật giáo không khuyến khích những thói quen mê tín. Đức Phật dạy rằng cha mẹ có nhiệm vụ lo cho con cái được học tập về văn chương và khoa học. Ngài cũng dạy rằng không ai nên tin vào điều gì được nói ra bởi bất kỳ một vị thánh nào, được viết ra trong bất kỳ một quyển sách nào, hoặc được khẳng định bởi bất kỳ một truyền thống nào, trừ khi điều ấy phù hợp với lẽ phải.

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 88

(Visited 493 times, 1 visits today)

Tags: , , , ,

Category: Nghiên Cứu, Vấn Đề

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *