Nguồn gốc nghi lễ, chức năng, ý nghĩa của lễ cúng cô hồn

| 08/10/2014 | 0 Comments

QUẢNG CHƠNy-nghia-le-cung-co-hon

Nghiên cứu bộ tượng Thánh Tăng A-nan và Đức Ông Cấp Cô Độc trong truyền thống nghệ thuật Phật giáo Việt Nam, chúng ta thấy người Việt xưa đã khéo léo chuyển hóa hai vị đệ tử nổi tiếng của Phật để trở thành Thánh Tăng và Đức Ông trong truyền thống thờ tự ở các chùa Việt ở miền Bắc. Thánh Tăng và Đức Ông đã từ từ đi vào văn hóa Phật giáo người Việt và trở thành một phần tín ngưỡng của phổ biến trong nhân gian. Câu chuyện ngài A-nan gặp quỷ đói rồi với lòng từ bi vô lượng đã xin Đức Phật phương tiện cứu giúp cho loài ngạ quỷ được no đủ và độ thoát cảnh địa ngục đã được các vị tổ sư Mật tông chuyển thành nghi thức cúng thí cô hồn. Các vị Tăng Việt Nam đã tiến một bước nữa bằng cách áp dụng nghi thức tiểu thí thực cô hồn vào các khóa lễ buổi chiều để cầu nguyện cho các oan hồn uổng tử, các chiến sĩ trận vong, cùng đồng bào tử nạn và các cô hồn bị chết oan không thể đi đầu thai, trở thành những cô hồn không nơi nương tựa…

Sự xuất hiện của việc tạo tượng Thánh Tăng A-nan và Đức Ông Cấp Cô Độc đóng một vai trò quan trọng trong sự thờ cúng ở các chùa Việt. Điều đó cũng đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của người Phật tử Việt qua ba vấn đề: thứ nhất, việc tạo hình tượng cho việc thờ cúng theo nghi lễ tôn giáo; thứ hai, đáp ứng cho nhu cầu tổ chức tín ngưỡng trong hệ thống chùa chiền; và thứ ba, đáp ứng nguyện vọng tâm linh của người Phật tử Việt. Ở phần này chúng tôi sẽ đề cập tới câu chuyện ngài A-nan gặp ngạ quỹ, tóm tắt nội dung về nghi thức chẩn tế cô hồn, và cuối cùng sẽ bàn tới sự quan trọng của việc cúng cô hồn trong tín ngưỡng Phật giáo Việt Nam.

Trước khi bàn về nội dung nghi thức thực cô hồn, chúng ta cũng cần bàn sơ về ý nghĩa hai chữ “cô hồn” được nói nhiều trong bài này. Phật giáo tin rằng con đường sinh tử luân hồi, chúng sinh có thể phân làm sáu nẻo: trời, a-tu-la, người, địa ngục, ngạ quỷ và súc sinh; trong đó, ngạ quỷ và súc sanh là hai cõi thấp nhất. Kinh văn ghi rằng ngạ quỷ là loài quỷ bị đói khát khổ sở triền miên và có thân hình xấu xa, bụng to như cái trống, cổ nhỏ như cây kim, đói khát vô cùng và ăn uống cái gì cũng biến thành lửa đỏ nung cháy tâm can. Các loài quỷ đói này vì đời trước đã tạo các nghiệp xấu ác, lại bỏn sẻn tham tài tham của không bao giờ bố thí cho một ai nên bị sinh vào loài quỷ đói. Phật cũng dạy rằng không có gì là trường tồn bất biến. Như các loài quỷ đói nếu biết ăn năn sám hối các tội lỗi xưa, và nếu như các nghiệp ác dần dần được tiêu trừ thì cũng có thể sinh lại làm người, sinh vào cõi trời, hoặc vãng sinh về cõi tịnh độ. Theo quan điểm nhân gian thì các cô hồn ngạ quỷ là những người bị chết oan, chết khi còn trẻ, chết khi còn lắm luyến tiếc cuộc đời, chết vì bị các tai nạn, và chết rồi không có siêu sinh, không có nơi nương tựa, không có ai cúng kinh cầu nguyện cho. Các loài cô hồn uổng tử này vì không được tái sinh, nên lãng vãng đâu đó, và nhiều khi trở lại quấy phá người sống. Theo Phật giáo, một trong những phương thức hữu hiệu nhất để cứu độ các vong hồn ngạ quỷ, các oan hồn uổng tử là thiết đàn chẩn tế cô hồn, cầu nguyện cho họ được siêu sinh về cõi tịnh độ.

Xuất xứ của nghi thức chẩn tế cô hồn bắt nguồn từ câu chuyện ngài A-nan gặp con quỷ đói có tên là Tiêu Diện Khẩu (miệng bị thiêu đốt), có bản kinh dịch là Diện Nhiên (mặt bị thiêu đốt) . Trong nghi Mông sơn thí thực danh xưng là Diện Nhiên Bồ tát. Kinh Phật thuật lại rằng một đêm vào mùa an cư kiết hạ, ngài A-nan đang ngồi thiền ở một động đá trong khu rừng nhỏ, khi ngài mở mắt xuất định thì thấy một con quỷ đói xấu xa tên là Tiêu Diện đứng ở trước mặt ngài. Qủy Tiêu Diện cảnh báo ngài A-nan rằng nếu ngài không bố thí thức ăn và nước uống cho các loài quỷ đói ở trong vùng, thì trong vòng ba ngày nữa ngày A-nan sẽ chết và sẽ bị sinh làm ngạ quỷ. Bị gặp quỷ đói trong lúc đang ngồi thiền lại bị cảnh cáo điềm dữ, nên A-nan sợ hãi gặp Phật và cầu cứu Đức Phật tìm phương pháp cứu giúp. Thương tình A-nan và các chúng sinh đau khổ, nhân đó Đức Phật dạy cho A-nan các bài thần chú. Đức Phật nói rằng các bài thần chú này là do Đức Thế Tôn học được từ Đức Quán Thế Âm khi còn là vị cổ Phật trong nhiều kiếp trước. Vào thời đó Đức Thế Tôn là một vị Bà-la-môn đang trên con đường Phật đạo. Đức Phật dạy Tôn giả A-nan rằng các bài chú này có công năng vô lượng vô biên, có thể biến một chén cháo, một nắm gạo, một tách nước trong trở thành cam lồ mỹ vị và có thể cúng thí cho vô lượng cô hồn mà thức ăn thức uống không bao giờ hết. Hơn nữa, nếu các loài ngạ quỷ hết sức chú tâm lắng nghe khi đọc tụng các bài thần chú này, chúng có thể biến thân ngạ quỷ ghê tởm xấu xa thành thân thể đẹp và có thể sinh vào cõi trời, cõi người hoặc được sinh vào cõi Tịnh độ.

Các kinh liên quan đến chẩn tế cô hồn được Tam Tạng Pháp sư Mật tông tên là Bất Không dịch ra chữ Hán vào thế kỷ VIII, thời Đường. Một trong các kinh quan trọng nhất là Thí chư ngạ quỷ ẩm thực cập thủy pháp (Theo Đại Tạng Đại Chính Tân Tu, bản kinh này đánh số 1215). Tất cả các bản kinh Mật tông này đã làm nền tảng cho phần nghi lễ, và cung cấp các bài thần chú, các thủ ấn quan trọng, để cho các pháp sư Mật giáo tổ chức nghi thức chẩn tế cô hồn ngạ quỷ. Ban đầu các nghi lễ này chỉ được thiết lập ở trong hoàng cung để cầu nguyện cho vua chúa, các hoàng gia, nhưng dần dần lan rộng ra dân gian. Vào các triều đại kế tiếp, các pháp sư Trung Quốc đã kết hợp nghi thức chẩn tế với một số nghi thức kỳ siêu khác để cầu nguyện cho cô hồn ngạ quỷ, các linh hồn người mới chết, và được tổ chức long trọng trong các dịp lễ. Dần dần sư tăng từ các tông phái khác như Thiền tông và Tịnh độ cũng sử dụng nghi lễ chẩn tế cô hồn để làm phương tiện độ sinh và là một phương thức tiếp xúc với quần chúng. Về sau, các vị thầy cúng, các vị cư sĩ tại gia, và các pháp sư đạo Lão cũng đã học tập và sử dụng nghi thức khoa nghi cúng này để thiết đàn chẩn tế siêu độ vong nhân. Vào thời nhà Minh và nhà Thanh, nghi thức chẩn tế cô hồn trở thành phổ biến và được áp dụng khắp nơi. Cũng từ đó các bản nghi thức cúng cô hồn được in thành tập và được sử dụng ở các nước Trung Hoa, Đại Hàn, Nhật Bản và Việt Nam.

Một số bản nghi thức chẩn tế cô hồn được du nhập vào Việt Nam vào khoảng thế kỷ thứ XIII dưới triều đại nhà Trần (1225-1400). Hai vị tổ nổi tiếng dòng Trúc Lâm của hệ thống Thiền tông Việt Nam đã dùng các nghi lễ và khoa cúng này trong việc hoằng pháp. Trúc Lâm Đệ nhị Tổ Pháp Loa (1284-1330) đã dùng nghi lễ chẩn tế này để cầu nguyện ở triều đình. Đệ tam Tổ Huyền Quang (1254-1334) cũng đã dùng nghi thức chẩn tế cầu nguyện cho các chiến sĩ tử vong và đồng bào tử nạn trong ba cuộc chiến chống quân Nguyên Mông. Ở Việt Nam, nghi thức chẩn tế cô hồn không những được sử dụng để cầu nguyện cho cô hồn uổng tử, chiến sĩ trận vong,  đồng bào tử nạn, và người mới tạ thế, mà còn dùng để cầu nguyện quốc thái dân an. Nghi thức đại chẩn tế này rất cần thiết và quan trọng và thường được thiết lập  đại đàn siêu độ sau những năm chiến tranh ly loạn. Vào khoảng thập niên 1630, Thiền sư Chiết Công nhà Minh khi sang Việt Nam hoằng pháp đã mang theo một bản nghi thức mới in ở Trung Quốc thời đó. Trong những năm vào thập kỷ 1640, chúa Trịnh đã cung thỉnh ngài Chuyết Công cùng đệ tử là ngài Minh Hành tổ chức đại đàn chẩn tế  Thủy Lục Không Đại Pháp Hội để cầu nguyện cho vua Lê, chúa Trịnh và quần chúng. Theo văn bia chùa Bút Tháp và chùa Phật Tích tại tỉnh Bắc Ninh, vào năm 1645 khi công chúa Lê Thị Ngọc Duyên vào năm 30 tuổi đã xin vua cha cắt tóc đi tu với Thiền sư Minh Hành tại chùa Bút Tháp, chúa Trịnh Tráng đã mời ngài Minh Hành tổ chức đại đàn chẩn tế sau khi làm lễ xuất gia cho công chúa. Từ đó về sau nghi thức chẩn tế này lưu hành rộng rãi ở các chùa lớn tại miền Bắc. Ở Việt Nam, nghi lễ chẩn tế cô hồn thường được tổ chức vào rằm tháng Bảy, mùa Vu lan thắng hội. Đây là một ngày lễ lớn rất quan trọng trong truyền thống Phật giáo truyền thống Đại thừa nhằm để cầu nguyện cho ông bà tổ tiên quá vãng, và là ngày lễ lớn trong nhân gian để cúng cô hồn ngạ quỷ. Khắp các nơi, đồng bào quy tụ về chùa để cúng dường trai tăng và dự lễ cúng thí thực cô hồn tổ chức vào buổi chiều.

Thiền sư Chân Nguyên, đời thứ ba kể từ Tổ Chuyết Công, đã có công sưu tập và hoàn thành hai tập khoa nghi lễ dùng trong việc chẩn tế cô hồn. Đó là hai khoa cúng quan trọng được lưu hành trong Tăng đoàn Phật giáo Việt Nam. Bộ Thủy Lục Chư Khoa và bộ Thủy Lục Toàn Tập hiện nay vẫn còn các bản in tại một số chùa ở Hà Nội và tại Thư viện Hán Nôm (Hà Nội). Hai bộ khoa thủy lục này thường được dùng trong những đàn đại chẩn tế ở Việt Nam. Đại thi hào Nguyễn Du cũng đã dựa văn bản khoa cúng thí thực cô và đã diễn Nôm một phần qua áng văn nổi tiếng Văn tế Thập Loại Chúng Sinh.

Khác với hai bộ khoa cúng trên, nghi thức tiểu thí thực thường được  tụng ở các chùa vào buổi chiều. Thức cúng gồm có một chén cháo loãng, một bát nước trong, một chén gạo, và một chén muối. Nếu như có thì giờ, thì vị làm lễ tụng thêm kinh A-di-đà, tụng Hồng Danh Bảo Sám, rồi mới tụng nghi Mông Sơn Thí Thực trong phần cúng cô hồn.

Nội dung nghi Mông Sơn Thí Thực có thể tóm tắt như sau. Trước hết, vị hành giả niệm danh hiệu Bồ-tát Diện Nhiên ba lần, và tụng bài sám nhắc nhở các cô hồn muốn sinh về cõi Tịnh độ thì nên hết lòng lắng nghe bốn câu kệ trích từ kinh Hoa Nghiêm. Bài kệ đại ý dạy phải quán sát tất cả các pháp và hết thảy chư Phật trong ba đời đều do tâm tạo. Tiếp theo là tụng ba bài thần chú phá cửa địa ngục để các cô hồn ra khỏi chốn lao lung, tụng bài thần chú thỉnh mời các cô hồn tới cửa chùa để nghe kinh và nhận thức ăn nước uống; tiếp theo vị chủ lễ tụng bài thần chú dứt mở các nghiệp oan trái giúp cho các cô hồn tĩnh tâm và niệm theo danh hiệu của chư Phật ba đời trong mười phương, Phật Thích Ca, Bồ-Tát Quán Thế Âm, Bồ-tát Địa Tạng, và A-nan. Sau đó vị chủ lễ vì các loài cô hồn mà xin quy y Tam bảo, và cầu xin cho chúng dứt sạch vô số ác nghiệp do tham, sân, và si đã tạo tác từ nhiều kiếp trước. Sau đó các vị chủ lễ vì các loài chúng sinh và phát tấm lòng vô lượng nguyện sám hối các nghiệp chướng, nguyện dứt trừ các phiền não, nguyện tu học và nguyện thành Phật. Tiếp theo vị chủ lễ tụng thêm bảy bài thần chú. Bài thần chú thứ nhất giúp diệt trừ các nghiệp cố định; bài thần chú thứ hai giúp dứt trừ nghiệp chướng bình thường; bài thần chú thứ ba giúp cho yết hầu các ngạ quỷ mở rộng; bài thần chú thứ tư giúp cho các cô hồn giữ tâm trong chánh niệm để hưởng thọ các thức ăn, thức uống đang bày ra cúng cho chúng. Bài thần chú thứ năm giúp cho các thức ăn hóa ra vô số và biến thành ngon ngọt. Bài thần chú thứ sáu khiến cho nước thường biến thành cam lồ ngon ngọt vô song. Bài thần chú thứ bảy giúp cho chén nước trong biến thành nước có nhiều công đức. Và bài thần chú thứ tám khiến cho các thức ăn thức uống biến thành biển sữa để nuôi dưỡng các loài quỷ đói khát. Sau khi tụng các bài thần chú giúp các loài cô hồn ăn uống no đủ , người chủ lễ niệm danh hiệu của bảy vị Như Lai, và nhắc nhở các loài cô hồn rằng các bài thần chú này sẽ giúp chúng dứt bỏ đói khát, và quan trọng hơn nữa là chúng phải dứt bỏ tâm địa tham lam và phải một lòng quy y Tam bảo. Có như thế chúng mới dứt sạch nghiệp chướng quá khứ và hiện tại để vãng sinh về cõi Tịnh độ tu tập thoát khỏi nghiệp chướng luân hồi, và đạt tới quả vị Phật. Cuối cùng vị chủ lễ tụng thêm hai bài thần chú nói lên sự cao thượng của sự bố thí trong nhà Phật không phân biệt và ngăn cấm một ai, một loài nào tới nhận của cúng dường. Và các thứ cúng dường này được dâng cho mọi loài một cách bình đẳng.

Hết lòng chú tâm và thành tâm quán tưởng là hai yếu tố vô cùng quan trọng trong khi hành lễ cúng thí thực cô hồn. Có hết lòng để hết tâm ý để tụng kinh, và tâm không bị một điều gì khác quấy rối làm xao lãng tâm trí. Mỗi khi tụng bài thần chú nào, vị chủ lễ phải dùng tâm mình để quán tưởng rằng với thần lực của chư Phật, các bài thần chú mà mình đọc tụng có công năng nhiệm mầu như lời giải thích trong kinh. Thí dụ khi tụng bài thần chú Biến thực biến thủy, người chủ lễ phải nhìn vào chén cháo, chén nước để quán tưởng hai thứ thức ăn và thức uống này sẽ biến thành cam lồ ngon ngọt và hóa ra vô số lượng có thể làm cho các loài quỷ đói khát được ăn uống no đủ và thỏa mãn. Nếu người chủ lễ không thành tâm khi hành lễ thì các chúng cô hồn ngạ quỷ không thể được độ khỏi cảnh khổ, và đôi khi còn trở lại quấy nhiễu người sống. Khi còn ở Sài Gòn, thì được nghe một vị trụ trì kể rằng một hôm đến phiên thầy trị sự tụng kinh cúng thí thực cô hồn vào buổi chiều, nhưng khi tụng kinh thầy chỉ nghĩ đến xâu chìa khóa bị mất. Tối đó trong lúc đang ngủ thầy trụ trì thấy các cô hồn than phiền rằng buổi chiều thầy trị sự chỉ cho ăn toàn chìa khóa sắt. Sáng ra hỏi thầy trị sự, thì thầy nói rằng vì bị mất chùm chìa khóa quan trọng của chùa nên khi tụng kinh thầy chỉ nghĩ đến chùm chìa khóa. Chiều đó thầy trụ trì đích thân sắm lễ thịnh soạn hơn mọi khi và thỉnh tất cả chư Tăng trong chùa tụng kinh làm lễ cúng thí thực cô hồn.

Phật giáo cho rằng bằng cách tụng kinh cúng thí thực cô hồn vào một buổi chiều có thể khiến cho các loài cô hồn biết rằng vẫn còn có các bậc xuất gia ở chùa nghĩ đến chúng và bố thí thức ăn và nước uống cho chúng mỗi ngày. Nếu các chùa lớn chùa nhỏ trong toàn quốc đều làm lễ cúng thí thực  cô hồn vào mỗi buổi chiều thì các oan hồn uổng tử, các nạn nhân chiến cuộc, các linh hồn chế bất đắc kỳ tử, các oan hồn chết vì các tai nạn, v.v. có thể bớt sự đói khát và được siêu độ. Trong lúc làm lễ, các cô hồn có thể đến nghe kinh và nhận thọ các thức cúng thí. Các vị Tăng Ni không phải chỉ cúng thí cho các cô hồn thức ăn và thức uống mà còn đọc kinh tụng chú, nhắc lại những lời dạy của Đức Phật, giúp chúng quy y Tam bảo dứt các ác nghiệp, và dạy cho chúng con đường giải thoát siêu độ  trong đạo Phật. Nếu như các cô hồn đến chùa nghe kinh và thọ nhận các thức cúng thí, thì cũng có ngày linh hồn của các cô hồn này bớt sự cô đơn, được tỉnh ngộ rồi quy y Tam bảo và được thác sinh về cõi an vui hơn. Vẫn biết rằng giáo lý cao thượng của Phật giáo quan tâm đến vấn đề giác ngộ và giải thoát sinh tử, như giáo sư Charles Orzech nhận định về truyền thống Phật giáo Trung Quốc, “các đàn chẩn tế lập ra để cầu nguyện cho người vừa mới mất, hoặc tổ chức vào dịp Lễ Vu lan mỗi năm. Sự chẩn tế cô hồn này được xem như là nền tảng tín ngưỡng cho người Phật tử, và cũng là yếu tố rất quan trọng trong sự tồn vong của Phật gáo từ xưa cho đến nay”. Nếu pháp Tứ diệu đế phân tích một các rỏ ràng mạch lạc các sự khổ, nguyên nhân của khổ đau, quả giác ngộ Niết bàn, và con đường chấm dứt sự khổ, như một con đường giác ngộ thiên về mặt triết học, giáo lý và lý luận tâm linh, thì phần nghi lễ các khoa cúng thí thực, và đàn chẩn tế cô hồn mang là con đường tôn giáo tín ngưỡng, một sự quan tâm thiết thực cho sự khổ đau và mất mát của con người trong đời sống hằng ngày. Việt Nam là một quốc gia đã trải qua nhiều cuộc chiến, từ chiến tranh nội chiến đến các cuộc toàn dân đứng lên chống giặc ngoại xâm, khoa chẩn tế để cầu nguyện siêu độ cho những người chết là một nghi lễ cần thiết cho nhân quân xã hội.

(Còn tiếp một kỳ)

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 64

(Visited 2,123 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Nghiên Cứu, Quảng Chơn, Văn Hoá

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *