Rêu phong lá mái

| 29/06/2016 | 0 Comments

Bài & ảnh: KHẢI  THƯ

“Tiếng đồn Bình Định tốt nhà” (ca dao).

Một lần tình cờ nhìn thấy bảng thống kê nhà lá mái trên địa bàn huyện của Phòng Văn hóa – Thông tin Tây Sơn, tôi thật sự ngỡ ngàng, ấn tượng, và mừng! Chỉ riêng ở thị trấn Phú Phong và ba xã: Bình Nghi, Tây Bình, Tây Giang hiện còn tới 94 ngôi nhà lá mái. Con số này cứ nhảy múa lấp loáng trong đầu, thôi thúc tôi tìm về quê hương Tây Sơn tam kiệt. Để được thỏa thích ngắm nhìn, chạm tay lên những dáng nét xưa cũ bền bỉ trường tồn cùng mưa nắng, tháng năm; để hiểu vì sao vùng đất này lại giàu có về di sản nhà lá mái đến vậy…

reu-phong-la-mai

Đó là những ngôi nhà có tuổi đời trăm năm trở lên. Từ các vật liệu dân dã sẵn có như gỗ, tre, đất sét, lá tranh… qua bàn tay tạo tác tài hoa, lành nghề của người thợ làm nhà xưa mà nên vóc thành hình, vững chãi đến tận ngày nay. Đi qua hai cuộc chiến tranh, trải trăm mùa mưa bão, đến nay nhiều ngôi nhà mái tranh đã được thay bằng mái ngói, bên trong và ngoài có đôi chỗ gia chủ tu sửa vài ba lần. Nhưng trên hết, kiến trúc cơ bản của nhà lá mái truyền thống cộng hưởng hài hòa với không gian xanh chung quanh mỗi ngôi nhà còn hiện diện rất rõ. Sống động những rêu phong! Ẩn dưới mỗi ngôi nhà cổ bình dị là sự trân quý cùng ý thức gìn giữ của những người ở hiện tại đối với không gian sống chất chứa kỷ niệm mà ông bà, cha mẹ đã dày công tạo dựng.

 

Trường tồn

Ngôi nhà lá mái đầu tiên tôi ghé thăm là nhà ông bà Văn Bá Tiên-Hứa Thị Thạt, ở thôn Thủ Thiện Thượng, xã Bình Nghi. Ở đây người ta quen gọi theo thứ và tên là ông, bà Năm Tiên. Tự nguyện, vui vẻ xuất trình tất cả giấy tờ tùy thân mang theo, chưa đủ – trịnh trọng… thề: “Chỉ đến để tìm hiểu, viết báo về nhà lá mái cổ” – tôi được gia chủ “đền bù” bằng nụ cười tin cẩn và mở cổng ngõ cửa nhà mời vào. “Nhà chỉ có hai vợ chồng già, cảnh giác với người lạ là đúng lắm…”, tôi nói với ông bà Năm Tiên bằng tất cả sự kính trọng, chân tình, mong xua cảm giác áy náy đang làm nằng nặng nét mặt hai người già. Thấy khách hiểu chưa trúng, bà Năm Tiên trần tình: “Chẳng phải trong nhà chứa của nả gì mà e ngại người lạ, chỉ là lâu lâu lại có người đến hỏi mua nhà nên ông bực, giận lẫy! Không bán đã đành một lẽ rồi nhưng nhà mình mình đang ở, bàn thờ nhà mình đang thờ, khi không tới hỏi bán đi, bao nhiêu cũng mua, ông sanh khó tánh nên ai lạ đến phải biết chắc hổng có chuyện bán mua nhà cửa thì ông mới vui vẻ mời vào”.

Mải nghe bà Năm nói, tôi không hay mình đã theo chân ông bà đi ngang cửa bàn khoa trước hè và vào nhà trên bằng cửa ra vào nhà tây. Nắng chiều còn đang gay gắt ngoài sân, bước qua cánh cửa tự nhiên mát rượi. Nắng le lói lọt qua thanh song cửa bàn khoa rọi vào nhà, những bức liễn cẩn xà cừ treo trên mấy thân cột trở nên óng ánh. Trên tường, gia chủ trang trọng treo ảnh chân dung đen trắng của “những người muôn năm cũ”, cây phả hệ Văn tộc… Bà Năm chân đau khớp, ngồi nghỉ trên phản ngựa, ông Năm lặng lẽ bật quẹt thắp nến các bàn thờ, còn tôi đứng lặng trong không gian xưa cũ mà trang trọng, thiêng liêng ấy. Ông Năm Tiên kể: “Căn nhà do ông nội tôi là Văn Nho xây cất khi cụ tròn đôi mươi vừa lập gia thất, để lại cho cha tôi là Văn Tất Tố, sau cha tôi lại trao cho vợ chồng tôi. Ông nội tôi qua đời ở tuổi 59, năm nay (tức 2013) là giỗ lần thứ 75 của cụ, từ đó có thể ước lượng được tuổi của căn nhà…”.

Chia tay ông bà Năm Tiên, tôi tiếp tục đi về hướng thị trấn Phú Phong và địa chỉ tôi tìm đến là nhà ông Bùi Đắc Khả ở khối Phú Xuân. Thấp thoáng dưới những bóng cau, dừa và sau hàng rào cây xanh cao quá đầu, thoạt trông bên ngoài căn nhà có vẻ bình thường nhưng khi chạm mặt kết cấu gỗ và đồ nội thất bên trong, mới thấy hết vẻ bề thế, kỳ công của nó. Ngôi nhà này được xây dựng năm 1889, khi chủ nhân đầu tiên Bùi Đắc Dư (còn gọi là Bá Mười, 1869-1895) vừa tròn 20 tuổi. “Tôi được nghe kể, để xây được ngôi nhà ba gian bề thế và công phu, tinh xảo trong từng nét chạm như thế, hai tốp thợ đến từ đất thành An Nhơn – tốp làm nhà, tốp chạm trổ – đã cắm rễ ở đây gần bảy năm. Có vài người thợ đem lòng thương rồi lấy con gái làng Phú Xuân, con cái sinh ra lên ba, lên năm tuổi ngôi nhà mới hoàn thành. Ngôi nhà từ đời ông cố để lại cho ông nội (Bùi Thích), đến đời cha (Bùi Duy) rồi đến tôi là thế hệ thứ tư. Nhà có bốn anh em trai nhưng ba người đều lập nghiệp ở xa, tôi là áp út, lập gia thất và sống tại quê nhà nên được ở và chăm sóc ngôi nhà chứa đầy kỷ niệm gia đình này”, ông Khả xúc động kể.

Lần theo danh sách trong tay, tôi lại tìm đến một ngôi nhà lá mái khác cách đó không xa: nhà ông Phan Phú, 81 tuổi, ở khối Một. Kết cấu lẫn trang trí kém bề thế, tinh xảo hơn so với nhà ông Khả, tuy vậy ngôi nhà ông Hai Phú lại rất dễ lấy lòng người bởi vẻ trầm mặc, bình dị, hiền hòa và không gian xanh mát chung quanh. Nắng chiều đã dịu và gió bắt đầu lên hây hẩy, bà Hai Phú dắt tay tôi dẫn đi dạo một lượt quanh nhà. Một cái ang sành đựng nước hợp đôi cùng chiếc gáo dừa được đặt ở chái hiên trên, khách đến nhà thì có ngay nước mát mà gột rửa bụi đường không phải ra tận nhà sau càng làm cho căn nhà cổ thêm phần ý nhị, duyên dáng. Lối từ cổng dẫn vào nhà, mỗi gốc cau là một dây trầu quấn quýt, hoa cau đang bung nở sực nức thơm. Tôi như lạc vào khu vườn cổ tích. Nhiều, thật nhiều cây cảnh, hoa lá, rau trái trong vườn. Vừa bước tôi  vừa đếm thầm trong đầu: mai tứ quý, phát tài, đinh lăng, dâm bụt, tường vi… đứng chan hòa bên nhau, uống long mạch căng nhựa sống. “Con đi thủng thẳng, đợi bà vào trong nhà lấy cái liềm…”, bà Hai nói với tôi khi hai bà cháu ra đến vườn sau và trông thấy buồng chuối dạ hương đã ngả màu vàng ruộm. Tôi đứng trong khu vườn lạ, bên tai nghe xào xạc những tàu chuối vỗ đập vào nhau và vo ve tiếng bầy ong đi tìm nhụy mà lòng cảm nhận sự thân thương, bình yên đang vỗ về.

Không gian những ngôi nhà lá mái cổ, thiêng và đẹp mơ đến nao lòng…

 

Giữ nhà

Trong 94 ngôi nhà lá mái hiện còn ở Tây Sơn, thị trấn Phú Phong dẫn đầu với 52 nhà, xã Tây Bình có 23 nhà, Bình Nghi có 10 nhà, Tây Giang có 9 nhà. Danh sách các gia đình có nhà lá mái và cố công gìn giữ được còn rất dài, như nhà Phạm Thị Quy, Nguyễn Văn Bằng (khối Phú Văn, thị trấn Phú Phong), Quách Thanh Tâm, Nguyễn Phước Hải (khối Thuận Nghĩa, thị trấn Phú Phong); Nguyễn Ích Trí, ông Nguyễn Xuân Hào, từ đường họ Đặng (thôn Mỹ Thuận, xã Tây Bình); Mai Tòng Quế (thôn Thủ Thiện Thượng, xã Bình Nghi), Trần Trọng Toại (thôn Tả Giang một, xã Tây Giang)…

Giữ nhà lá mái cổ, tốn kém, khổ ải và đau đầu nhất là chống mối. Khói lửa chiến tranh đã sơ sót bỏ qua một số ngôi nhà lá mái trên đất này cho con cháu đời sau nhưng… giặc mối thì không nương tay. Những gia chủ nhà lá mái cổ cười như mếu tâm sự, ngồi trong nhà lắng tai nghe tiếng mối mọt gặm nhấm rỉ rả vào từng thớ gỗ, còn bụi gỗ lất phất rơi rớt xuống đầu mà lòng đau như dao cứa! Mối lạnh lùng, triền miên gặm nhấm, đục khoét cột, kèo, xiên, trính, án thờ, bàn khoa, cửa, bàn ghế, phản ngựa… tóm lại tất tần tật những gì làm bằng đất, gỗ và tre. Mối kết bạn kết bè, lập làng lập bổn sống trên mái nhà, dưới nền, trong những thân cột. Trong đó, mái đất chính là nơi cư ngụ lý tưởng và bị mối tàn phá nặng nề nhất. Chuyến đi này, trong gần chục ngôi nhà lá mái tôi đến, chỉ có duy nhất nhà ông bà Năm Tiên là còn mái đất sét – kết tinh sáng tạo của người xưa và là đặc trưng nổi bật nhất của nhà lá mái Bình Định.

Hầu như ngôi nhà lá mái nào cũng đã trải qua vài ba lần sửa sang, tôn tạo với mục tiêu đặt ra trước hết và cao nhất là ngăn chặn, hạn chế sự xâm hại tự nhiên và giữ lại tối đa dáng vẻ cổ. Trung bình 10 – 15 năm lại phải “tổng tu bổ”, “tổng diệt mối” một lần. Kinh phí cho các lần sữa chữa gộp lại dư sức xây một ngôi nhà tân thời khang trang. Thế nhưng những “cư dân nhà lá mái” chẳng ngó ngàng. Tôi đến nhà ông Khả gặp lúc ngôi nhà đang trong kỳ sửa chữa lần thứ tư. Người quen thường gọi đùa ông Khả là nhà “mối học”. Ông nhận diện các loại mối và thuộc lòng đặc điểm sinh học của từng loại. Trên tường nhà ông lúc nào cũng có một bình xịt chống mối pha sẵn, sẵn sàng dùng khi cần đến. Tuổi đã cao nhưng người anh trai Bùi

Đắc Khôi cũng từ Sài Gòn về cả tháng trời để phụ em một tay chăm chút cho ngôi nhà chung. Giọng ông Khôi bồi hồi: “Tìm được tốp thợ địa phương, tuy khá trẻ nhưng nắm được cách xây nhà xưa, họ đã hoàn thành xong việc tháo các khớp ngàm, thay mới một số cột, kèo bị mối mọt, căn nhà vẫn vững chãi như xưa, anh em già chúng tôi mừng phát khóc! Đây là căn nhà ông bà dày công tạo dựng, từng thế hệ được sinh ra, nuôi nấng, lớn khôn dưới mái nhà này, thân thương và nhiều kỷ niệm lắm, giữ được đến chừng nào gia đình chúng tôi sẽ giữ”.

Tâm tình này làm tôi nhớ đến hình ảnh ngôi nhà cấp bốn “tân cổ giao duyên” của ông Võ Thừa Diễn (thôn Phú Mỹ, xã Tây Phú). Chiến tranh đã lấy đi gần hết ngôi nhà lá mái ba gian hai chái của gia đình ông; dập tắt được đám cháy cũng là lúc cha ông mừng rỡ khi thấy bộ khung gỗ kết cấu nhà trên và tấm phên dại chỉ mới sem sém. Trên nền đất cũ, khi xây lên ngôi nhà bằng vật liệu xây dựng mới, ông Diễn quyết định đặt bộ khung gỗ vào nhà trên, lấy phên dại đặt để vào vị trí của nó. Mỗi một bức chạm, tấm hoành, câu liễn đều được ông mang vào bài trí với lòng hoài cổ, nâng niu. Tôi mê mẩn nhìn hàng rào cây xanh được xén gọn gàng chạy ôm cong bao bọc lấy ngôi nhà. Ông bảo, nhờ giữ lại dấu tích căn nhà xưa mà các con ông biết đến ngôi nhà của ông bà, cha mẹ từng ở, phần ông thấy ấm lòng bởi các con là người biết cội biết nguồn, chúng rất trân quý từng món đồ xưa đó.

Một trong những đặc điểm của nhà lá mái cổ là thường chú trọng gian nhà trên, nơi để thờ tự, tiếp khách chứ ít dành diện tích cho không gian ở, sinh hoạt, các thành viên trong gia đình không có phòng riêng… Điều tưởng như rất bất tiện này lại được hóa giải nhẹ nhàng. Như cách ứng xử với nhà cổ ở gia đình ông Phan Phú. Đó gần như là một ngôi nhà còn giữ được nguyên bản, ngoài vài thay đổi nhỏ như thay tranh bằng ngói, thay vách đất bằng tường vôi, thay mấy cánh cửa sổ bị mục… Ông kể tôi nghe về sự đồng lòng trên dưới một bề giữ căn nhà cổ của gia đình ông, giọng tự hào: “Vợ chồng tôi có hỏi ý con cháu, rằng nhà xây kiểu xưa ít phòng ngủ, nhà vệ sinh nằm rời khỏi căn nhà… các con, các cháu có muốn cơi nới, xây thêm theo kiểu ngày nay cho tiện dụng không, tụi nhỏ đều nhất loạt thưa không. Ngay cả nền nhà, thời Việt Minh dùng làm kho chứa lúa gạo, muối, nước muối ăn nên lúc nào cũng ẩm, rít, mùa hè không thể lấy cái gối nằm lăn dưới đất cho mát như nhà nền lát gạch men, bất tiện đấy song con cháu ưng thuận để vậy cho đúng chất cổ chứ không muốn thay mới. Thời nay, nhà ở mỗi người mỗi phòng, sinh hoạt độc lập, khép kín nhưng tụi nhỏ vẫn quyết lòng giữ cốt cách xưa, sống quây quần, chan hòa vậy, tôi mừng và ưng bụng lắm!”.

“Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”. Trọn một ngày thong thả rong chơi, đắm mình ở những ngôi nhà lá mái cổ, tôi nhận về cho mình rất nhiều cảm xúc lẫn những bài học nhẹ nhàng mà sâu xa, ý nhị. Và tôi tin mình đã tìm ra được ít nhất một phần nguyên nhân sâu xa về sự trường tồn của nhà lá mái cổ trên quê hương người anh hùng áo vải Quang Trung – Nguyễn Huệ. Trên đất này, nhà lá mái cổ không chỉ may mắn lọt đạn bom chiến tranh, vững vàng qua trăm mùa lụt bão mà trên hết là đã điềm nhiên tồn tại trước phong trào săn lùng, mua bán nhà lá mái cổ cao điểm năm, bảy năm về trước. Chủ nhân hậu duệ của những ngôi nhà lá mái cổ đều là những người có tấm lòng hoài cổ, biết trân trọng, nâng niu di sản vật chất mà cha ông để lại. Họ đã, đang và sẽ còn cố gắng giữ nhà cổ. Không chỉ bằng của cải tiền bạc bỏ ra chi cho việc tu bổ, sửa sang một di sản vật thể mà còn bằng lòng hiếu thảo tiếp nối giữ gìn gia đạo thiêng nghiêm, bằng tâm hồn nghệ sĩ rung động trước cái đẹp! „

Chú thích ảnh:

Ông bà Năm Tiên sống bách niên giai lão trong ngôi nhà lá mái cổ của tổ tiên để lại.

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 198

(Visited 122 times, 1 visits today)

Tags: , , , ,

Category: Nghiên Cứu

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *