1Trí huệ thấy huyễn --- 2 Đại bi không bỏ chúng sanh --- 3 Sự trợ giúp lẫn nhau giữa trí huệ quán huyễn và đại bi"/>

Như huyễn và đại bi trong kinh Viên Giác

| 30/05/2016 | 0 Comments

Như huyễn đại bi trong kinh Viên Giác

NGUYỄN  THẾ  ĐĂNG|nhu-huyen-dai-bi

 

1Trí huệ thấy huyễn

Kinh Viên Giác là một kinh chuyên về trí huệ, ngay đầu đề kinh đã nói lên điều đó. Viên Giác là giác ngộ viên mãn, được dịch là The Sutra of Complete Enlightenment hay The Sutra of Perfect Enlightenment.

Trí huệ được tu hành trong kinh Viên Giác là trí huệ thấy thân tâm và thế giới, chúng sanh là như huyễn, do đó mà giải thoát và giác ngộ. Một trong những thí dụ ấn tượng nhất của kinh là thân tâm và thế giới, chúng sanh“như hoa đốm giữa hư không, do vọng thấy, vọng nhận, vọng chấp”.

Trí huệ để phá tan vô minh, mà vô minh là:

“Thiện nam tử! Hư không thật không có hoa, vì người bệnh vọng chấp mà có. Do vọng chấp nên chẳng những không biết tự tánh của hư không, mà còn mê lầm cho rằng thật có hoa đốm sanh ra. Do vọng chấp này mà có luân chuyển sanh tử, nên gọi là vô minh” (Chương thứ nhất, Văn Thù).

Trí huệ đưa đến giải thoát và giác ngộ là sự tu hành biết huyễn: “Nhân địa tu hành Viên giác của Như Lai là biết tất cả là hoa giữa hư không, bèn không có sự luân chuyển  cũng không có thân tâm chịu sanh tử luân hồi như hoa đốm kia. Chẳng phải làm cho sanh tử luân hồi thành không có, mà bản tánh của nó vốn là không có” (Chương Văn Thù).

Cực điểm của trí huệ được tóm tắt trong chương thứ hai Phổ Hiền: “Thiện nam tử! Biết huyễn tức lìa, chẳng lập phương tiện. Lìa huyễn tức giác, cũng không thứ lớp”.

Trong trí biết huyễn ấy, không có Bồ-tát và chúng sanh: “Trong thật tướng, thật không có Bồ-tát và chúng sanh. Vì sao thế? Bồ-tát và chúng sanh đều là huyễn hóa. Khi tướng huyễn hóa diệt thì không có sự thủ chứng. Ví như con mắt, không tự thấy mình. Tánh vốn bình đẳng như vậy mà không có cái gì để gọi là    bình đẳng” (Chương Thanh Tịnh Huệ).

2 Đại bi không bỏ chúng sanh

Với một người đi con đường Bồ-tát đạo thì không chỉ có trí huệ thấy được tất cả là như huyễn,  mà còn có đại bi cứu giúp chúng sanh. Thậm chí đại bi là lý do để sống, lý do hiện hữu của Bồ-tát. Nhưng chúng sanh thì như huyễn, vậy đại bi có nghĩa gì đối với chúng sanh như huyễn? Trí huệ thấy tất cả đều như huyễn và đại bi không bỏ chúng sanh, hai cái có vẻ trái ngược nhau, mâu thuẫn nhau này được hài hòa trong cuộc đời Bồ-tát như thế nào? Và khi hài hòa được cái nghịch lý này, thì đó cũng là con đường Trung đạo của Bồ-tát.

Kinh Viên Giác chuyên về trí huệ, nhưng hai chữ đại bi được nhắc đến nhiều trong kinh. Trong mười hai chương, chương nào khi các Bồ-tát thưa hỏi Phật cũng bắt đầu bằng câu “Thế Tôn Đại bi”. Đức Phật, bậc Giác ngộ rốt ráo tất cả đều huyễn không được xưng danh là Đại trí, mà được xưng danh là Thế Tôn Đại bi. Như thế để cho thấy rằng Đức Phật nói kinh này vì lòng đại bi, và các Bồ-tát thưa hỏi cũng vì lòng đại bi. Kinh này khởi phát từ lòng đại bi và chấm dứt bằng lòng đại bi, khi kinh này được nói ra vì “các Bồ-tát và chúng sanh đời mạt thế”.

Một Bồ-tát càng tu huyễn bao nhiêu càng thấy sự khổ đau, “mệt mỏi lo buồn” (Chương Thanh Tịnh Huệ) vô ích của cuộc đời chúng sanh trong sanh tử luân hồi bấy nhiêu.

Từ trí huệ là sự sáng tỏ của tâm nhìn thấy sự thật của cuộc đời, lòng bi sanh ra một cách tự nhiên nơi Bồ-tát. Mình đã từng lầm lẫn, đui mù, bây giờ nhìn thấy chúng sanh lầm lẫn, đui mù và khổ đau trong ấy, Bồ-tát có lòng bi:

“Do vọng chấp nên chẳng những mê lầm không biết tự tánh của hư không, mà còn lầm thêm là có hoa đốm thật đã sanh ra. Do các thứ hư vọng này mà có luân chuyển sanh tử, đó gọi là vô minh. Vô minh này không có thật thể. Như người trong mộng, khi đang mộng thì chẳng phải không có, khi thức dậy thì thấy hoàn toàn không có ở đâu cả. Như các hoa đốm giữa hư không, không thể nói là thật có chỗ diệt mất. Vì sao thế? Vì chưa từng sanh ra vậy. Tất cả chúng sanh ở trong   chỗ  vô sanh mà vọng thấy có sanh diệt, nên có luân chuyển trong sanh tử (Chương Văn Thù).

Vọng tưởng lại càng chồng thêm vọng tưởng, hoa đốm lại càng chồng thêm hoa đốm, mê lầm điên đảo lại càng chồng thêm mê lầm điên đảo. Thế nên chúng sanh càng trùng trùng hoa đốm thì Bồ-tát càng trùng trùng lòng bi.

“Thiện nam tử! Tất cả chúng sanh từ vô thủy đến nay vọng tưởng chấp có ta, người, chúng sanh, thọ mạng, nhận bốn thứ điên đảo ấy cho là có cái ta thật, do đó bèn sanh ra hai cảnh yêu ghét. Đối với cái hư vọng ấy lại thêm chấp hư vọng. Hai cái vọng tưởng này nương nhau sanh ra nghiệp hư vọng. Có nghiệp hư vọng này nên vọng thấy lưu chuyển sanh tử. Rồi do chán ghét sự lưu chuyển sanh tử mà thấy có Niết-bàn” (Chương Tịnh Các Nghiệp Chướng).

Từ một chủ thể là một cái ta huyễn hóa điên đảo như vậy, thế giới nhìn từ, trải nghiệm bởi trung tâm huyễn hóa ấy cũng là một thế giới huyễn hóa điên đảo. Khổ đau vì không biết sanh tử là vô tự tánh, là huyễn, là hoa đốm, mà còn tạo thêm nghiệp khổ đau bằng đủ mọi cảm xúc tiêu cực tham, sân, si, kiêu căng, đố kỵ, thù ghét… để những tấm lưới huyễn hóa ấy ngày càng dày đặc thêm, càng trói chặt thêm. Trong cuộc tìm kiếm hạnh phúc vô vọng và điên đảo ấy, kết quả chỉ là mệt mỏi và lo buồn khổ đau vì “chờ đợi hoa đốm giữa hư không sanh ra trái quả giữa hư không thì chỉ càng thêm vọng tưởng, hoàn toàn không thể có” (Chương Kim Cương Tạng).

Không biết sanh tử là hoa đốm mà còn gây thêm nghiệp để khổ đau trong sanh tử hoa đốm ấy thì thật là khổ chồng thêm lên khổ bao nhiêu lần, không có ngày thoát.

Thấy chúng sanh khổ đau oan uổng như vậy, lòng bi của Bồ-tát càng thêm lớn, đến độ dám ở trong sanh tử, cùng họ đồng sự để cứu họ ra.

“Thiện nam tử! Bồ-tát chỉ do đại bi mà phương tiện vào các thế gian để khai phát cho những người chưa ngộ, cho đến thị hiện các thứ hình tướng và hoàn cảnh thuận nghịch, đồng sự với họ khiến cho giải thoát, giác ngộ. Tất cả đều y vào nguyện lực thanh tịnh từ vô thủy”. “Sự biến hóa thị hiện của Bồ-tát ở thế gian chẳng phải do ái dục làm gốc, chỉ vì từ bi khiến cho chúng sanh xả bỏ ái dục mà giả mượn tham dục để vào sanh tử” (Chương Di Lặc).

Chúng ta thấy tất cả hành động (nghiệp) của Bồ-tát trong thế gian này đều khởi từ lòng bi, hiện hữu nơi lòng bi, và chấm dứt nơi lòng bi.

Trong sự thực hành cụ thể, quán huyễn đưa đến kinh nghiệm ban đầu là sự khinh an của lòng bi (đại bi khinh an). Trong ba pháp tu của kinh Viên Giác, pháp Chỉ đưa đến Tịch tĩnh khinh an, pháp Thiền đưa đến Tịch diệt khinh an và pháp Quán huyễn đưa đến Đại  bi khinh an. Trên kinh nghiệm thực hành cụ thể, càng quán huyễn thì càng có đại bi.

Đây là một chứng minh thực tế cho thấy trí huệ quán huyễn luôn luôn đi với đại bi. Như vậy, nếu không có đại bi thì không thể đi trọn con đường Bồ-tát, thế nên trí huệ quán thấy huyễn là không thể thiếu đối với người tu Bồ-tát đạo.

3 Sự trợ giúp lẫn nhau giữa trí huệ quán huyễn và đại bi

Trí huệ thấy huyễn và đại bi thương xót chúng sanh không chỉ có thể đi cùng nhau trong hành trình của Bồ-tát mà chúng còn hỗ trợ nhau để Bồ-tát tiến trên con đường giác ngộ.

Trí huệ làm mạnh thêm đại bi vì càng thấy huyễn thì càng thương xót. Trí huệ thấy huyễn (thấy các tướng chẳng phải tướng, Kinh Kim Cương) giúp cho đại bi không bị vướng mắc trong các tướng, do đó mà lòng bi được bình đẳng, thanh tịnh và càng thêm rộng lớn, không bị giới hạn. Thậm chí trí huệ thấy huyễn còn giải thoát cho đại bi khỏi bị vướng mắc vào khái niệm chúng sanh, là một khái niệm phân biệt hư vọng. Và cũng giải thoát cho lời nguyện độ sanh, khiến lời nguyện ấy là như huyễn, và như vậy lời nguyện ấy được “thanh tịnh từ vô thủy”. Lời nguyện ấy trở thành Vô nguyện, một trong ba chứng đắc của Bồ-tát là Không, Vô tướng, Vô nguyện. Khi ấy lòng bi ấy trở nên thanh tịnh, vì đó là Vô duyên đại bi. Và hành động cứu giúp chúng sanh cũng thanh tịnh vì không còn vướng kẹt trong bốn tướng ta, người, chúng sanh, thọ mạng. Như kinh Kim Cương nói: “Độ tất cả chúng sanh mà không thấy có chúng sanh nào được độ”.

Tóm lại, trí huệ giải thoát cho lòng bi phân biệt và giới hạn do bám chấp thành đại bi vô hạn, Không, Vô tướng, Vô nguyện như chính trí huệ.

Ngược lại, lòng bi cũng hỗ trợ trí huệ. Vì lòng bi là một trong bốn tâm vô lượng nên lòng bi làm cho trí huệ càng lớn rộng nhờ vào tâm vô lượng của mình. Một thí dụ là nếu ngọn đèn sáng (trí huệ) nhưng để trong một căn phòng, nó chỉ chiếu sáng căn phòng; còn để ngoài sân, nó sẽ chiếu xa hơn. Nếu trí huệ có ở trong một tâm bi vô lượng, nó sẽ trở nên vô lượng. Một thí dụ khác, trí huệ là độ sáng của tấm gương tâm để có thể in vào đó những hình bóng mà không bị ô nhiễm. Đại bi là độ lớn rộng của tấm gương tâm, lớn rộng đến vô hạn, để có thể in vào đó tất cả mọi hình bóng của vũ trụ.

Lòng bi với chúng sanh còn là động lực khiến trí huệ tiến nhanh hơn để có thể cứu giúp chúng sanh. Lòng bi luôn luôn đòi hỏi trí huệ phải sáng tỏ hơn nữa để cứu mình cứu người.

Đại bi làm cho trí tuệ có nhân tính hơn, cụ thể hơn, thế gian hơn. Nếu trí huệ từ bỏ chân lý tương đối (thế đế) để đạt đến chân lý tuyệt đối (chân đế) thì đại bi đưa trí huệ từ chân lý tuyệt đối về lại chân lý tương đối thường tục của thế gian. Một trong những điều cần để ý là đạo Phật không nói trơn là huyễn, mộng, mà nói như huyễn, như mộng. Chính nhờ đại bi mà Bồ-tát luôn luôn ở trên Trung đạo.

Tóm lại, như huyễn và đại bi là hai yếu tố chính không thể thiếu của con đường Bồ-tát. Hai năng lực ấy hỗ trợ nhau để một hành giả tiến nhanh trên con đường Bồ-tát. Cũng chính hai yếu tố ấy tạo thành Trung đạo của Bồ-tát. ■

Văn Hoá Phật Giáo số 200 Phật Đản

(Visited 135 times, 1 visits today)

Tags: , , , ,

Category: Nghiên Cứu, Nguyễn Thế Đăng

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *