Lễ nhập bảo tháp cố HT. Thích Minh Châu

| 11/09/2012 | 0 Comments

Trích theo Đạo Phật Ngày Nay, Giác Ngộ Online, Giaohoiphatgiaovietnam.vn

 Sáng ngày 9/9/2012, tại Thiền Viện Vạn Hạnh, thuộc số 750, Nguyễn Kiệm, Q. Phú Nhuận, TP.HCM, BTC tang lễ cố HT. Thích Minh Châu đã cung thỉnh chư tôn đức Tăng Ni, quý quan khách, chư thiện nam tín nữ Phật tử tác lễ cung thỉnh nhục thân cố trưởng lão hòa thượng nhập bảo tháp.Le nhap bao thap HT Minh Chau

Đến tham dự chương trình đại lễ có sự hiện diện của chư tôn đức lãnh đạo GHPGVN, chư tôn đức trong HĐCM, HĐTS TW GHPGVN, các Ban trị sự các tỉnh, thành phố, ban giám hiệu các trường Cao trung, sơ cấp Phật học GHPGVN, chư tôn đức trụ trì các tự viện, tịnh xá, tịnh thất, niệm Phật đường tại TP.HCM và các tỉnh lân cận. Chư vị lãnh đạo nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, các vị giáo sự, tiến sĩ, nghệ sĩ trong cũng như ngoài nước, các Tăng Ni sinh các trường cao trung, sơ cấp Phật học, các dơn vị gia đình Phật tử và hàng ngàn Phật tử đồng về đưa tiễn giác linh hòa thượng.

Ngay từ tờ mờ sáng, dòng người từ khắp các ngã đỗ về Thiền Viện Vạn Hạnh để tiễn đưa một bậc thầy khả kính mãi mãi về với Phật.

Lễ tiễn đưa nhục thân cố đại lão hòa thượng Thích Minh Châu nhập bảo tháp, được chư tôn đức lãnh đạo giáo hội thực hiện đúng theo nghi thức truyền thống Phật giáo. Đó là lễ cung tiến giác linh, lễ khai thượng giá, đọc tiểu sử cuộc đời và sự nghiệp của Hòa thượng, lễ tưởng niệm, niêm hương tống biệt của chư tôn đức lãnh đạo giáo hội PGVN, của chư vị lãnh đạo nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam,… và lễ cung tống kim quan nhục than cố Hòa thượng nhập bảo tháp.

Hàng ngàn Tăng Ni sinh và Phật tử đồng nghiêng mình kính cẩn, đối trước một bậc thầy, một vị ân nhân đã mở ra con đường giáo dục vĩ đại cho hàng ngàn thế hệ Tăng Ni sinh Việt Nam. Nói làm sao hết nghĩa cử cao đẹp của một người thầy, khóc làm sao nguôi ân tình sâu lắng ấy.

Những bàn tay chắp lại trang nghiêm, từng dòng người đứng nối nhau nghiêng mình cung đón nhục thân Hòa thượng đi qua. Lễ cung rước nhục thân nhập bảo tháp được diễu hành trang nghiêm trong tiếng niệm Phật vang rền xung quanh Thiền Viện Vạn Hạnh. Những tràng hoa tuôn rơi, những giọt nước mắt đọng lại, nuối tiếc vị cha lành đã vĩnh viễn ra đi.

Áng mây bay che khuất bóng trăng rằm, đường sanh tử từ đây mở lối. Dẫu không muốn, ngàn vạn lần không muốn, vẫn phải một lần nuối tiếc khôn nguôi. Xin thành tâm tiễn biệt Hòa thượng, xin thành tâm bái biệt một người thầy, người cha của bao thế hệ. Khóc thương người vắng bóng, nghĩa là tất cả chúng con xin hứa, sẽ nối gót người làm rạng danh Phật pháp ngày mai. Xin vĩnh biệt.

Chi tiết buổi lễ:

7 giờ 35 phút: Chính thức cử hành Lễ tưởng niệm có HT.Thích Đức Nghiệp, Phó Thư ký HĐCM; HT.Thích Chơn Thiện, Phó Chủ tịch Thường trực HĐTS; HT.Thích Thanh Nhiễu, Phó Chủ tịch Thường trực HĐTS; HT.Thích Trí Quảng, Phó Chủ tịch HĐTS kiêm Trưởng ban Phật giáo Quốc tế TƯGH, Viện trưởng Học viện PGVN tại TP.HCM, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học VN; HT.Thích Thiện Nhơn, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký HĐTS; HT.Thích Giác Toàn, Phó Chủ tịch HĐTS… cùng chư tôn đức lãnh đạo Văn phòng I, Văn phòng II TƯGH, chư tôn đức lãnh đạo các ban, ngành, viện, học viện T.Ư, lãnh đạo Ban Trị sự các tỉnh, thành trong cả nước, đại diện các tổ chức Phật giáo quốc tế; các tổ chức Phật giáo Việt Nam tại hải ngoại, cùng hàng ngàn Tăng Ni Phật tử…

 Le nhap bao thap HT Minh Chau

Về phía khách quý có sự tham dự của các ông Hà Văn Núi, Phó Chủ tịch UBTƯ MTTQVN; Nguyễn Mạnh Hùng, Phó ban Dân vận T.Ư; Nguyễn Thanh Sơn, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao; Nguyễn Văn Đua, Phó Bí thư Thường trực Thành ủy TP.HCM; Dương Quan Hà, Phó Chủ tịch UBTƯ MTTQVN, Chủ tịch UBMTTQ TP.HCM; Đặng Trung Thành, Phó Vụ trưởng Vụ 1 Ban Tôn giáo Chính phủ… cùng lãnh đạo các bộ, sở, ban, ngành T.Ư và TP.HCM.

Tham dự còn có đại diện các phái đoàn ngoại giao tại Việt Nam, các tổ chức quốc tế tại Việt Nam và các tôn giáo bạn.

 Le nhap bao thap HT Minh Chau

 Sau lời giới thiệu của HT.Thích Khế Chơn về ý nghĩa và thành phần tham dự, HT.Thích Thanh Nhiễu, Phó Chủ tịch Thường trực HĐTS GHPGVN cung tuyên Tiểu sử cố Trưởng lão HT.Thích Minh Châu, Phó Pháp chủ GHPGVN

 Le nhap bao thap HT Minh Chau

TIỂU SỬ TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH MINH CHÂU (1918 – 2012)

–  Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh Giáo hội Phật giáo Việt Nam

–  Nguyên Đại biểu Quốc hội khóa VII, VIII, IX và X

–  Huân chương Hồ Chí Minh

–  Huân chương Độc lập hạng nhì

–  Huân chương Đại Đoàn kết

–  Nguyên Phó Chủ tịch Thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN

–  Nguyên Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký HĐTS GHPGVN

–  Nguyên Tổng vụ trưởng Tổng vụ Giáo dục GHPGVNTN

–  Nguyên Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh

–  Nguyên Viện trưởng sáng lập Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam – Chủ tịch Hội đồng phiên dịch Đại Tạng kinh Việt Nam

–  Nguyên Hiệu trưởng Trường Cao cấp PHVN, Cơ sở I, chùa Quán sứ, Hà Nội

–  Nguyên Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp. HCM

–  Trú trì Tổ Đình Tường Vân, Tp. Huế, Viện chủ Thiền viện Vạn Hạnh, Tp. HCM.

I. THÂN THẾ

Hòa thượng Họ Đinh, húy Văn Nam là đệ tử của Cố Đại lão Hòa thượng Thích Tịnh Khiết Đệ nhất Tăng Thống GHPGVNTN, pháp danh Tâm Trí, tự Minh Châu, pháp hiệu Viên Dung, sinh ngày 20 tháng 10 năm 1918 (Mậu Ngọ) tại làng Kim Thành (Quảng Nam); Nguyên quán làng Kim Khê, xã Nghi Long, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An.

Thân phụ là cụ ông Đinh Văn Chấp và thân mẫu là cụ bà Lê Thị Đạt. Gia đình Hòa thượng có 11 người anh em, Hòa thượng là con trai thứ tư trong gia đình. Vốn sinh trưởng trong gia đình vọng tộc Nho gia, thân sinh của Hòa thượng đỗ tiến sĩ Hoàng Giáp năm 21 tuổi (khoa Quý Sửu 1913, niên hiệu Duy Tân thứ 7). Nhờ ảnh hưởng sâu đậm nền giáo dục của cụ ông từ bé, cho nên, Hòa thượng rất cần mẫn đèn sách, chăm chỉ học hành, trí tuệ phát triển sớm.

Năm 1939, Hòa thượng đỗ bằng Cao đẳng Tiểu học Đông Dương; năm 1940 Hòa thượng đỗ Tú tài Toàn phần tại trường Khải Định – Huế (nay là trường Quốc Học); và cùng thời gian này, Ngài được bổ làm Thư ký tòa Khâm sứ, tỉnh Thừa Thiên. Sau một năm làm việc, Hòa thượng thấy nhiều bất công trong khâu xét xử nên đã xin thôi việc.

II. THỜI KỲ TÌM HIỂU GIÁO LÝ ĐẠO PHẬT VÀ XUẤT GIA HỌC ĐẠO

1. Tìm hiểu giáo lý đạo Phật:

Năm 1932, Hội An Nam Phật học ra đời, phong trào chấn hưng Phật giáo miền Trung nở rộ. Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám là nhà trí thức yêu nước cũng là một Phật tử được bầu làm Hội trưởng kiêm Chủ bút tạp chí Viên Âm. Phong trào học Phật do Bác sĩ tổ chức có nhiều trí thức yêu nước tham gia như: Ngô Điền, Phạm Hữu Bình, Võ Đình Cường…

Hòa thượng cùng em là Đinh Văn Vinh đến với phong trào học Phật từ năm 1936 do Bác sĩ Lê Đình Thám giảng và đảm nhiệm chức Chánh Thư ký của Hội. Kể từ đó, Hòa thượng gắn liền với Hội, là hạt nhân nòng cốt phát động phong trào yêu nước chống Pháp và phát động thanh niên tham gia học Phật. Hòa thượng là người đi đầu trong các phong trào này. Với tư cách là một Phật tử, bên cạnh cụ Hội trưởng Tâm Minh Lê Đình Thám, Hòa thượng đã hoạt động tích cực về nhiều mặt, giúp phát triển Phật sự của 17 Tỉnh hội Phật giáo miền Trung.

Trong phong trào Thanh niên nghiên cứu đạo Phật, Hòa thượng là một trong những người sáng lập Đoàn Thanh niên Phật học Đức dục và Gia đình Phật hóa phổ (tên cũ của Tổ chức Gia đình Phật tử Việt Nam sau này). Trong công cuộc chấn hưng Phật giáo từ Cố đô Huế đến các tỉnh Trung bộ, ngay từ buổi đầu Hòa thượng đã có nhiều cống hiến đáng kể như vận động một số Phật tử Hội viên của Hội quyên góp, bảo trợ cho Trường Phật học Báo Quốc, Tòng lâm Kim Sơn; lúc nạn đói dưới thời kỳ Nhật chiếm đóng, Ngài đã giúp sơ tán Học tăng vào Nam bộ do Hòa thượng Thích Thiện Hoa hướng dẫn và gởi gắm các nơi khác có điều kiện hơn…

2. Xuất gia tu học:

Trong thời gian làm việc ở Hội quán, Hòa thượng đã học hỏi và thâm hiểu giáo lý Đại thừa từ Bác sĩ Lê Đình Thám cùng Quý vị Tôn túc trong Sơn môn Thừa thiên Huế; Thời gian này, Ngài vào ở hẳn trong chùa Tường Vân.

Năm 1946, Ngài đầu sư với Hòa thượng húy thượng Trừng hạ Thông, tự Chơn Thường hiệu Tịnh Khiết (Đức Đệ nhất Tăng thống GHPGVNTN) tại Tổ đình Tường Vân, thuộc làng Hạ I, xã Thủy Xuân, thành phố Huế và được Bổn sư ban cho pháp danh là Tâm Trí, tự Minh Châu. Trải qua những tháng ngày hầu Thầy và chấp tác nặng nhọc tại Tổ đình cũng như việc Hội, nhưng Hòa thượng không bao giờ trể nãi. Người lúc ấy vừa là giảng sư, vừa là chú Điệu đang tập sự thực hành nếp sống Thiền môn. Công đức đã đầy đủ, năm 1949 (Kỷ Sửu) Hòa thượng được Bổn sư cho phép thọ Cụ túc giới tại giới đàn Hộ Quốc chùa Báo Quốc do chính Bổn sư làm Đàn đầu Hòa thượng. Trong Đại giới đàn này, Hòa thượng được Hội đồng Thập sư đặc cách cho thọ Tam Đàn cụ túc. Sau khi đã dự vào hàng Chúng trung tôn, Hòa thượng vẫn không ngừng sinh hoạt với Hội Phật học Trung phần, chuyên cần diễn giảng Phật pháp khắp các chùa Hội, hướng dẫn các thanh, thiếu niên của Gia đình Phật tử, đóng góp bài viết cho tạp chí Viên Âm, Từ Quang, Liên Hoa… Năm 1951, khi Hội thành lập trường Trung học Bồ Đề đầu tiên ở Huế, Hòa thượng được mời giữ chức Hiệu trưởng.

Năm 1951, Hội nghị thống nhất Phật giáo Việt Nam ba miền thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam tổ chức tại chùa Từ Đàm – Thuận Hóa (Huế), Hòa thượng là đại biểu chính thức tham dự Hội nghị.

3. Xuất dương du học:

Năm 1952, được sự chấp thuận của Giáo hội Tăng già Việt Nam và Hòa thượng Bổn sư, Hòa thượng xuất dương du học tại Sri-Lanka, học Pali và anh văn tại Colombo. Năm 1955, Hòa thượng được trường Đại học Tích Lan tặng bằng Pháp sư (Saddammcariya). Sau đó, Hòa thượng sang Ấn Độ và theo học tại Nava Nalanda Mahavihara thuộc Đại học Bihar. Trong thời gian du học tại đây, năm 1957 Hòa thượng đã diện kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh nhân chuyến thăm hữu nghị Ấn Độ của Người.

Năm 1958, Hòa thượng liên tiếp đỗ các văn bằng cử nhân Pali và Anh văn, đặc biệt đỗ Thủ khoa M.A (Cao học) về Pali và Abhidhamma. Với luận án: “So sánh tập Pali Trung bộ kinh với tập Trung A hàm chữ Hán”, (The Chinaese Madhyama gama and The Pali Majjhima Nikaya), tháng 09 năm 1961, Hòa thượng là người Việt Nam đầu tiên đỗ Tiến sĩ Phật học, Văn học Pali tại Ấn Độ và được Tổng thống Ấn Độ thời ấy đứng ra trao văn bằng Danh dự và khen ngợi không ngớt về luận văn này.

Năm 1962-1963, Hòa thượng được Đại học Bihar (Ấn Độ) mời ở lại giảng dạy. Tại đây, Hòa thượng đã biên tập nhiều tác phẩm bằng tiếng anh.

Năm 1964, Hòa thượng trở về nước, tiếp tục trước tác và dịch thuật nhiều tác phẩm có giá trị cho hàng Xuất gia và tại gia tu học.

III.  THỜI KỲ HÀNH ĐẠO

Năm 1964, ngay khi về nước, Hòa thượng được GHPGVNTN mời giữ chức Phó Viện trưởng Viện Cao đẳng Phật học Sài gòn, do Hòa thượng Trí Thủ làm Viện trưởng, trụ sở đặt tại chùa Pháp Hội – Chợ Lớn.

Đến năm 1965, Viện Cao đẳng Phật học Sài gòn được đổi thành Viện Đại học Vạn Hạnh. Từ năm 1966, với tư cách là Tổng vụ Trưởng Tổng vụ Giáo dục, Viện trưởng Viện Đại học Vạn Hạnh, Hòa thượng đã tiến hành xây dựng cơ sở mới tại số 222 đường Trương Minh Giảng (nay là đường Lê Văn Sĩ), do Hòa thượng làm Viện trưởng. Viện mở thêm 5 Phân khoa: Phân khoa Phật học (Hòa thượng Mãn Giác, Hòa thượng Thích Trí Tịnh làm Khoa trưởng), Phân khoa Văn Khoa (Giáo sư Bùi Tường Huân, Nguyễn Đăng Thục làm Khoa trưởng), Phân khoa Khoa học Xã hội (Cư sĩ Tôn Thất Thiện làm Khoa trưởng), Phân khoa Giáo dục (Đại đức Thích Nguyên Hồng làm Khoa trưởng), Trung tâm Ngoại ngữ (Giáo sư Cẩm Quỳnh làm Giám đốc).

Năm 1972, Hòa thượng mở thêm Phân khoa Khoa học Ứng dụng tại đường Võ Duy Nguy (nay là đường Nguyễn Kiệm), quận Phú Nhuận. Về mặt Văn hóa, Hòa thượng còn đảm nhiệm chức vụ Chủ biên Tạp chí Tư tưởng Vạn Hạnh từ năm 1964 – 1975.

Sau ngày miền Nam giải phóng, Đại học Vạn Hạnh giao cho Bộ Giáo dục quản lý. Phân khoa Phật học được chuyển về Trụ sở Phân khoa Khoa học Ứng dụng và đổi thành Viện Phật học Vạn Hạnh, do Hòa thượng làm Viện trưởng và Thiền viện Vạn Hạnh cũng do Hòa thượng làm Viện chủ.

Năm 1980, Hòa thượng cùng Chư Tôn Hòa thượng Thích Trí Thủ, Hòa thượng Thích Trí Tịnh, Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Hòa thượng Giới Nghiêm, Hòa thượng Thích Bửu Ý, Hòa Thượng Thích Thiện Hào, Hòa thượng Thích Thiện Châu, Hòa thượng Thích Từ Hạnh, Hòa thượng Thích Giác Toàn cùng với các cư sĩ Nguyễn Hữu Thiện, Nguyễn Văn Chế, Võ Đình Cường, Tống Hồ Cầm ở phía Nam cùng với Chư Tôn Hòa thượng, Thượng tọa ở phía Bắc Hòa thượng Thích Đức Nhuận, Hòa thượng Thế Long, Hòa thượng Thích Thanh Tứ lãnh đạo các Hệ phái Phật giáo Việt Nam thành lập Ban vận động thống nhất Phật giáo nước nhà, do Hòa thượng Thích Trí Thủ làm Trưởng ban, Hòa thượng làm Chánh Thư ký Ban Vận động. Đến ngày 07/11/1981, tại chùa Quán Sứ, thủ đô Hà Nội, Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc đã thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Hòa thượng được Đại hội suy cử giữ chức Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự GHPGVN liên tiếp ba nhiệm kỳ I, II và III (1981-1997).

Cũng trong năm 1981, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành lập Trường Cao cấp Phật học Việt Nam cơ sở 1 tại Chùa Quán Sứ, Hà Nội, do Hòa thượng làm Hiệu trưởng.

Năm 1984, GHPGVN thành lập Trường Cao cấp Phật học Việt Nam cơ sở 2 tại Viện Phật học Vạn Hạnh, Tp. Hồ Chí Minh, do Hòa thượng làm Hiệu trưởng. Đến năm 1997, được sự cho phép của Chính phủ, Trường Cao cấp Phật học đổi thành Học viện Phật giáo Việt Nam.

Năm 1989, khi Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam được thành lập, Hòa thượng được Giáo hội cử làm Viện trưởng. Năm 1991, Hòa thượng thành lập Hội đồng Chỉ đạo phiên dịch và Ấn hành Đại tạng kinh Việt Nam do Hòa thượng làm Chủ tịch.

Tháng 11 năm 1997, tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc Nhiệm kỳ IV (1997-2002), Hòa thượng được Đại hội suy tôn vào ngôi  vị Thành viên Hội đồng Chứng minh và suy cử chức vụ Phó Chủ tịch thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN liên tiếp hai nhiệm kỳ IV và V (1997-2007).

Tháng 12 năm 2007, tại Đại hội Đại biểu Phật giáo toàn quốc Nhiệm kỳ VI (2007-2012) toàn thể Đại hội đã suy tôn Hòa thượng lên ngôi vị Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh GHPGVN.

Từ tháng 5 năm 1981 – 2002, Hòa thượng là Đại biểu Quốc hội từ khóa VII đến khóa X; cũng trong thời gian này Hòa thượng được bầu làm Phó Chủ tịch Hội đồng Khoa học Xã hội Tp. Hồ Chí Minh.

1. Công trình biên soạn và phiên dịch kinh tạng:

Dù bận rộn nhiều công tác Phật sự, nhất là sự nghiệp giáo dục của Giáo hội, nhưng Hoà thượng vẫn dành nhiều thời gian để dịch thuật và biên soạn hàng trăm tác phẩm có giá trị học thuật cao, là tài liệu học tập và nghiên cứu Phật học của nhiều thế hệ Tăng Ni và tín đồ Phật giáo Việt Nam, như Trường Bộ kinh, Trung Bộ kinh, Tương Ưng Bộ kinh, Tăng Chi Bộ kinh, Tiểu Bộ kinh, các Bộ luận, các tác phẩm bằng tiếng Anh, tiếng Việt, sách nghiên cứu, giảng dạy v.v…

2. Nhiếp hóa đồ chúng, xây dựng cơ sở:

Với nhiều Phật sự của Giáo hội, giáo dục Tăng Ni, phiên dịch kinh tạng và trước tác, nhưng Hòa thượng vẫn luôn nhớ về nguồn cội – nơi mình đã xuất gia học đạo. Vì thế, sau khi Hòa thượng Vĩnh Thừa kế vị đức Tăng thống, trú trì Tổ đình Tường Vân viên tịch, Hòa thượng được Giáo hội và toàn thể chư Tôn túc, Tăng Ni, môn phái Tổ đình Tường Vân suy tôn lên ngôi vị Trú trì Tổ đình năm 1985 dưới sự chứng minh của Chư tôn Trưởng lão Hòa thượng Thích Đôn Hậu, Thích Mật Hiển, Thích Thiện Siêu… Trong cương vị Trú trì, Hòa thượng đã nhiếp hóa đồ chúng, tổ chức giới đàn Sa di Phương trượng cho Tăng chúng trong nội phái và chỉ đạo xây dựng, sửa sang một số công trình như cổng Tam quan, khu Bảo tháp chư Tổ và Bổn sư…

Tại Thiền viện Vạn Hạnh năm 2001, với trách nhiệm là Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Viện trưởng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Tp. Hồ Chí Minh, Hòa thượng đã làm lễ khởi công xây dựng cơ sở Viện Nghiên cứu Phật học và Học viện trong khuôn viên Thiền viện Vạn Hạnh, một cơ sở khang trang bề thế cho GHPGVN, đồng thời đại trùng tu ngôi Chánh điện, đến tháng 10 năm 2004 thì các công trình được hoàn tất. Tháng 09 năm 2005, Ngài cho xây dựng mới ngôi Tăng xá và đến tháng 10 năm 2006 tổ chức Lễ khánh thành và tạ ơn Tam bảo.

3. Công tác đối ngoại:

Với trách nhiệm là Phó Chủ tịch Thường trực, Tổng Thư ký Hội đồng Trị sự, Trưởng ban Quốc tế Trung ương, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội Phật giáo Châu Á vì hòa bình (ABCP), Chủ tịch Trung tâm ABCP Việt Nam, Hòa thượng đã tham dự nhiều Hội nghị, Hội thảo Quốc tế tại các Quốc gia và vùng lãnh thổ như Nhật Bản, Pháp, Cộng hòa Liên bang Nga, Tiệp Khắc, Ấn Độ, Srilanka, Mông Cổ, Úc, Ý, Canada, Hàn Quốc, Thái Lan, Đài Loan v.v…

Với những đóng góp, cống hiến cho đạo pháp và dân tộc, Hoà thượng đã được Giáo hội, Nhà Nước, Uỷ ban Trung Ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các cấp chính quyền tặng thưởng nhiều huân chương, huy chương cao quý như Huân chương Độc lập hạng nhì, Huân chương Đại đoàn kết, bằng Tuyên dương Công đức. Đặc biệt, nhân kỷ niệm 30 năm thành lập GHPGVN (07/11/1981 – 07/11/2011), Hòa thượng đã được Chủ tịch Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh.

IV. THỜI KỲ VIÊN TỊCH

Những việc cần làm, Hòa thượng đã làm xong, đã đến lúc gác bút, đi sâu vào thiền định, sống với hàng đệ tử xuất gia và tại gia thân tín. Năm 2006, Ngài lui về hậu liêu an dưỡng tuổi già. Giờ đây, cuộc đời của Hòa thượng như chiếc chiếu trải rộng, không phân biệt hệ phái Nam – Bắc tông, Đại thừa hay Tiểu thừa. Kinh sách, dịch thuật, trước tác của Hòa thượng đều nhằm mục đích duy nhất là trình bày một cách nguyên thủy, chính xác, trung thực lời Phật dạy, đó là giáo lý giải thoát mà Ngài đã thuyết giảng hơn 70 năm không biết mệt mõi, như nhạn bay xa, không lưu lại dấu tích.

Đúng vào mùa Vu Lan PL. 2556, lúc 9h00 sáng ngày 01 tháng 9 năm 2012, nhằm ngày 16 tháng 7 năm Nhâm Thìn, Hòa thượng đã nhẹ nhàng xả báo thân tại Phương trượng Thiền Viện Vạn Hạnh. Trụ thế 95 năm, hạ lạp 64 năm.

95 năm hiện diện ở cõi Ta bà, hơn 70 năm phục vụ cho Đạo pháp và Dân tộc, Hòa thượng đã mở trường trong Đạo và ngoài đời để đào tạo hàng ngàn Tăng Ni cấp Cử nhân Phật học cho Giáo hội; hàng chục ngàn sinh viên có bằng cấp, thành đạt phục vụ cho xã hội.

Hôm nay, mặc dù Hòa thượng đã đi vào cõi Niết bàn vô tung bất diệt, nhưng gương sáng trí tuệ và tinh thần Giáo dục cho Tăng Ni Phật tử Việt Nam, tinh thần phục vụ Đạo pháp và Dân tộc suốt đời của Ngài vẫn còn mãi với non sông đất nước, với Giáo hội Phật giáo Việt Nam, với Phật tử ba miền Bắc, Trung, Nam, với Tăng Ni trong và ngoài nước, với Tổ đình Tường Vân, Thiền viện Vạn Hạnh và trang sử vàng son của Phật giáo Việt Nam thời hiện đại.

Nam mô Tự Lâm Tế Chánh Tông, Tứ Thập Tam Thế, Xuân Kinh Tường Vân Tổ Đình Trú Trì, Hồ Chí Minh Thị Vạn Hạnh Thiền Viện Khai Sơn, Sung Việt Nam Phật Giáo Giáo Hội, Chứng Minh Hội Đồng, Phó Pháp Chủ, Húy thượng Tâm hạ Trí, Tự Minh Châu, Hiệu Viên Dung Trưởng Lão Hòa Thượng Giác Linh thùy từ chứng giám.

8 giờ 17 phút: HT.Thích Trí Quảng, Phó Chủ tịch HĐTS GHPGVN, Phó ban Thường trực Ban Lễ tang đọc Lời tưởng niệm của Trung ương GHPGVN

 Le nhap bao thap HT Minh Chau

LỜI TƯỞNG NIỆM GIÁC LINH

TRƯỞNG LÃO HÒA THƯỢNG THÍCH MINH CHÂU

của Trung ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam

Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Trước khi cử hành lễ phụng tống kim quan Trưởng lão Hòa thượng nhập Bảo tháp, nơi an nghỉ ngàn thu của trần thế, chúng tôi xin được thay mặt Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Tăng Ni, Phật tử Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài có đôi lời tưởng niệm.

Kính bạch Giác Linh Trưởng lão Hòa thượng,

Từ vùng đất địa linh nhân kiệt, xứ Nghệ An anh dũng, hào hùng, xứ học xứ hành sáng ngời khoa bảng, quê hương Hồ Chủ tịch kính yêu. Theo pháp giới duyên sinh vô tận, nơi duyên hải miền Trung xứ Quảng, nước sông Thu thao thao dòng diệu sử, dòng Hương Giang gió quyện hương từ, đất Thần kinh duyên lành kết trái, quy ngưỡng ba ngôi quý báu, trọn một lòng hộ đạo giúp đời, vẹn toàn công việc Hội An Nam Phật học. Rồi đến độ tâm hoa nở rộ, nhân duyên xuất tục đến kỳ, chùa Tường Vân thế phát bẩm sư, sống đời phạm hạnh, chốn không môn chuyên tâm tu tập, ngày đêm nghiên tầm giáo điển, công phu công quả chuyên cần; chùa Báo Quốc cầu thọ Tam đàn, ngôi Tam bảo Tam tôn kế vị, giới thể châu viên, giới đức trang nghiêm như ngọc sáng, Đạo thể Viên Dung. Quả thật:“Nào ai biết được trời không ấy, một bậc chân nhân hiện giữa trần”.

Trên bước đường trở thành bậc tri thức Phật học uyên thâm, sau hơn 10 năm xuất dương du học, trên diễn đàn học thuật bác học đa văn, Hòa thượng là một danh Tăng của Phật giáo Việt Nam và được thế giới hết lòng kính mộ, làm gạch nối, nhịp cầu giữa Phật giáo Việt Nam và các nước.

Qua những công hạnh kỳ vĩ, sự nghiệp to lớn, kho Tam tạng Phật giáo Nguyên thủy mà Hòa thượng đã dày công phiên dịch là cơ sở cho cho Tăng Ni, Phật tử Phật giáo Việt Nam nghiên cứu, tham học, trở về nguồn giáo lý như lời Phật dạy. Ngài đã có công lớn trong việc xây dựng Gia đình Phật tử Việt Nam; là bậc Thầy trong công tác Giáo dục của Phật giáo Việt Nam, là nhà Giáo dục mô phạm cho mọi thời đại. Có thể nói, Trưởng lão Hòa thượng đã đào tạo được nhiều thế hệ Tăng Ni tài đức, Phật tử hữu danh, có ích cho Đạo lẫn đời, hiện đang phục vụ các cấp Giáo hội từ Trung ương đến địa phương, trong nước và nước ngoài, góp phần xây dựng và phát triển Phật giáo Việt Nam qua từng thời đại, để cho “Hoa đời hoa đạo đua nhau nở, mãi mãi ngàn sau vẫn ngát hương”.

Với ân đức uy nghiêm, đạo tâm trác thế, trí tuệ viên dung, tòng lâm thạch trụ, bậc mô phạm cho đàn hậu học, cho nên mỗi lời pháp của Trưởng lão Hòa thượng là khơi nguồn trí huệ, mỗi việc làm của Trưởng lão Hòa thượng mở lối tương lai, mỗi cử chỉ của Trưởng lão Hòa thượng là thể hiện sự khoan dung độ lượng, lòng từ chan chứa. Trưởng lão Hòa thượng chính là hình ảnh giải thoát vô ngại, là lẽ sống muôn đời cho Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước học tập và làm theo. Như Cổ đức đã nói: “Nước chảy theo khe nào có ý. Mây tuông đỉnh núi vẫn vô tâm”.

Khi nước nhà thống nhất, giang sơn nối liền một dải, Bắc Nam sum hợp một nhà, trong tinh thần hòa hợp, tứ chúng đồng tu, Trưởng lão Hòa thượng đã cùng chư Tôn đức các tổ chức, Hệ phái Phật giáo Việt Nam tiến hành sự nghiệp thống nhất Phật giáo cả nước, kế thừa truyền thống 2000 năm lịch sử Phật giáo Việt Nam thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Với nhiều chức vụ trong Giáo hội, Hòa thượng đã dành nhiều tâm huyết, công sức để làm cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày càng phát triển trang nghiêm vững mạnh trên mọi phương diện, nhất là vị thế của Giáo hội Phật giáo Việt Nam được khẳng định trên trường quốc tế, thế giới biết đến Việt Nam, Phật giáo Việt Nam ngày càng rõ nét, quan hệ tốt đẹp hòa bình. Quả thật: “Năm Chân bốn bể là huynh đệ. Chung sống bên nhau bảo vệ hòa bình”.

Trải qua nhiều nhiệm kỳ, hơn 60 năm hoạt động, qua các thời kỳ khác nhau của lịch sử và xã hội, Trưởng lão Hòa thượng đã có những cống hiến cao quý, là một trong những Trưởng lão Hòa thượng lãnh đạo cấp cao của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, có những quyết sách, chiến lược tầm cở lâu dài, hoạch định chương trình hoạt động Phật sự mang tầm vóc quốc gia và quốc tế, tích cực tham gia vào việc xây dựng và phát triển đất nước, kế thừa truyền thống 2.000 lịch sử Phật giáo Việt Nam.

Đối với sự nghiệp Giáo dục, với trách nhiệm đào tạo Tăng tài, tiếp dẫn hậu lai, truyền trì Phật pháp, chấn hưng Phật giáo nước nhà, Hòa thượng đã tham gia xây dựng và điều hành Viện Cao đẳng Phật học Sài gòn, Đại học Vạn Hạnh, hệ thống Trường Bồ Đề trong cả nước. Hòa thượng mở Trường Cao cấp Phật học, Học viện Phật giáo Việt Nam và đào tạo nhiều thế hệ Tăng Ni tài đức, tích cực dấn thân và kiên định trong chí nguyện phụng sự đạo pháp theo phương châm của Giáo hội. Rất nhiều thế hệ Tăng Ni, Phật tử là học đồ, môn đệ do Hòa thượng đào tạo, hoặc ảnh hưởng ân đức của Ngài, hiện nay đang đảm nhiệm nhiều trọng trách của các cấp Giáo hội, tiếp nối sự nghiệp mà Ngài đã dầy công tạo dựng. Có thể nói, tinh thần và chủ trương Vạn Hạnh, con người Vạn Hạnh của Trưởng lão Hòa thượng mãi mãi trường tồn.

Thế hệ Tăng Ni, Phật tử hôm nay và mai sau là những người thừa hưởng sự nghiệp thống nhất Phật giáo Việt Nam, thừa hưởng sự nghiệp văn hóa, giáo dục to lớn mà Trưởng lão Hòa thượng đã trọn đời góp công góp sức làm nên và để lại cho Giáo hội, xã hội như ngày hôm nay. Quả thật: “Công ai đổ xuống đất này. Cho hoa Đạo pháp ngày ngày thêm tươi”. Giáo hội Phật giáo Việt Nam sẽ luôn luôn tiếp tục phát triển ở chiều rộng lẫn chiều sâu bằng cách sống, bằng hành động, vì Đạo pháp phục vụ không biết mõi mệt.

Trên ý nghĩa trang nghiêm ngôi Tam bảo là trang nghiêm tịnh độ tại thế gian, báo Phật ân đức và báo đáp công ơn của Thầy Tổ, Hòa thượng đã nỗ lực trùng tu chốn Tổ chùa Tường Vân, khai sáng Thiền viện Vạn Hạnh để những nơi đây xứng đáng là chốn phạm vũ huy hoàng tại nhân gian, là cơ sở của Giáo hội tại địa phương, nhất là cơ sở Học viện Phật giáo Việt Nam có tầm cở cho Phật giáo Việt Nam thời hiện đại.

Theo lý vô thường có sinh có diệt, Trưởng lão Hòa thượng đã mãn nguyện Ta Bà, thuận lý vô thường, trở về cõi Niết bàn vô tung bất diệt. Sự ra đi của Trưởng lão Hòa thượng để lại một sự trống vắng to lớn, sự mất mát vô cùng cho Giáo hội, cho Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong nước cũng như ở ngoài nước, môn nhân đệ tử và học đồ. Song hành trạng, công đức và đạo hạnh của Hòa thượng vẫn còn sống mãi trong tâm tư, trong ký ức của Tăng Ni, Phật tử, các cấp Giáo hội, Môn đồ đệ tử và Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước, nhất là trang sử vàng son của Phật giáo Việt Nam thời hiện tại.

Quả thật:

Một mai thân xác tiêu tan

Danh thơm vẫn ở thế gian muôn đời

Pháp thân lồng lộng tuyệt vời

Sáng soi Pháp giới, rạng ngời sử xanh.

Trong giây phút nghìn thu vĩnh biệt, trước linh đài khói hương quyện tỏa, chúng tôi thay mặt Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Tăng Ni, Phật tử có đôi lời tưởng niệm để vĩnh biệt bậc chân nhân sáng ngời gương đạo hạnh. Kính nguyện Giác linh Trưởng lão Hòa thượng bất vong nguyện lực, tái hiện đàm hoa, phát triển đạo vàng, quang vinh họ Thích; và xin đốt nén tâm hương cúng dường Giác linh Trưởng lão Hòa thượng để gọi là thể hiện mối tâm giao, tình Pháp lữ đời đời trong Chính pháp, xin hứa sẽ tiếp tục thực hiện những sự nghiệp mà Trưởng lão Hòa thượng còn để lại, nhất là làm cho ngôi nhà Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày càng phát triển vững mạnh, trang nghiêm trong lòng dân tộc như tâm nguyện của Trưởng lão Hòa thượng lúc sinh tiền. Than ôi!

Người xưa nay đã còn đâu

Chỉ còn mây bạc lòng sầu tiếc thương

Ra vào lòng dạ vấn vương

Nụ cười bất diệt, dư hương hoa từ.

Cuối cùng trong ý nghĩa pháp giới duyên sinh vô tận, nơi Bảo tháp Vạn Hạnh trang nghiêm, thân tứ đại Trưởng lão Hòa thượng hãy an nghỉ cho ngàn thu vang bóng, pháp thân lồng lộng khắp mười phương, sẽ sống mãi trong lòng Pháp lữ, trong tư duy cùng pháp giới  viên dung.

Xin bái biệt Hòa thượng!

Sau lời tưởng niệm của Trung ương Giáo hội, chư tôn giáo phẩm và toàn thể Tăng Ni, Phật tử, khách quý dâng hương tưởng niệm trước Giác linh đài

 Le nhap bao thap HT Minh Chau

Đúng 8 giờ 30 phút: Chư tôn đức Ban Nghi lễ cử hành nghi lễ truyền thống thiền môn cung thỉnh Giác linh và kim quan cố Trưởng lão Hòa thượng thăng thượng giá.

Lư hương, long vị, pháp y, di ảnh và kim quan cố Trưởng lão Hòa thượng được cung nghinh trong tiếng chuông trống bát-nhã trầm hùng và trong âm vang tiếng niệm Phật của Tăng Ni Phật tử.

Dẫn đầu đoàn cung nghinh là khánh lệnh, lư trầm và hai bình hoa; tiếp theo là bàn tôn trí hư hương, đoàn dâng hoa cúng dường, đoàn bê-tích pháp lệnh, chư tôn giáo phẩm Trung ương Giáo hội, quý vị quan khách, Hòa thượng đệ nhất chấp lệnh, chư tôn đức Ban Trị sự Phật giáo các tỉnh thành, chư tôn đức Tăng, Hòa thượng đệ nhị chấp lệnh, Ban kinh sư, Hòa thượng sám chủ, ban lễ nhạc, bàn phan triệu, bàn tôn trí bát hương – long vị – pháp y và di ảnh, kế tiếp là kim quan cố Trưởng lão Hòa thượng, đi theo sau là môn đồ pháp quyến Tăng, chư tôn đức Ni, môn đồ thế quyến, thiện tín Phật tử thân cận và toàn thể Phật tử.

 Le nhap bao thap HT Minh Chau

8 giờ 56 phút: Kim quan cố Trưởng lão được trang nghiêm cung thỉnh rời khỏi lễ đường.Le nhap bao thap HT Minh ChauLe nhap bao thap HT Minh ChauLe nhap bao thap HT Minh Chau

  Đoàn cung nghinh đã đến bảo tháp Pháp Lạc và an vị kim quan trong kim tĩnh của bảo tháp. Chư tôn đức Tăng Ni, toàn thể Phật tử đã đồng thanh tụng niệm cầu vãng sanh và hồi hướng với niềm xúc động nghẹn ngào.Le nhap bao thap HT Minh ChauLe nhap bao thap HT Minh Chau

  Chư tôn giáo phẩm và các vị khách quý đã rải hoa bái biệt vị giáo phẩm lãnh đạo cao cấp của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, nhà phiên dịch Kinh tạng Pali với sự nghiệp dịch thuật vô tiền khoáng hậu trong lịch sử Phật giáo nước nhà, nhà giáo dục Phật giáo lỗi lạc, nhà hoạt động ngoại giao xuất sắc, người đồng sáng lập tổ chức Gia đình Phật tử Việt Nam, vị Thầy kiệm lời nhưng thường trực với nụ cười khoan thứ trên môi, vị Thầy khả kính của nhiều thế hệ Tăng Ni, Phật tử; người đã để lại những ấn tượng sâu sắc với giới trí thức trong và ngoài nước.

 Le nhap bao thap HT Minh Chau

Xin cúi lạy Giác linh Trưởng lão Hòa thượng Phó Pháp chủ Hội đồng Chứng minh GHPGVN. Ngưỡng nguyện Trưởng lão Hòa thượng sớm hóa hiện cõi đời này để tiếp tục sự nghiêp giáo hóa độ sinh!

 Theo Hoàng Độ – Bảo Toàn – Huỳnh Diệu

 Cũng trong sáng ngày 9/9/2012, lễ tưởng niệm Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu đã long trọng tổ chức tại Trụ sở TW GHPGVN – chính điện Tam bảo chùa Quán Sứ.

Tham dự và chứng minh buổi lễ có Đại lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ  – Đức Đệ tam Pháp chủ GHPGVN ; HT.Thích Thanh Dũng – Thành viên HĐCM TW GHPG; HT.Thích Thanh Đàm – Thành viên HĐCM TW GHPGVN; HT.Thích Quảng Tùng  –  Phó Chủ tịch HĐTS TWGHPGVN, cùng chư Tôn đức HĐTS TW GHPGVN, BTS Phật giáo các tỉnh thành Phía Bắc.

Về phía chính quyền có: Ông Bùi Hữu Dược – Vụ trưởng vụ Phật giáo – Ban Tôn giáo Chính phủ; cùng đại diện lãnh đạo UBMTTQ VN các Bộ, Ban ngành TW các cấp chính quyền HĐND, UBND, Ban tôn giáo thành phố, cơ quan chức năng TW và địa phương cùng đông đảo các tín đồ phật tử thập phương cùng về tham dự.

Tại buổi lễ, TT Thích Thanh Đạt – Ủy viên HĐTS GHPGVN – Viện trưởng HVPG Việt Nam tại Hà Nội cung tuyên tiểu sử cố Trưởng lão Hòa thượng Thích Minh Châu, HT Thích Quảng Tùng – Phó chủ tịch HĐTS GHPGVN dâng lời tưởng niệm

 Le nhap bao thap HT Minh Chau

(Visited 195 times, 1 visits today)

Tags: ,

Category: Nhân Vật

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *