Trần gian để lại

| 14/08/2014 | 0 Comments

tran-gian-de-laiLÊ TRIỀU PHƯƠNG

Một mai ba tấc đất vùi
Trần gian để lại nụ cười cho hoa.

Trần gian để lại… là tâm sự của thi sĩ Quách Tấn đã gây cho chúng tôi nhiều xúc động và suy nghĩ. Trần gian để lại… được rút từ câu thơ “Trần gian để lại nụ cười cho hoa”. Có phải Quách Tấn chỉ để lại cho trần gian duy có một nụ cười cho hoa? Chắc chắn là không! Quách Tấn đã để lại cho trần gian nhiều thứ lắm chứ. Nào là gia tài văn thơ đồ sộ với 22 tác phẩm thơ, thơ dịch và 35 tác phẩm văn xuôi, trong đó có những tác phẩm gồm có 2 – 4 tập thơ cả nghìn trang. Nào là quan niệm về văn thơ, về kinh nghiệm sống trong thời chiến tranh, về quê hương v.v. Nhưng tại sao Quách Tấn mong để lại nụ cười cho hoa trước khi được chon trong lòng đất?

Một mai ba tấc đất vùi
Trần gian để lại nụ cười cho hoa.

Từ “vùi” trong câu Một mai ba tấc đất vùi nghe sao mà đau xót cho số phận của một nhà thơ. Và Trần gian để lại nụ cười cho hoa có thể gây cho người đọc một thoáng cao ngạo nào đó ẩn hiện trong câu thơ.

Bất cứ một câu thơ, một bài thơ nào cũng được sự cảm nhận, sự đánh giá và phê phán từ nhiều nguồn khác nhau. Chúng ta chỉ xin được phép giới thiệu hai câu thơ ấy như một trong những chìa khóa quan trọng để mở cửa đi vào một phần nào tâm sự hay nói chính xác hơn là đi vào tư tưởng và đời sống tâm linh của Quách Tấn.

Thứ nhất, chúng tôi xin nói đến hoàn cảnh chiến tranh đã diễn ra trên quê hương thân yêu của chúng ta. Chúng tôi gọi đó là một “hoàn cảnh lớn” khó mấy ai thoát khỏi. Bởi vì sự càng quét của nó tương tự như mùa thu vùng ôn đới. Hoa, lá đều phải lìa cành. Chết chóc, tang thương, khổ đau, nghi ngờ, thù hận ảnh hưởng sâu sắc vào tâm thức, tư duy và cách hành xử của con người.

Quách Tấn đã chia sẻ tất cả những gì mà toàn thể dân tộc phải trải qua. Ông đã mất mát và thiệt thòi. Chiến tranh đã cướp mất người con trai thân yêu của ông. Ông đã khái quát hóa nó là thời loạn mà kiếp nam nhi không thể nào tránh như bài Khóc con IV đã ghi:

Không nói lòng đau khổ
Nói, không nói được gì
Canh tàn nằm nuốt lệ
Thời loạn kiếp nam nhi

(Giọt trăng)

Chính thuốc khai quang, theo Hồi ký của ông, đã giết chết cây mận vô cùng thương quý của ông, một bảo vật của ông. Sân rợp bóng mận là nơi đoàn tụ hạnh phúc của gia đình, là nơi sum họp ấm cúng với bạn bè tri âm tri kỷ:

Sân không bóng mận
Buồn ngập ánh trăng thanh

(Tình mận – Giọt trăng)

là lời than mang nỗi buồn da diết.

Thứ hai, cũng như bao nghệ sĩ khác, đời sống tình cảm của Quách Tấn vô cùng bén nhạy. Sân mận không còn nữa và đau xót thay cho cảnh:

Lui cui ngày vắng tiếp đêm dài
Chuyện vãn khi buồn chẳng có ai.
Bè bạn mỗi người đi mỗi ngả
Anh em ba đứa ở ba nơi.

(Thư hoài, Phấn bướm còn vương)

Và, mỗi một người bạn ra đi là mất đi một con người tin cậy để gởi gắm tâm sự, mất đi một mái ấm che đỡ gió sương:

Bốn trụ tinh thần gãy một rồi
Thương lòng nhau quá Lộc Đình ơi!
Còn đâu những bức thư đầm ấm
Che bớt phong sương lúc trở trời.

(Khóc Lộc Đình, Xuân còn rơi rớt)

Thứ ba, chúng ta có thể hỏi: Bạn tri âm tri kỷ vốn khó kiếm, như Quách Tấn không tìm thấy tình người và niềm vui nơi những bạn giao lưu thông thường hay sao?

– Có, có chứ. Nếu tìm được tình người và niềm vui nơi những người bạn giao lưu thông thường thì đã là diễm phúc rồi. Nhưng Quách Tấn đã gặp phải bao nhiêu cảnh não lòng (Trăng mộng hoa lê, Xuân còn rơi rớt) trong sự giao du:

Người mong đến không đến
Người đến lại không mong

(Cô quạnh, Cảnh chim thu)

Từ nay tránh bớt khách xa gần
Khỏi sợ phiền người khỏi lụy thân
Dù chẳng phải chiên dù chẳng ghẻ
Ai biết mà ngụy biết ai chân

(Tránh khách, Phấn bướm còn vương)

Từ “chiên” trong câu “Dù chẳng phải chiên dù chẳng ghẻ”, chỉ có thể hiểu như một điển tích riêng dành cho một hoàn cảnh vô cùng éo le, bị nghi ngờ đeo đuổi dai dẳng và hàm oan chỉ có trời cao mới biết.

Giá lẫn vàng thau khôn biện bạch
Tình chung non nước có cao xanh

(Khúc đường quanh, Phấn bướm còn vương)

Cao xanh thì xa vợi, nhưng không có cao xanh, không có chỗ rỗng không mù mịt ấy thì cũng chẳng có non nước. Nó là chân lý cuối cùng là huyền nhiệm theo chân lý tuyệt đối của nhà Phật. Non chỉ có thể nhú lên và vươn cao, nước chỉ có thể chảy và luân lưu nếu không có chỗ rỗng ấy. Có và không tuy dưới con mắt bình thường, theo chân lý tương đối của nhà Phật, là hai thực thể đối nghịch, song mất một trong hai thì không có vũ trụ này.

Giá và chân, biện bạch và không biện bạch là hai mặt của cuộc đời. Cái “tình chung non nước”, theo thế thường, thì non không thể thiếu được mà nước cũng chẳng nhận ra. Chỉ có cao xanh huyền nhiệm mới thấy rõ. Quách Tấn đã nhận rằng mình có chịu ảnh hưởng của đạo Phật. Vì vậy, dù “tuổi già thêm tịch mịch” đi nữa ông vẫn chấp nhận làm “thân cô nhạn”. Trước hết là ra ngoài cái dòng song thế sự trôi ngoài áng mây (Trôi ngoài, Giàn hoa lý). Ngoảnh lại bao bức xúc của mình trước cảnh tướng tá “lì da mặt” để nghĩ đến “bầu cơm nặng khúc thân”. Quách Tấn không còn muốn phê phán nữa:

Xưa kia tướng tá gội phong trần
Tướng tá rày lo hưởng thú xuân
Mây vút lâu đài xương chiến sĩ
Hương tràn yến tiệc mỡ lương dân

(Tướng tá, Tiếng vàng khô)

Tuy ông không còn muốn tranh danh đoạt lợi để tránh những kẻ có thể làm cho mình phiền não, song không vì vậy mà tự làm tường lũy ngăn cách mình với người: Danh lợi mình…

Danh lợi mình không tranh với ai
Vườn không rào kín ngõ không cài
Sân lồng gió biển cháu khèo mận
Hiên ngát hương trời ông thưởng mai

(Xuân riêng, Tiếng vàng khô)

Quách Tấn ngày càng rõ rằng:

Có mình đời chẳng hơn chi.
Không mình cũng chẳng thiệt gì đến ai
Rừng chim một nhánh hôm mai
Dòng song thế sự trôi hoài áng mây.

(Trôi ngoài, Cánh chim thu)

Quách Tấn đã muốn nhìn sự thật bằng chính con mắt của mình, không nhìn cuộc đời qua sử sách, qua thông tin tin được ghi trên giấy hiện ra mờ tỏ dưới ánh ngọn hàng đăng. Ông đã dùng biểu tượng “tháo kính” để nói lên tư tưởng loại bỏ cái cách nhìn gián tiếp, không chân thật, không lập qua một lăng kính nào. Ông muốn nhận thấy và nhận thức với con mắt uyên nguyên của mình để có thể đi vào bản chất của sự vật của mình nó. Quách Tấn muốn vươn lên khỏi chân lý thế gian để tiến đến chân lý vĩnh hằng. Ông vẫn ý thức rằng mình chưa tắm gội được trong ánh hào quang của trăng và thấy đủ mãn nguyệt khi chỉ cảm nhận trực tiếp được qua đôi giọt trăng:

Nghìn xưa trang giấy lật
Hiu hắt ngọn hàn đăng
Tháo kính ra thềm đứng
Cành rơi đôi giọt trăng.

(Tháo kính, Giọt trăng)

Để cúng dường ngày Phật đản, Quách Tấn đã nhận thấy mình vẫn còn vô minh tức là vẫn chưa nhận thức được sự thật như nó là. Vẫn còn:

Chờn vờn nẻo bướm canh canh mộng
Quằn quại lòng tơ kiếp kiếp tơ.

Khi nhận thức được mình là con thuyền lênh đênh trên biển thức, thức tỉnh được mình quanh quẩn với “bước vòng vo”, Quách Tấn đã cảm được mình có duyên thấy được hoa Đàm nở. Và Quách Tấn hứa hẹn rằng dù không là Phật tử, Quách Tấn vẫn khẳng định rằng thơ phải đạt được đạo của chân của thiện và mỹ:

Phước duyên được thấy hoa đàm nở
Lòng đạo nguyền dâng trọn ý thơ.

(Hồi hướng, Tiếng vàng khô)

Đạo của thơ Quách Tấn là đạo mà Quách Tấn tu dưỡng rất nghiêm ngặt. Về mặt hình thức của thơ Quách Tấn không chạy theo trường thơ mới. Nhiều kẻ đã gọi ông là kẻ cứng đầu không biết chạy theo thời, ông thấy rất rõ tất cả bạn bè đều ùn ùn tiến theo con đường thơ mới ông ý thức rằng: “Thơ lỗi thời văn chẳng thích thời” nhưng ông vẫn, “ngày ngày cặm cụi viết không thôi”. (Viết văn, Xuân còn rơi rớt). Nhưng ông thà chịu dại để: Không thay nết thật thà (Tùy ngộ, Xuân còn rơi rớt).

Người ta xem vào thời thơ mới hàng văn nhân thi sĩ hầu như là vẫn mặc cái áo cũ rich chật hẹp bó sát con tim, bó sát tư duy, tư tưởng bay lên.

Nhưng chúng tôi càng được học thêm về thơ văn càng nhận và hàm dưỡng về kỹ thuật. Chính nhờ sự hàm dưỡng và tôi luyện, nhà nghệ sĩ đã đưa vào kỹ thuật trí tuệ và nội lực của mình vào đây đàn tiếng nhạc để rồi trình diễn nghệ thuật như một sáng lập tuyệt vời mà không có bất cứ một thầy nào có thể truyền đạt. Đạo Phật coi sự bừng lên này là trí vô sư (một trí tuệ không có thầy dạy). Những ai học và nhuần nhuyễn về tư duy sáng tạo đều hiểu rõ. Kỹ thuật càng cao thì càng có thể truyền đạt được nhiều, chất liệu càng chính xác. Với cái áo chật hẹp của luật thơ Đường thì khi đã thể nhập được vào thi pháp thì ta có thể dễ dàng diển tả ý tưởng tình cảm tâm linh của mình sao cho chính xác như trí tuệ và tâm tưởng của mình quyện nhập vào nhau thành tác phẩm nghệ thuật. Những năm gần đây thơ Đường luật đã chẳng lại nở rộ lên quê hương chúng ta đó sao. Quách Tấn đã không chạy theo cái mới nếu mình không thấy đó là một hình thức sáng tạo mới mà chỉ là một hình thức đã được lập trình ở đâu đó. Vậy thì thế nào là tiến bộ, thế nào là lỗi thời.

Về mặt tư tưởng và tâm linh chúng không thể cất cánh bay bổng nếu chúng ta không siêu vượt lên mọi hình thức.

Thơ là Đạo thì hiển nhiên Quách Tấn đã làm thơ với tâm hồn trang trọng nghiêm túc trong trầm tư tĩnh lặng như suy nghiệm về một bài kinh. Bởi vậy Quách Tấn khẳng định rằng trước khi cầm bút chấm vào mực, Quách Tấn đã chấm vào máu của mình. Một nhà thơ như vậy làm sao không thể nhập vào với thơ, với tình thơ, với hương sắc, với tất cả sự thâm sâu của nó! Đối tượng của tĩnh lặng không phải là sự ồn ào suốt ngày của máy thu thanh, của xe cộ chạy trên đường, của máy bay ào ào xé không gian mà chính là cái đẹp uyên nguyên của thiên nhiên dù cho đơn sơ mộc mạc chơn chất như thế nào chăng nữa:

Cảm ơn… ông hàng xóm
Ngừng mở máy thu thanh.

Trong tĩnh lặng của không gian và tâm hồn mọi sự vật hiện ra mọi sự vật kỳ bí mà một tâm hồn bình thường không thể cảm nhận nổi, Quách Tấn đã để lòng giao thoa với nụ hoa, với cánh én, với hoa xoài, với đá cây u nần. Chúng ta là nguyên bản của trời đất, chúng ta đã nhận sự chiếu rọi và giao thoa trở lại để hiện lên vẻ đẹp phi thường và chúng thể nghiệm chứ không cắt nghĩa được. Đó là chân lý vĩnh hằng. Bởi vậy:

Nước mây hằng tự tại
Vàng đá chẳng vô tri.

Đó không phải là cảm nghĩ bình thường để có thể biểu lộ được tính chất triết lý và tâm linh trong tâm tư của thi sĩ. Trong Nước non Bình Định, Quách Tấn đã viết về hoa xoài… Ngắm bằng mắt bằng tai bằng lưỡi bằng xúc cảm bằng tâm linh và Quách Tấn đã dẫn được cái đẹp tuyệt vời mà ít ai viết đến:

…”Hoa xoài ngắm từng nhánh không đẹp, ngắm cả cành cũng không đẹp, ngắm cả cây cũng chưa thấy đẹp. Muốn thấy rõ vẻ đẹp của hoa xoài phải ngắm cả rừng hoa. Và không đâu có thể thưởng thức đầy đủ bằng lúc xoài ra hoa (tháng Chạp, tháng Giêng âm lịch)… Trước mặt chúng ta một màu vàng linh động, dính liền với sắc trời xanh. Không có một màu nào khác (cho đến cả màu xanh của lá) lẫn lộn vào. Đó là đồng lúa chín của miền lục tỉnh trong Nam? Không, vì sắc lúa chín vàng đậm, còn màu hoa xoài vàng tươi. Đó là rừng hoa hòe nở hạ? Không, vì hoa hòe không có mùi hương. Đó là rừng huỳnh cúc, rừng huỳnh mai? Có thể ví được. Chỉ khác là hương cúc lành lạnh đăng đắng, hương mai dìu dịu và chỉ thoảng qua. Còn hương hoa xoài thì mùi lờn lợt nhưng vị lại ngòn ngọt, bay vào mũi rồi thấm lần xuống cổ, khiến khi đứng ngắm hoa xoài, nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, ý… của chúng ta đều chung hưởng thú. (Nước non Bình Định, NXB Thanh Niên, TP,HCM 1999, tr.99).

Quách Tấn đã đãi ngộ thiên nhiên như một người bạn tri âm và thiên nhiên cũng trao tặng lại tình thông cảm của mình.

Tuy không người đối bóng
Bầy én bạn tương tri.

(Vầng ngập bến, Mây Cổ Tháp)

Gió đã đưa hương sen phủ đầy thuyền, một con thuyền của dòng thơ Đường luật, một con thuyền của sự xóa bỏ nhưng mây giăng lớp lớp nhân tình. Bởi vậy khi thức dậy vào buổi bình minh hương sen và hoa sen đã trao trọn hương sắc của mình cho tác giả.

Ao nhà một giấc ngủ say
Bình minh trở dậy thuyền đầy hương sen

(Gió sen, Trăng hoàng hôn)

Đó là một ngày mới khinh an với sắc hương tinh khiết. Đó là bắt đầu của một kiếp mới rạng rỡ thơm tho. Đó là ánh vàng của “mai vàng bên giếng chửa quên xuân”.

Khi bè bạn, “mỗi người mỗi ngả”, “anh em ba đứa ba nơi” thì có nỗi buồn nào sâu sắc hơn là nỗi buồn không được sum họp. Khi ngoảnh lại tình người đã tặng cho mình trong cơn thất thế:

Có việc chớ mong nhờ kẻ trí
Sa cơ đành chịu gánh phần ngu.

(Bóng tang du phấn bướm, Còn vương)

Khi tác giả đã lấy thơ làm đạo để tu dưỡng thì ý thức rằng dù có lo buồn gì đi nữa thì nỗi buồn thế thái chẳng làm được gì và chẳng lẽ để mình trầm lắng vào nỗi trầm cảm không biết vui với cái vui của người, với cái vui của cuộc đời:

Vui buồn nghĩ chẳng ích chi
Đời còn vui được ta thì cứ vui.

Đó là tư tưởng lạc quan tin tưởng vào cuộc đời hạnh phúc và mai sau khi bị vùi vào lòng đất thì nụ cười là biểu tượng của hạnh phúc khi Quách Tấn trao lại cho hoa bởi vì người nay còn chửa hiểu mình thì người sau đâu dễ thấu tình người nay… Để lại cho hoa, cho trần thế hiểu mình thì chỉ là một hành động không chỉ đem lại cho mình tươi vui và còn cho người hạnh phúc. Hoa là một biểu tượng cho tinh hoa vũ trụ có mặt trên mọi kinh tuyến, vĩ tuyến trên đầu non, bên bờ hồ cạnh dòng song và có cả hoa trong lòng biển. Hoa có tàn nhưng không tận, luôn luôn hiện diện theo sự tuần hoàn của vũ trụ. Sắc đẹp muôn màu vẫn không hề thay đổi và làn hương thanh thoát vẫn không bao giờ đổi thay. Sự vĩnh hằng tươi đẹp đã trao lại cho những ai cảm được hoa, sống với hoa, giao thoa với hoa để cùng hòa quyện với nhau thì đó là sự vĩnh hằng trong vũ trụ. Quách Tấn không kiêu ngạo khi trao nụ cười cho hoa. Đó là tư tưởng sống đã vượt lên mức độ bình thường để đi vào vĩnh cửu.

Hoa mướp trải huỳnh kim
Về con sâu cửu
Châu thân trùm phỉ thúy
Đôi mắt ngời kim cương
Mộng trên cành dạ lý hương.

Sương lá nghe được tiếng chim cũng vọng lại. Thiên nhiên đã giao thoa với lời cầu và phản hồi lại tâm cầu nguyện. Hoa khế đã nhỏ lệ vì cảm thông.

Sương lá vọng lời kinh
Thương thân ai thương mình
Sụt sùi hoa khế rụng
Đêm rựng ánh bình minh.

Nơi đây chúng tôi mở vòng ngoặc để báo hiệu tại sao Quách Tấn tìm thấy ở hoa,lá,chim muông là người bạn tri âm…Vì yêu thiên nhiênQuách Tấn tự nguyện làm một nhà đạo đức để khuyên các em bé đừng sát hại còn chim chớp mào bởi vì nó đã tô đẹp đạ tô đẹp cho thiên nhiên. Cho nên:

Em nỡ nào
Đánh con chóp
Em nỡ nào

Quách Tấn không nghĩ đến con chim mà còn nhớ đến:

bầy con nhỏ
nằm hả mỏ chờ mong mẹ về…

hình ảnh này ta cũng bắt gặp trong bài.

Hỡi anh trương ná dừng tay lại
Cửa tổ chim con ngóng mẹ về.

Kinh tế phát triễn, xã hội bền vững tu dưỡng đạo đức và bảo vệ thiên nhiên, là 4 trụ cột để bảo vệ đời sống. Thiếu đạo đức là thiếu sự quan tâm đến thiên nhiên, môi trường. Quách Tấn chẳng những thương hoa, lá, chim muông, núi non, hồ biển mà dám chịu trách nhiệm ngăn chặn bàn tay riêng ý thức chỉ muốn lợi riêng cho mình. Ý thức hành động thương sự vật của Quách Tấn là luôn luôn trồng hoa mặc dù biết rằng:

Hoa không ấm cật no lòng
Người trồng bắp lúa ta trồng hoa thơm
Khi đời ấm áo no cơm
Hái năm ba nhánh vào đơm bàn thờ.

(Trồng hoa, Trăng hoàng hôn)

Nhưng rồi:

Tình đời những khói cùng mây
Nghĩ chi cho lệ vơi đầy gió sương

(Tình đời, Nửa rừng trăng lạnh)

Và như vậy dấu giày của Quách Tấn để lại không phải là dấu giày rêu phong.■

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 61

(Visited 252 times, 1 visits today)

Tags: , , ,

Category: Đọc sách, Lê Triều Phương, Nhân Vật

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *