Nguyễn Công Trứ

| 15/08/2013 | 0 Comments

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 35 | BẢO NHÂN

Nguyễn Công Trứ  阮公著(1778 – 1858)

Dentho-NguyenCongTru

Phật giáo vốn không xa lạ với kẻ sĩ ngày xưa, đặc biệt với Nguyễn Công Trứ. Chị gái của ông  – người hay chữ nổi tiếng đương thời, được mệnh danh  Năng Văn nữ sĩ – là người xuất  gia quy Phật  hiệu Diệu Điền Thiền sư.

Nguyễn Công Trứ tự là Tồn Chất, hiệu  Ngộ Trai, biệt hiệu Hy Văn, quê làng Uy Viễn ( nay thuộc xã Xuân Giang), tỉnh Hà Tỉnh. Ngày xưa còn có cách dùng tên đất tên làng  để gọi những bậc nhân kiệt, cho nên khi làm tướng quân, người ta còn gọi ông là Uy Viễn  Tướng quân.

Thân phụ là ông Nguyễn Công Tấn (?- 1880) danh thần thời Lê Hiển Tông, 1786, được vua  Lê Chiêu Thống phong tước Đức Ngạn Hầu. Mẹ là Nguyễn Thị Phan quê ở Thường Tín, Hà Tây. Nguyễn Công Trứ sinh năm 1778 tại Thái Bình. Năm 1789, ông theo bố mẹ về Hà Tỉnh. Năm 1802, khi vua Gia Long ghé qua Nghệ An, Nguyễn Du đón xe yết kiến, theo xa giá ra Bắc hà, còn Nguyễn Công Trứ dâng bản điều trần Thái Bình thập sách bày phương kế trị dân. Năm 1819, ông đậu Giải nguyên trường Nghệ sau nhiều lần thi trượt. Năm 1820, nhận chức Hành Tẩu Quốc Tử Giám, sau đó ông giữ nhiều chức như:  Tri Huyện, Lang trung, Tư nghiệp Quốc Tử Giám, Thị Lang, Tổng đốc, Phủ Doãn và nhiều lần bị giáng chức 3 cấp, 4 cấp, thậm chí còn cách tuột làm lính thú. Cuộc đời làm quan khá éo le như có lần ông tâm sự: “ Ngồi buồn mà trách ông xanh / Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười / Kiếp sau xin chớ làm người / Làm cây thông đứng giữa trời mà reo / Giữa trời dốc núi cheo leo / Ai mà chịu rét thì trèo với thông”. Song không vì thế mà ông nản chí, thối lòng. Năm Mậu Ngọ, 1858, Pháp tấn công Đà Nẵng, tuy đã 80 tuổi và hưu trí từ lâu, ông vẫn tha thiết được tòng quân đánh giặc, ông không được nhà vua chấp thuận và ngày 14 tháng 11 âm lịch năm ấy ông mất tại quê nhà.

Nguyễn Công Trứ là người đa tài, tài nào của ông cũng để lại dấu ấn trong lòng lịch sử, trong giai thoại và dư luận quần chúng. Nhưng ông còn là người nổi tiếng đa tình, tự do, ngang tàng, phóng túng, đúng như cách nghĩ “Hành tàng bất nhị kỳ quan”(*) của mình. Trong sự nghiệp kinh bang tế thế, Nguyễn Công Trứ rất thành công trong tổ chức khai hoang hai huyện Tiền Hải  (Nam Định), Kim Sơn (Ninh Bình), và ngay khi còn sống đã được nhân dân ở đây lập sinh từ thờ ông. Trong văn chương nghệ thuật. Nguyễn Công Trứ đã để lại một số bài thơ chữ Hán, nổi tiếng là bài Hàn nho phong vị phú và trên 60 bài hát nói. Với sự nghiệp ấy, Nguyễn Công Trứ đã trở thành nhà thơ lớn của dân tộc và là người  trước bạ thể hát nói vào lịch sử văn học VN.

Mặc dù thuộc lớp người suốt đời theo đuổi lý tưởng: “Tu tề trị bình” (*) của Nho giáo, nhưng sau Lê Quý Đôn, có thể nói Nguyễn Công Trứ là người khuyên nhà Nho nên có thái độ cởi mở. Sự dung hợp tư tưởng là mô hình thường thấy ở các trí thức trung đại. Trong các bài hát nói của mình, Nguyễn Công Trứ cũng thường nói về chuyện thoát vòng danh lợi, về chữ nhàn, về  cuộc đời “như bóng đèn, như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao”. Nguyễn Công Trứ vốn là người am hiểu đạo Phật. Đối với ông, ngay trong cuộc sống, đạo Phật không phải là một đạo khác. Đạo Phật ở lòng người mà ra. Mục đích “kiến tính” của Phật cũng giống với mục đích “Xuất tính” của nhà Nho, thiên đàng và địa ngục không phải ở đâu xa mà ngay trước mắt mình. Ông cho rằng, những nhà Nho từng kích bác đạo Phật, cho đạo Phật là chủ trương hư vô, là những người nông cạn, chỉ nhìn đời qua chiếc ống. Những ý tưởng ấy, được ông trình bày  rất rõ  qua bài hát nói Vịnh Phật của mình với những dòng nổi tiếng:

Thuyền từ một lá chơi vơi,

Bể trần chở biết bao người trầm luân.

Thiên thượng, thiên hạ vô như Phật,

Nhỏ không trong mà lớn cũng không ngoài.

Nghiệp duyên vốn tự mình ra,

Nơi vuông tất có thiên đàng địa ngục,

Vì chưa thoát  lòng trần mắt tục,

Nên mơ màng một bước một khơi,

Khiến cho phiền muộn Như lai.

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 35 | BẢO NHÂN

=================

(*) Người sưu tập tạm dịch  :  Hành xử hay ẩn tàng không phải là hai việc khác nhau

Nguyên tác

Đánh ba chén rượu khoanh tay giấc
Ngâm một câu thơ, vỗ bụng cười
Cái công danh là cái nợ đời
Đường thản lý, cát nhẫn chi đã vội
Giắt lỏng giang sơn vào nửa túi
Rót nghiêng phong nguyệt cạn lưng bầu
Cảnh cùng thông ai có bận chi đâu
Mùi tiêu sái với trần gian dễ mấy
Thơ rằng:
Hữu danh nhàn phú quý
Vô sự tiểu thần tiên
Đấng anh hùng yên phận lạc thiên
So trời đất cũng nhất ban xuân ý
Khi lang miếu đã đành công danh ấy
Lúc yên hà khước thị xuất nhân gian
Hành tàng bất nhị kỳ quan
Cõi đời mở mặt, giang san thái hòa
Còn xuân mai lại còn hoa.

(*)Tu tề trị bình : Tu thân tề gia trị quốc bình thiên hạ

(Visited 241 times, 1 visits today)

Tags: ,

Category: Nhân Vật

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *