Tản mạn về kinh Đại thừa

| 30/03/2017 | 0 Comments

VŨ THẾ  NGỌC |

tan-man-kinh-dai-thua

Trong truyền thống  Phật giáo Đại thừa, kinh Viên Giác luôn luôn được các bậc cổ đức kính trọng. Đặc biệt, đối với Hoa Nghiêm tông và Thiền tông, kinh Viên Giác là một khóa bản căn yếu mà mọi người trong tông môn đều tham học. Viên Giác kinh là tên ngắn gọn của bộ kinh Đại Phương quảng Viên Giác Tu-đa-la Liễu nghĩa kinh, tuy không có bản Phạn ngữ nhưng  có tên Phạn văn là Mahāvaipulyapūrna-Buddhasūtra-Prasannārtha- Sūtra(2) được dịch ra Hán văn lần đầu tiên vào năm 647 và bản dịch Hán văn chúng ta hiện có là bản dịch của Buddhatrala  (Giác Cứu) người Kashmir  (Kế Tân) dịch vào năm 693. Kinh này không có nguyên bản Sanskrit và cũng  không  có bản  dịch chữ Tây Tạng ngoài  bản  Hán ngữ, nên đã bị coi là kinh giả do các đại sư người Trung Hoa tạo ra(3).  Nên ghi nhận truyền thống làm giả của người Hoa từ kinh sách đến đồ vật thường  dụng đã có rất lâu đời (4).

Việc phê  bình kinh Đại thừa  không  phải là chính kinh Đức Phật tuyên giảng, không phải là nhận  định mới. Trong quá  khứ từng  có trào  lưu “khảo chứng” nhắm vào toàn bộ kinh tạng Phật giáo Đại thừa. Lý do căn bản của nghi vấn này là câu hỏi tại sao kinh Đại thừa chỉ xuất hiện hơn năm trăm năm sau khi Đức Phật nhập diệt và không có mặt trong cả ba kỳ kiết tập kinh điển trước đó trong lịch sử(5). Các nhà Phật học Đại thừa xưa nay đã có nhiều giải thích.

  1. Trước hết là các giải thích chỉ dựa vào đức tin hay huyền thoại. Đó là các giải thíLongch như truyền thuyết ngài Long Thọ (Nāgārjuna, thế kỷ thứ hai) xuống Long cung lấy kinh Đại thừa về, hay ngài Vô Trước (Asanga, thế kỷ thứ tư) lên tận cung trời Đâu Suất thỉnh Bồ-tát Di-lặc xuống trần giáo hóa để được ngài ghi chép thành  các luận đề, thành hình giáo lý Duy Thức tông (yogācāra) v.v.
  1. Sau đó là đến giai đoạn của lý luận chủ quan. Đó là giải thích cho rằng chính Đức Phật đã giảng nhiều loại giáo lý tùy theo  căn cơ thính chúng  hoặc vì trình độ người nghe cũng khác biệt nên có người nghe thông tuệ hiểu sâu hơn kẻ phàm phu. Vì vậy những kinh Đại thừa đã được giữ gìn đặc biệt, chỉ giao truyền cho một nhóm đệ tử ưu tú nào đó, và chỉ được phổ biến khi gặp thời gian thích hợp (nên không có mặt trong ba kỳ tập kết kinh điển).
  1. Cuối cùng, khi lý thuyết về Tam  thân  (trikāya) thành  hình vững chãi từ thế kỷ thứ tư thì vấn đề kinh điển Đại thừa có một cơ sở riêng để giải thích. Theo thuyết  Tam  thân  này thì Đức Phật lịch sử duy nhất, tức Đức Phật Thích-ca Mâu-ni mà chúng ta biết, cũng chỉ là một ứng thân (nirmākāya) của Pháp thân Phật. Pháp thân (dharmakāya) được hiểu như là một thể tính thanh tịnh chân thật của Phật. Theo đó, Pháp thân mới là nguyên  lý, đó là Phật Pháp (Buddha-Dharma)(6)  mà chính Đức Phật Thích-ca Mâu-ni lúc còn tại thế giảng dạy. Khi nhìn nhận Đức Phật Thích-ca lịch sử chỉ là một ứng thân trong muôn ngàn ứng thân của Pháp thân, thì giáo lý Đại thừa cho thấy Phật có vô số ứng thân và xuất hiện khắp nơi trong  mọi thời gian và không gian. Muôn vạn các ứng thân này chiếu hiện trong mọi hoàn cảnh chỉ vì theo lòng từ bi với mục đích giáo hóa chúng  sinh. Từ quan điểm Tam thân này mà các kinh Đại thừa xuất hiện trong thời gian vô tận và có vô tận thế giới với vô số Phật và Đại Bồ-tát. Với lập cước này thì vấn đề giải thích sự xuất hiện muộn màng của kinh điển Đại thừa coi như đã được giải quyết, ít nhất là trên quan điểm giáo lý riêng của Phật giáo Đại thừa(7).

Nhưng ngay cả trước khi thuyết Tam thân được phổ biến và trở nên một lập cước chung của Phật giáo Đại thừa để giải thích cho câu hỏi về nguồn  gốc của các kinh điển Đại thừa, thật  ra các nhà tu tập  Phật giáo cũng không bận tâm chú ý đến nguồn  gốc kinh điển. Đối với họ, đức tin mới là một thắng đức cao cả, niềm xác tín vào “như thị ngã văn”(8)  là đủ. Các thắc mắc về nguồn gốc kinh điển Đại thừa thường chỉ là ý kiến của các nhà nghiên cứu ngoại đạo(9) hay các tông môn Phật giáo không  phải Đại thừa. Trong các kinh Đại thừa, không phải chỉ có một mình Đức Phật giảng pháp mà còn nhiều cư sĩ khác giảng pháp như kinh Duy-ma-cật, hay kinh Thắng Man. Nên biết, ngay cả kinh Diệu Pháp Liên Hoa 妙法蓮華經(10) (được Đại thừa tôn là vua của các kinh) Đức Phật chỉ giảng duy nhất phẩm “Như Lai Tùy Hảo Quang Minh Công Đức”; còn lại, toàn bộ kinh Pháp Hoa này chỉ là những bài Pháp thoại của các Bồ- tát khác. Và phổ biến hơn nữa là Bát-nhã Tâm Kinh(11) mà hằng triệu Phật tử Á Đông tụng đọc hằng ngày cũng không phải do Đức Phật Thích-ca giảng dạy.

Tuy nhiên khi các hành giả Đại thừa không thắc mắc về nguồn gốc kinh điển của mình, họ không thơ ngây hay mê tín, vì điều quan trọng nhất đối với họ là thực chứng những gì đã được dạy trong kinh (theo nguyên lý Tứ Y Pháp 四衣法 đã nói rõ trong luận Đại Trí Độ(12)).

Sự thực là có quá nhiều kinh điển trong Tam tạng, mà chỉ đọc không thôi cũng chưa từng có người có khả năng đọc hết. Cũng lại có quá nhiều pháp môn tu tập (như thành  ngữ “tám vạn bốn ngàn  pháp  môn”(13)  mà chúng  ta thường  nghe); cho nên,  trong  thực  tế các hành giả cũng chỉ tu tập theo một pháp môn mà chính thầy của họ giao truyền, hay chính họ tự thấy thích hợp và thực chứng được trong việc tu tập(14). Thiền tông, tông môn phát triển sau cùng của Đại thừa, còn dõng  dạc tuyên thuyết “bất lập văn tự” chằng cần căn cứ vào kinh điển, tự nhận là “giáo ngoại biệt truyền” với pháp môn tu tập “trực chỉ nhân  tâm, kiến tính thành  Phật”. Cho nên các thiền đường  đầu tiên cũng không tụng  kinh hay trưng bày ảnh tượng Đức Phật. Thực ra, tư tưởng lập cước của Thiền tông không phải quá mới lạ(15). Trong truyền thống Đại thừa, kinh điển vẫn nhiều lần khẳng định chính kim ngôn của Đức Phật cũng chỉ được coi là ngón tay chỉ trăng (kinh Pháp Hoa), cuối cùng cũng cần phải buông bỏ cả kinh (kinh Kim Cương Bát-nhã). Ngay trong  truyền  thống  Nam tông, kinh điển  Pāli cũng thường  nhắc  lại lời dạy “qua sông bỏ bè” (kinh Tăng nhất A-hàm) và nhắc lại chính Đức Phật đã răn dạy Phật tử đừng mù quáng tin ngay lập tức lời dạy của “tập tục văn hóa, truyền thống lịch sử, kinh điển thánh nhân” và dĩ nhiên cả những lời Phật thuyết pháp. Cho nên Đức Phật khuyến cáo mọi người đều phải cẩn trọng so sánh phân  tích kỹ lưỡng “như người thợ vàng để thử vàng thật, phải dùng  đá mài để thử, dùng  dao gọt để thử, dùng lửa để thử”.

Tóm lại, chúng ta nên biết kinh luận Phật giáo không phải được giao truyền chỉ vì đức tin mà vì thực chứng của các bậc thầy bậc tổ trong quá khứ. Điều quan trọng, như các bậc cổ đức đã nói, “tranh vẽ thực phẩm dù rất nhiều, dù rất khéo nhưng không thể làm no bụng”. Cơ bản thực chứng cuối cùng chính là sự tự thẩm định của từng cá nhân trong quá trình tu học của chính mình. Cho nên, ngay một nhà khoa học nghiên cứu Phật học Tây phương  danh  tiếng  hiện đại như Edward Conze cũng từng viết “Mặc dù bạn có thể bị hấp dẫn vô cùng vì triết lý sâu viễn của đạo Phật, nhưng bạn chỉ có thể thấu hiểu được giá trị của nó trong đời sống hằng ngày của bạn”(16). Cũng chính trong  thời gian ông  đã nghỉ hưu nhưng vẫn nhận hướng dẫn cho người viết này với lời răn bảo “Người thuần túy nghiên cứu (Phật học) nếu không có được kinh nghiệm  thực chứng thì sự thành thạo văn bản tờ a tờ b của anh chỉ có thể là một người sưu tầm kinh sách thế thôi”(17). Người học Phật phải tu học trong  ánh sáng trí tuệ, nhưng  cuối cùng mọi tri thức cao viễn của Phật học phải đi đôi với kinh nghiệm thực chứng(18).

Đạo Phật lại càng không phải là tôn giáo đặt trọng tâm vào đức tin của giáo điều. Tất cả các pháp môn dù Bắc truyền hay Nam truyền, Thiền Tịnh Mật hay Nguyên thủy đều lấy giáo lý vô ngã vô thường và duyên khởi là trung tâm; nên trên cơ bản giáo lý, không có tông môn nào là tôn giáo tín điều(19). Trong khi đó người ta thấy rõ là bên cạnh các khác biệt, phần cốt lõi căn bản của tất cả các tông  môn thì không khác gì nhau (như giáo lý Duyên khởi, Tứ diệu đế, Bát chánh đạo, Tam pháp ấn(20). Cho nên ngày nay các Phật học viện từ Nhật Bản đến Tích Lan, từ Ấn Độ đến Hoa Kỳ đều dạy đủ về giáo lý các tông môn. Nghiên cứu văn bản vẫn là một môn học chuyên môn có người theo học, nhưng nguồn gốc kinh điển Đại thừa không còn là đề tài tranh luận quan trọng.

Vì thế, điều mà giới nghiên cứu khảo chứng vừa qua thì không còn đặt vấn đề về cội nguồn  của kinh điển Đại thừa nữa, mà đặt nghi vấn vào các quyển kinh chỉ có văn bản  bằng  chữ Trung Hoa (Hán văn), nên  gọi là vấn đề “Ngụy kinh Phật bằng  tiếng  Hoa” (Chinese Buddhist Apocrypha). Các khảo chứng thường  chỉ đặt vấn đề với các kinh luận bằng  chữ Trung Hoa không có bản Phạn ngữ và cũng không có cả bản dịch tiếng Tây Tạng hay bất cứ một ngôn ngữ nào khác(21). Nhiều nghiên cứu đã chứng minh trên văn bản một số kinh này chỉ có thể do các đại sư người Hoa sáng tác trong một không gian và thời gian nhất định, chứ không thể xuất phát từ thực tế và không gian Phạn ngữ Ấn Độ.

Tuy nhiên theo quan điểm của Phật giáo Đại thừa thì ngay tác giả của những  kinh luận này là người Trung Hoa hay Việt Nam thì cũng không  có gì ngạc nhiên. Người viết từng thấy Phật tử người Hoa ở Quảng Châu  tụng  Pháp Bảo Đàn kinh của Lục Tổ Huệ Năng người Lĩnh Nam như tụng  các kinh Hoa ngữ dịch từ Phạn ngữ. Ngày nay dù người Việt có thể tụng Lục thời Sám hối của vua Trần Thái Tông cùng với bài tụng kinh Tâm kinh Bát Nhã thì cũng không làm ai ngạc nhiên.

Vấn đề “ngụy kinh” đúng ra chỉ còn là vấn đề chính danh (gọi tên cho đúng) như trường hợp nổi tiếng và gây tranh cãi vừa qua về quyển luận nổi tiếng Đại Thừa Khởi Tín Luận không  thể  là tác phẩm  của Mã Minh. Khi  luận  về “Đại Thừa  Khởi  Tín Luận” của  Mã Minh (Asvaghosa) trong thời chân ngụy của luận này chưa được đặt  ra và chứng  minh, Thiền sư Hám Sơn thời nhà Minh Trung Hoa trong Đại Thừa Khởi Tín Luận Trực Giải cũng đã từng viết: “Quyển luận này y cứ vào hằng trăm bộ Đại thừa là do hóa thân Phật kiến lập, tức thật là quyền. Nay luận này tổng nhiếp quyền thừa qui về một cái thật, chủ ý muốn hiển tức quyền là thật, cũng là qui dẫn về biển Viên Dung…”. Nhận định của ngài Hám Sơn cũng không phải là nhận định chủ quan, luận Đại Trí Độ cũng đã viết từ trước: “Phật Pháp không chỉ là những lời được nói ra từ miệng Đức Phật, mà còn là tất cả những ngôn từ chân thật, sâu xa và an lạc trong thế giới này(22).Lời này cũng có thể được dùng để kết luận của tôi về giải thích chân giả của kinh Viên Giác và các bộ kinh Đại thừa khác. ■

 

Chú thích:

1. Vào đầu năm 2015 anh chị cựu sinh viên Phân khoa Khoa học Xã hội Đại học Vạn Hạnh trong mục giao lưu “cafevanhanh” có chuyển cho tôi một bài viết của một tu sĩ phê phán về kinh Đại thừa một cách rất kỳ lạ. Tu sĩ này là người được biết khá nhiều ở Việt Nam về đề tài này, và việc thắc mắc về kinh điển Đại thừa cũng là một đề tài rất cũ. Nhân việc xuất bản Kinh Viên Giác Dịch Giảng tôi có bài tản mạn này.

2. Ý ngay tên kinh cũng lập lại từ sutra hai lần (Tu đa la, Kinh).

3. Từ thế kỷ trước giới học giả đã có nhiều nghiên cứu về các kinh Phật ngụy tạo bàn thảo với các phương pháp khảo chứng khoa học, và cho đến nay vấn đề đã được tạm coi là có cơ sở để giải quyết. Xem Hayashiya Tomojiro, Kyoroku Kenkyu, Tokyo: Iwanami Shoten, 1940; Mochizuki Shinko, Bukko kyoten seritsu-shi ron, Kyoto:  Hozokan  1946; Gikyo Kenkyu,  Kyoto: Kyoto Daigaku Jinbun Kagaky Kenkyujo, 1976. Hiện nay trong Anh ngữ, có một tác phẩm bàn kỹ về các bản kinh Phật gọi là ngụy kinh do người Trung Hoa sáng tác là Chinese Buddhist Apocrypha của Robert Buswell. Từ apocrypha (僞經 ngụy kinh) thực ra là một từ quen  thuộc trong giới nghiên  cứu về Kinh Thánh Thiên Chúa giáo (Bible) lấy từ chữ Hy Lạp apokruphos chỉ các book (phẩm) có tính cách bí mật, được phát  hiện ra khác với văn bản Kinh Thánh truyền thống. Trong Hán văn có hai từ tương đương là 異經 iching (dị kinh) và 僞經 weiching (ngụy kinh).

4. Xuất Tam Tạng Tập Ký 出三藏集記 (T.55. no.2145, 1-114) của Tăng Hựu (僧祐 445-518) từng cho biết ngài Đạo An (道安 312-385) đã liệt kê 26 bản “dị kinh” và 175 quyển “kinh lạ” trong số này có 143 bản dịch không có tên người dịch và không có nguyên tác Phạn văn. Xuất Tam Tạng Tập Ký còn ghi thêm 29 văn bản mà Tăng Hựu tìm ra và gọi là “ngụy kinh”.

5. Điển hình như bộ kinh Đại Bát-nhã với 600 quyển đã cần gần sáu thế kỷ để hoàn tất (từ thế kỷ thứ hai trước Tây lịch đến cuối thế kỷ thứ ba sau Tây lịch), tám mươi quyển kinh Hoa Nghiêm cũng trải qua quá trình hình thành rất dài.

6. “Phật Pháp” là từ đúng nghĩa và được dùng từ xưa, còn “Phật giáo” (Buddism) có lẽ chỉ dùng sau này vì ảnh hưởng “ism” của các từ Tây phương gọi Phật Pháp.

7. Mật tông, thường được coi là tông môn cuối cùng của Phật giáo Đại thừa, còn có nhiều kinh riêng của tông môn, trong quá khứ từng có những vị Theravāda lẫn Đại thừa cho các kinh Mật tông không chỉ là “ngụy kinh” mà còn gọi là “quỉ kinh” vì cho rằng có ảnh hưởng quá nhiều của đạo Bà-la-môn với các tư tưởng và nghi thức tu tập thực hành trái ngược với truyền thống Phật giáo. Nhưng dần dần tư tưởng Mật tông lại thâm nhập mạnh vào các tông môn Đại thừa cho nên một số kinh của Mật tông cũng được sắp vào Đại tạng kinh Phật giáo Đại thừa. Đến thế kỷ thứ VIII Mật tông đến Tây Tạng lại phối hợp văn hóa và tôn giáo bản địa (như đạo Bon một tín ngưỡng ma thuật) để dần dần tạo thành  Kim Cương thừa vajrayāna có tính chất riêng của Tây Tạng phát triển trên giáo pháp Mật tông Ấn Độ với nhiều bộ kinh mới. Nhưng nên biết nhiều kinh của Kim Cương thừa cũng có nguồn  gốc sớm hơn từ Ấn Độ. Từ thế kỷ thứ sáu đã có những kinh của Mật tông xuất hiện ở Ấn Độ cho thấy ngoài ảnh hưởng tư tưởng và nghi thức hành trì của Bà-la-môn giáo, tư tưởng Mật tông còn có ảnh hưởng từ các tôn giáo nhất thần (Thiên Chúa giáo, Hồi giáo, Bái Hỏa giáo…) có nguồn  gốc từ Trung Đông (xem Edward Conze, Buddhism Its Essence and Development nxb Harper & Row, New York 1975 các trang 174-199). Trước đây tại các quốc gia theo Phật giáo Đại thừa và Theravāda thường  có nhiều thông  tin không tích cực về các giáo phái Mật tông Tây Tạng. Phật giáo có những biến dạng khi vào Tây Tạng, thì cũng như Phật giáo Đại thừa vào Trung Hoa chuyển  thành  Thiền tông, Tịnh Độ tông. Các tông môn Phật giáo đều có những nghi lễ và hình thức, kể cả các kinh luận khác nhau, nhưng nội dung căn bản không xa nhau. Nên hiểu rộng nghĩa “Đức Phật tùy bệnh mà cho thuốc”. Ngay khi tại thế Đức Phật đã khuyến cáo các đại đệ tử của Ngài đi xa giảng Phật pháp bằng ngôn ngữ địa phương.

8. Evam srute mayā 如是我聞 (Như thị ngã văn): “Như thế tôi nghe  rằng”. Đây là câu mở đầu của hầu hết các kinh của Đại thừa lẫn Theravāda, theo giáo học thì đây là lời của ngài A-nan, thị giả của Đức Phật, người được coi là có trí nhớ vô song, trùng tuyên lại các bài nói pháp của Đức Phật trong đại hội kết tập kinh điển lần thứ nhất  ngay sau ngày Đức Phật nhập diệt. Lẽ dĩ nhiên trong kỳ kết tập này chư Tăng chỉ cùng tụng  và tự ghi nhớ chứ chưa ai viết xuống và sau nhiều thế kỷ các kinh văn chỉ là truyền khẩu (cũng vì thế các kinh Phật ngày nay thường  ở dạng kệ (āryā meter) thì cũng chỉ là một hình thức văn vần cho dễ nhớ). Kinh điển Phật giáo Theravāda cũng chỉ được viết xuống bằng chữ Pāli nhiều thế kỷ sau ngày Đức Phật nhập diệt. Tóm lại, với không gian và thời gian như thế  không thể nào có bất cứ quyển kinh ngày nay chúng ta đang có là “y nguyên” lời Đức Phật đã giảng dạy, và chắc chắn Đức Phật không nói tiếng Pāli hay Sanskrit.

9. Từ “ngoại đạo” trong Phật học chỉ có nghĩa là “ngoài Phật giáo” chứ không có nghĩa nặng nề như trong truyền thống tôn giáo tây phương “ngoại đạo” luôn luôn ám chỉ có nghĩa là mọi rợ, ma quỉ (pagan, infidel).

10. Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh (T.10).

11. Tâm kinh Bát-nhã (Māhaprājnāpāramitā Hrdaya Sutra) là

Pháp ngữ của Bồ-tát Quán Tự Tại Quan Thế Âm (Avalokitesvara).

12. Tứ Y Pháp (四衣法): 1. Y pháp bất y nhân (theo Pháp chứ không theo người), 2. Y liễu nghĩa kinh bất y bất liễu nghĩa kinh (theo kinh liễu nghĩa chứ không theo kinh chưa liễu nghĩa), Y nghĩa bất y ngữ (theo nghĩa lý chứ không theo ngôn tự), 4. Y trí bất y thức (theo trí tuệ chứ không theo sự hiểu thông tục).

13. Câu “Tám vạn bốn ngàn pháp môn” thực ra lại có nguồn gốc trong kinh điển Nam tông. Nên biết trong kinh sách văn hóa Ấn Độ các từ “bát vạn tứ thiên” hay “hằng hà sa số” chỉ là cách diễn tả “số nhiều” giống như từ “thập” trong văn hóa Trung Hoa có nghĩa là “hoàn toàn” chứ không có nghĩa con số

14. Một đại quan đến hỏi một thiền sư danh  tiếng: “Cốt tủy của lời Phật dạy là gì?” Sư trả lời: “Tránh các điều ác, làm điều lành, đó là tất cả lởi Phật dạy” (vốn là một kệ quen thuộc trong kinh Pháp Cú dhammapada). Vị đại quan ngạc nhiên nói tiếp: “Câu nói đó trẻ tám tuổi cũng biết, có gì lạ đâu?” Sư đáp “Trẻ tám tuồi nói được, nhưng người già tám mươi làm không được.” Truyện khác kể, ngài Đại Mai sau khi đắc pháp với Mã Tổ Đạo Nhất liền vào rừng sâu tu tập. Nhiều năm sau có người đến hỏi: “Đại sư được gì nơi Mã Tổ?” Ngài trả lời “Tổ dạy Tức tâm tức Phật. Bần tăng đã ngộ ra lời đó và tu theo đó.” Người hỏi nói: “Bây giờ tổ lại dạy rằng Vô tâm vô Phật.” Ngài Đại Mai trả lời “Kệ cho ông già trào lộng vô tâm vô Phật với thiên hạ. Bần tăng chỉ biết tức tâm tức Phật.” Người đi hỏi về thưa lại với Mã Tổ. Tổ tán thán: “Trái mận lớn đã chín rồi!”Vũ Thế Ngọc, Vô Môn Quan, Eatwest Institute1988, tr.82.

15. Xem Vũ Thế Ngọc, Nghiên Cứu Lục Tổ Đàn Kinh, sđd, để thấy sự thực bốn lập cước của Thiền tông đã có nguồn gốc sâu xa trong kinh Phật.

16. Vũ Thế Ngọc, Trí Tuệ Giải Thóat, sđd, tr.391.

17. Ibid, tr.298.

18. Đó là lý do căn bản tại sao các bậc cổ đức gọi thời nay là “thời mạt pháp”.

19. Lẽ dĩ nhiên trong thời “mạt pháp” sau này nhiều pháp môn Phật giáo lại trở nên cực kỳ giáo điều (dogmatic) không khác các tôn giáo Trung Đông, mặc dù người học Phật ai cũng nhớ đến lời Đức Phật dạy trước khi nhập Niết-bàn “Hãy tự thắp đuốc lên mà đi”.

20. Tam Pháp ấn: Ba khía cạnh đặc biệt riêng của Phật giáo: vô thường, vô ngã, khổ là ba giáo pháp khác hẳn tất cả các giáo lý của Ấn Độ ngày đó và cả các giáo lý tôn giáo khác ngày nay.

21. Nguyên tắc này cũng là nguyên tắc chung áp dụng cho tất cả các kinh luận. Thật ra tất cả kinh Phật chỉ được viết xuống sau khi Đức Phật nhập diệt nhiều trăm năm.

22. Long Thọ, Đại Trí Độ luận T.25,

Văn Hoá Phật Giáo số 220

(Visited 131 times, 1 visits today)

Tags: , , , , ,

Category: Nghiên Cứu, Vũ Thế Ngọc

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *