Luân hồi cõi thế lại xin đưa đò

| 25/11/2014 | 0 Comments

Bên tách trà |Lai-xin-dua-do

Một người thầy với hơn nửa thế kỷ dạy học, một người thầy mà mỗi khi nhắc đến tên, các lớp học trò đều bồi hồi niềm thương kính, một người thầy đã gieo vào lòng học trò tình yêu di sản của ông cha, dạy học trò cốt cách Đông phương trong sự làm người… Đó chính là thầy Nguyễn Khuê, nhà nghiên cứu và giảng dạy Hán – Nôm, một trong những cổ thụ của nền giáo dục nước nhà.

Thầy sinh trưởng ở Thừa Thiên Huế, khởi sự dạy học ở Huế và sau đó ở các trường trung học, đại học ở miền Trung và miền Nam. Có bằng cao học Hán – Nôm, đã hoàn tất chương trình tiến sĩ ngành này trước ngày đất nước thống nhất 1975. Cả cuộc đời gắn bó với nghề dạy học, thầy là tấm gương mẫu mực của lòng tận tụy, yêu nghề. Thầy còn là một nhà nghiên cứu uyên bác, đã cho ra đời những công trình khảo cứu và biên dịch văn chương, thư tịch Hán – Nôm, Phật học… dày dạn và thâm sâu.

Năm nay, mặc dù đã sang tuổi “thất thập cổ lai hy” nhưng thầy vẫn tiếp tục gieo nguồn sáng đến các thế hệ học trò. Đời thầy là một cuộc đời sống trọn đạo và làm thầy không mệt mỏi.

Nhân ngày hiến chương Nhà giáo Việt Nam 20 – 11, Văn Hóa Phật Giáo đã có buổi trò chuyện bên tách trà với thầy. Thầy Nguyễn Khuê đã chia sẽ những tâm tình, những suy nghiệm của mình trong cả cuộc đời đi dạy. Văn Hóa Phật Giáo xin giới thiệu cùng bạn đọc tiếng lòng của một người thầy cả một đời tận tụy với sự nghiệp giáo dục nước nhà.

Duyên nợ với nghề “đưa đò”

PV: Thưa thầy, nhân duyên gì đưa thầy đến với nghề dạy học?

Thầy Nguyễn Khuê: Sở dĩ tôi chọn nghề giáo bởi vì tôi yêu quý những vị thầy học của tôi. Lúc tôi đi học, có những vị thầy mà tôi rất kính trọng, và từ đó tôi chọn nghề dạy học. Tôi bắt đầu đi dạy  từ năm 1945, năm ký kết Hiệp định Genève tạm thời chia đôi đất nước. Tính đến nay, năm 2008, tôi đã cầm phấn hơn 50 năm.

Bây giờ đi dạy, nhiều sinh viên đã thành thực nói với tôi rằng cho đến khi học với tôi, họ mới thấy thích nghề dạy học. Tôi thấy rất vui, vì tâm trạng của các bạn sinh viên cũng giống như tâm trạng của tôi ngày trước. Ngày xưa, vì yêu quý thầy mà tôi chọn nghề dạy. Và bây giờ, có những bạn sinh viên vì quý tôi mà chọn nghề dạy. Đó là những phần thưởng tinh thần quý báu cho tôi trong cuộc sống.

PV: Những học trò đã từng học thầy thường nhận xét rằng thầy là một “nhà Nho tân thời”. Thầy có suy nghĩ gì về nhận xét đó của học trò?

Thầy Nguyễn Khuê: Tôi nghĩ đó là một cách gọi vui và phần nào cũng đúng với tính cách của tôi. Thường thì các nhà Nho hay cổ lỗ sĩ, chỉ biết Tứ thư Ngũ kinh thôi còn không tiếp thu được các tư tưởng mới, đặc biệt là các tư tưởng mới của phương Tây. Tôi thì còn may mắn hơn, ngoài những tư tưởng của nhà Nho, tôi còn hấp thu được những tư tưởng của Lão Trang, Phật giáo và cả các tư tưởng mới của phương Tây. Có lẽ vì thế mà học trò nghĩ rằng tôi là một “nhà Nho tân thôi”.

Ngoài ra, tôi nghĩ rằng “nhà Nho” có thể hiểu theo nghĩa rộng hơn là một nhà giáo mô phạm. “Nhà Nho” ấy có thể là một thầy giáo dạy Toán…, chứ không nhất thiết phải xuất thân từ Hán học như tôi. “Nhà Nho” có thể hiểu là phong cách, cốt cách đạo mạo, chuẩn mực của một con người. Nếu hiểu theo nghĩa này, tôi nghĩ rằng mình cũng mang một chút cốt cách đó. Trong cuộc đời đi dạy của tôi, tôi chưa bao giờ nghỉ dạy vô cớ, hoặc đi trễ về sớm… Tôi quan niệm rằng một nhà giáo cần phải mẫu mực mà điều đó thể hiện trước hết là ở giờ giấc làm việc, giờ vào lớp, giờ ra chơi, giờ tan học, mình phải giữ đúng theo giờ giấc mà nhà trường đã quy định.

PV: Thầy có nghĩ cốt cách đó của mình là xuất phát từ Nho phong?

Thầy Nguyễn Khuê: Vâng, một phần nào đó con người tôi ảnh hưởng từ Nho học. Nhưng quan trọng hơn, tôi là một Phật tử, tư tưởng Phật giáo thấm nhuần trong tôi. Vì thế khi làm bất cứ việc gì tôi cũng nghĩ rằng mình đang gieo nhân nên luôn cố gắng gieo nhân tốt.

Ngoài ra, còn phải kể đến hoàn cảnh lúc tôi bắt đầu vào nghề. Những năm đầu dạy học, tôi được trường Sư phạm ở Huế mời dạy môn Luân lý chức nghiệp, môn học này truyền đạt cho giáo sinh (sinh viên sư phạm) kiến thức và tinh thần trách nhiệm đốii với nghề nghiệp. Những điều tôi nói với giáo sinh cũng là những gì tôi luôn tự nhủ và cố giữ cho đúng, từ đó trở thành thói quen, trở thành sự mẫu mực mà học trò nhiều thế hệ hay nhìn thấy nơi tôi.

Người Phật tử trong người thầy giáo

PV: Ngoài việc dạy ở các trường đại học, thầy còn dạy ở nhiều Phật học viện, thầy có gặp khó khăn gì khi dạy học “ở chùa”?

Thầy Nguyễn Khuê: Ngày trước, tôi có dạy trường Cao cấp Phật học, mà bây giờ gọi là Học viện Phật giáo Việt Nam, và trường Cơ bản Phật học, bây giờ gọi là Trung cấp Phật học TP.HCM. Ngoài ra, tôi còn được quý vị Tăng Ni tín nhiệm mời dạy Hán – Nôm ở các chùa, như Già Lam, Bảo Vân, Phước Hòa, tu viện Huệ Quang… Những lớp này, bây giờ có nhiều vị thành đạt và trở thành thầy dạy môn Hán văn.

Mặc dù tôi dạy ở nhiều trường Phật học nhưng bao giờ vào lớp tôi cũng nghĩ mình có hai tư cách, đầu tiên là tư cách của một người thầy, và thứ hai là tư cách của  người Phật tử. Khi vào lớp, tôi không bao giờ ngồi vào bàn giáo sư, mà chỉ đứng giảng trong suốt buổi học, bởi vì tôi không chỉ là người thầy, mà tôi còn là một Phật tử, tôi cần phải thể hiện sự kính trọng với các vị Tăng Ni đang ngồi học bên dưới. Trong cách xưng hô, nếu ở các trường đại học tôi gọi sinh viên bằng “các anh, chị” hay “các em” thì khi dạy Tăng Ni sinh, tôi luôn “thưa các thầy, các cô”. Không có gì trở ngại hay khó khăn cả, mọi sự đều tự nhiên, vì tư chất của người Phật tử đã thấm vào máu của tôi. Trong giờ dạy Hán văn cho Tăng Ni sinh, tôi thường nói đùa: “Trong lớp chúng ta không có học trò, chỉ toàn là các thầy cô”.

Vả lại, môn tôi dạy ở các trường Phật học là môn Hán văn, nhưng không phải chỉ thuần Hán văn mà là môn dùng các tài liệu Phật học để dạy Hán văn. Hán văn chỉ là phương tiện để chuyển tải các vấn đề về Phật học, vì thế ngoài việc dạy chữ tôi còn có cơ hội tìm hiểu và truyền đạt tư tưởng thâm sâu của giáo lý Phật đà. Đó cũng là điều hạnh phúc của tôi.

Cảm nghiệm của một người thầy

PV: Trong cuộc đời đi dạy của thầy, thầy có gặp biến cố nào tưởng chừng như không thể vượt qua, nhưng thầy đã khắc phục để tiếp tục nghề dạy học?

Thầy Nguyễn Khuê: Tôi đã gặp rất nhiều biến cố trong cuộc đời đi dạy của mình. Có thể kể ra đây biến cố năm 1975. Tồi là một thầy giáo miền Nam, như nhiều đồng nghiệp khác, tôi gặp nhiều khó khăn sau năm 1975. Khó khăn về vật chất cũng chỉ là một, còn có nhiều khó khăn khác nữa… Thêm vào đó là những khó khăn trong gia đình.

PV: Những thăng trầm của lịch sử thầy cũng trải qua có ảnh hưởng đến “ông thầy” trong thấy?

Thầy Nguyễn Khuê: Lịch sử luôn có nhiều biến động, nhưng tôi nghĩ rằng ngừoi làm nghề dạy học phải đứng bên ngoài chình trị. “Ngoài chính trị” theo quan điểm của tôi có nghĩa là khi vào lớp người thầy không nên nói về những vấn đề chính trị. Đối với tôn giáo cũng vậy. Tôi là Phật tử, hay tôi là người Công giáo, nhưng khi vào lớp, tôi chỉ là người thầy, và tôi không thể tuyên truyền cho bất cứ tôn giáo nào cả. Nếu thầy có khuyên học trò điều gì thì là khuyên theo lẽ phải, lương tri thôi chứ không phải theo tôn giáo.

PV: Theo thầy, điều gì là quan trọng nhất đối với một người thầy khi đứng trên bục giảng?

Thầy Nguyễn Khuê: Đối với người thầy, đặc biệt là ngườii thầy ngày nay, thì tri thức luôn là vấn đề quan trọng nhưng tri thức chỉ mới là điều kiện cần chứ chưa là điều kiện đủ. Ngoài tri thức ra, tôi nghĩ rằng tình yêu nghề, yêu thương học trò rất quan trọng, dù nói ra thì có lẽ là khuôn sáo. Nếu không có tình yêu này, ngừoi thầy khó có thể đứng vững được, nhất là vào những giai đoạn cuộc sống khó khăn. Sau năm 1975, có rất nhiều thấy cô tự xin nghỉ dạy, lý do phần lớn vì cuộc sống vật chất quá khó khăn, lương không đủ để nuôi sống bản thân và gia đình. Hơn nữa, tình yêu này không chỉ giúp cho ngừoi thầy trụ lại với nghề mà còn giúp thầy truyền nhiệt quyết qua từng trang giáo án, từng giờ lên lớp, từng điểm số, lời nhận xét đối với bài làm của học trò.

PV: Thầy đã từng đi học và chắc hẳn thầy luôn luôn phải học để làm tự mới mình. Như vậy, với tư cách với một ngừoi học, thầy thấy điều gì là hạnh phúc nhất?

Thầy Nguyễn Khuê: Học là suốt đời. Nhất là trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, nếu như chúng ta không học thì sẽ bị lạc hậu. Đối với người đi dạy, điều này càng quan trọng. Chưa nói đến những kiến thức về khoa học tự nhiên và kỹ thuật vốn tiến bộ rất nhanh, ngay trong lĩnh vực khoa học xã hội, nếu người thầy không cập nhật thì sẽ không bắt kịp thời đại.

Trong quá trình được dạy và tự học, tôi có niềm vui, sự thỏa mãn khi biết được những tri thức mới.

PV: Còn với tư cách của một người thầy, điều gì làm thầy thấy hạnh phúc nhất?

Thầy Nguyễn Khuê: Hạnh phúc nhất của người thầy giáo, đặc biệt là thầy giáo ở đại học là được truyền đạt những điều tâm đắc, những tìm tòi, phát kiến của mình cho học trò. Khi học trò lắng nghe và thấu hiểu, người thầy tìm thấy niềm thích thú của sự giao cảm, của niềm cảm thông giữa thầy và trò.

PV: Hơn 50 năm dạy học, được tiếp xúc với rất nhiều thế hệ học trò, thầy có thấy sự khác biệt giữa học trò ngày xưa và học trò ngày nay?

Thầy Nguyễn Khuê: Tôi thấy rằng không có khác biệt gì lớn. Nếu có khác biệt chăng thì chỉ ở tinh thần học tập. Ở những lớp trước, học trò chịu khó học hơn, siêng năng hơn bây giờ. Điều này cũng do nhiều nhân tố khách quan tác động. Ngày nay, có nhiều phương tiện vui chơi giải trí nên người học có nhiều thú vui bên cạnh việc học. Còn ngày xưa, hầu như rất ít thú vui cho học trò, nên sau giờ lên lớp, họ chỉ biết tiếp tục học.

Tinh thần tôn sư trọng đạo có thể nói vẫn nguyên vẹn giữa các thế hệ học trò. Học trò thời nào cũng đều rất quý mến và kính trọng thầy cô. Nhưng tôi nghĩ rằng, tôn sư trọng đạo không chỉ xuất phát từ người học mà quan trọng hơn phải do chính bản thân người thầy. Người thầy phải giảng dạy, cư xử với học trò sao cho cả khi đang học và khi đã thôi học, học trò vẫn luôn kính yêu và nhớ về thầy. Nhân cách nhà giáo là điều quan trọng.

Trăn trở của một người trí thức.

PV: Thầy từng nhiều năm dạy Hán – Nôm, theo thầy, ngành học Hán – Nôm cố lỗi thời không trong thời hiện đại ngày nay?

Thầy Nguyễn Khuê: Người ta thường nghĩ rằng ở thời đại này mà học Hán – Nôm là lỗi thời. Nhưng tôi không nghĩ như vậy. Tất cả đều tùy thuộc vào cách học và chương trình đào tạo.

Hán – Nôm không lỗi thời bởi vì văn hóa Việt Nam kể từ thời Lý trở đi, có chiều dài lịch sử hơn 1.000 năm gắn bó với Hán – Nôm, do vậy, cần phải có những người được đào tạo chuyên sâu về Hán – Nôm để bảo tồn và phát huy vốn văn hóa của dân tộc. Chúng ta không thể đoạn tuyệt với quá khứ của dân tộc. Hán – Nôm chính là phương tiện để ta có thể hiểu được ông cha mình.

Mặc dù hiện nay người Việt Nam không dùng chữ Hán trong đời sống hàng ngày nữa, nhưng chữ Hán là thứ chữ được nhiều người dùng nhất trên thế giới. Mình học thứ chữ có nhiều người dùng như thế thì không có gì là không hợp thời. Bên cạnh học chữ Hán, sinh viên Hán – Nôm còn được học tiếng Hán hiện đại và có thể dùng khi giao tiếp. Vì vậy, những sinh viên Hán – Nôm học ra trường rất dễ kiếm việc làm, và dễ đi du học nước ngoài.

Tôi nghĩ rằng, ngành Hán – Nôm là ngành học đầy tiềm năng và hứa hẹn.

PV: Mặc dù ngày nay chúng ta không dùng chữ Hán hay chữ Nôm để ghi chép nữa nhưng trong tiếng Việt vẫn có rất nhiều từ Hán – Việt. Thầy nghĩ sao về việc dạy chữ Hán một cách đại trà cho trình độ phổ thông để mọi người dân hiểu đúng tiếng Việt?

Thầy Nguyễn Khuê: Tôi và một số đồng nghiệp đã từng trăn trở nhiều về vấn đề này. Trước đây, trong chương trình trung học đệ nhất cấp (cấp 2 bây giờ) ở miền Nam, mỗi tuần có một giờ Hán tự. Những chữ Hán học sinh học được trong giờ này có thể sẽ chẳng bao giờ dùng đến, nhưng ít nhiều, những chữ Hán này sẽ đi vào tiềm thức, để người học sử dụng đúng từ Hán – Việt khi đọc sách báo hoặc nói, viết tiếng Việt.

Có rất nhiều trường hợp, người ta không hiểu hoặc hiểu sai từ Hán – Việt. Một lần vào lớp, tôi hỏi học trò, “Quân chủ là gì?”, có em mạnh dạn đưa tay trả lời, “Quân chủ có nghĩa là quân đội làm chủ”. Em học sinh đã không phân biệt được chữ “quân” là quân đội với chữ “quân” là vua. Nếu người học sinh được học chữ Hán thì sẽ phân biệt được những từ như vậy. Vì thế, tôi nghĩ rất cần có giờ chữ Hán trong chương trình phổ thông, ít nhất là trong chương trình cấp 2 để dạy cho học sinh biết nghĩa của từ gốc Hán. Trong hội thảo khoa học “Ngành đào tạo Hán – Nôm: thực trạng và giải pháp” tổ chức ở Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM cách đây nhiều năm, chúng tôi có đưa kiến nghị này, nhưng cho tới bây giờ vẫn chưa được những người có trách nhiệm để ý tới.

PV: Báo chí và dư luận trong nước hiện nay đang bàn luận rất nhiều về giáo dục và cải cách giáo dục. Là một người thầy đứng trên bục giảng hơn nửa thế kỷ, thầy nghĩ gì về vấn đề này?

Thầy Nguyễn Khuê: Đây là vấn đề lớn mà hiện nay Nhà nước và Bộ Giáo dục rất quan tâm. Muốn cải cách giáo dục, tôi nghĩ đòi hỏi rất nhiều điều kiện. Thứ nhất, cần phải có một đội ngũ giáo viên được đào tạo chuyên nghiệp, có tầm cỡ quốc tế. Như vậy, ngành giáo dục sẽ có một lực lượng trí thức có khả năng đảm nhận nhiệm vụ đào tạo học sinh sinh viên. Thứ hai, là vấn đề cơ sở vật chất. Cơ sở vật chất của giáo dục Việt Nam xuống cấp nhiều quá. Nhiều nơi, học sinh không có đủ phòng học phải học thành nhiều ca. Ngoài ra, còn cần phải nâng cấp thư viện, phòng thí nghiệm, trang thiết bị… Thứ ba, là chương trình đào tạo. Chúng ta cần phải tham khảo chương trình đào tạo của các nước trên thế giới để đưa ra một chương trình phù hợp với hoàn cảnh của đất nước mình vừa bắt kịp sự tiến bộ của thế giới. Làm giáo dục không phải là chạy theo sự phát triển của xã hội mà phải đón đầu sự phát triển đó. Vì nếu chạy theo sự phát triển của xã hội thì không bao giờ chạy kịp. Làm giáo dục là để đào tạo ra những con người đáp ứng được các yêu cầu xã hội. Cho nên cần phải “đón đầu” chứ không “chạy theo”. Muốn như vậy chúng ta cần phải tiếp cận những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới.

PV: Nếu được làm lại, thầy có chọn nghề dạy học không?

Thầy Nguyễn Khuê: Tôi đã từng nhiều lần suy nghĩ về điều này, và tôi vẫn thường hay nói với sinh viên, nếu tôi có thể làm lại cuộc đời thì tất nhiên có nhiều điều tôi sẽ không làm như tôi đã từng làm vì tôi thấy nó sai. Nhưng chắc chắn, tôi vẫn sẽ chọn nghề đi dạy. Tôi chưa bao giờ hối tiếc vì sự chọn lựa này. Và nếu chọn lại nghề đi dạy thì tôi vẫn chọn dạy Hán – Nôm.

Tôi rất là hạnh phúc với công việc của mình. Tâm nguyện của tôi phản ánh trong mấy câu thơ sau:

Sẽ về Tịnh độ Di Đà

Hay là lại chốn Ta bà tái sinh?

Về đâu? Duyên nghiệp minh minh

Luân hồi cõi thế lại xin đưa đò.

PV: Xin cảm ơn thầy đã dành cho Văn Hóa Phật Giáo buổi trò chuyện thú vị. Kính chúc thầy sức khoẻ, thân tâm an lạc.

Đồ Mi – Đức Sơn thực hiện

Thầy Nguyễn Khuê

Sinh năm 1935 tại Thừa Thiên

Bắt đầu giảng dạy từ năm 1954

Nguyên Giáo sư Đại học Văn khoa Sài Gòn

Giảng viên Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM

Giáo sư Học viện Phật giáo VN tại TP.HCM

Giảng sư Trường Cao trung Phật học TP.HCM

Từng giảng dạy tại tu viện Quảng Hương Già Lam, tu viện Huệ Quang và một số chùa tại TP.HCM

Tác phẩm đã xuất bản:

– Nghị luận văn chương (1972)

– Tự học Hán văn (1973)

– Chân dung Hồ Biểu Chánh (1974)

– Sài Gòn – Gia Định qua thơ văn xưa (viết chung, 1987)

– Những vấn đề cơ bản của chữ Nôm (1987)

– Từ điển Hán – Việt (chủ biên, 1991)

– Nguyễn Bỉnh Khiêm qua Bạch Vân Am Thị Tập (1997)

– Nguyễn Trãi toàn tập tân biên (3 tập, dịch chung, 1999, 2000)

– Giảng giải văn phạm Hán văn (2003)

– 30 năm cầm bút (2004)

– Tâm trạng Tương An quận vương qua thi ca của ông (1970, tái bản 2005)

– Sơ lược tiểu sử và ảnh tượng chư Tổ Thiên Thai tông (dịch chung, 2005)

– Phật học trung đằng (2 tập, biên dịch, 2007, 2008)

– Hương trời xa bay ( thơ, 1998)

– Cõi trăm năm (thơ, 2002)

– Trăm năm là cuộc đời lãng du (thơ, 2005)

Tạp Chí Văn hóa Phật Giáo số 69 | Đồ Mi-Đức Sơn thực hiện

(Visited 203 times, 1 visits today)

Tags: , , ,

Category: Đồ Mi, Giáo Dục, Nhân Vật

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *