Chiêm nghiệm lời Phật để sống lợi ích an lạc

| 14/04/2016 | 0 Comments

PHẬT PHÁP | MÃN HẠNH TRINH |

ciem-nghiem-loi-Phat

 

Đức Phật xuất hiện ở đời chỉ nói lên sự thật nhằm khuyến khích mọi người xây dựng nếp sống lợi ích an lạc theo nghĩa mỗi cá nhân tự nhận chân sự thật khổ đau và nỗ lực thức hành con đường đi ra khỏi khổ đau. Phật là bậc giác ngộ, thấu suốt mọi nỗi khổ của thế gian và chỉ bày con đường giải thoát khổ đau, nhưng mỗi chúng sinh phải tự mình bước đi trên con đường ấy. Với trí tuệ của bậc toàn giác, Phật nhắn nhủ thế nhân (1):

Thời gian lặng trôi qua
      Đêm ngày luôn di động
      Tuổi tác buổi thanh xuân,
      Tiếp tục bỏ chúng ta.
      Những ai chịu quán sát,
      Sợ hãi tử vong này,
      Hãy làm các công đức,
      Đưa đến chơn an lạc.

Lời Phật gợi ý tưởng về một lẽ sống hướng thiện hết sức tích cực và tế nhị. Phật lưu ý với chúng ta rằng bản chất vô thường bất toại của đời sống chính là thách thức nghiệt ngã nhưng đồng thời cũng là cơ hội tốt cho con người trong ý nghĩa tìm kiếm lời giải cho lẽ sống minh triết và an lạc trên cuộc đời. Chính vì thế, con người khôn nên lo buồn hay tìm cách lẩn tránh mà cần phải nhìn nhận cho thật đúng tính chất vô thường bất toại của hiện hữu để tìm thấy ý nghĩa và giá trị của sự sống nằm trong dòng biến dịch. Phật thấy rõ giá trị to lớn của nhân sinh nên chủ trương phát huy và hoàn thiện nghĩa sống trong chính cái giới hạn mong manh bất toàn của nhân thế (2). Dưới cái nhìn của Phật, đời người trôi nhanh, cần sống sao cho có ý nghĩa! Cuộc sống thật là mỏng manh, phải làm thế nào cho nó có giá trị!

Thế nào là sống cho có ý nghĩa và khiến cho sự sống có giá trị? Theo lời dạy của Phật thì đó chính là sống với trí tuệ hiểu biết sáng suốt về tự thân và cuộc đời đi đôi với thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện. Đó cũng chính là lẽ sống hướng thiện của mỗi cá nhân trong ý nghĩa chuyển hóa nhân tính từ xấu thành tốt, từ ác sang thiện để cảm nhận an lạc và đem an lạc đến cho cuộc đời, do nhận ra nỗi bất hạnh của tự thân hay bản chất bất toại của hiện hữu. Nói cách khác, đó chính là sự nhận thức đúng đắn về sự thật bất toàn của bản thân và cuộc đời để nỗ lực thực thi một đời sống tốt đẹp theo nghĩa các thiện pháp ngày càng tăng trưởng, các bất thiện pháp ngày càng giảm thiểu cho đến khi nhân tính hoàn toàn được khai phóng và thanh tịnh. Pasenadi, một vị vua Phật tử, đã ngộ ra lẽ sống minh triết này khi phát biểu rằng trong cục diện con người bị già chết chinh phục thì việc tốt nhất là sống chân chánh đúng Pháp, nỗ lực làm các điều lành, làm các công đức(3).

Để khuyến khích nếp sống sáng suốt và an lạc như vậy, Phật khuyên dạy mọi người cần phải thường xuyên quán sát sự kiện già, bệnh, chết, tính vô thường biến hoại của mọi thứ yêu thích và tinh thần trách nhiệm đối với các hành vi (nghiêp) thiện ác do mình tạo tác. Theo lời Phật, nhờ thường xuyên suy tư và quán sát năm sự kiện này mà con người nuôi dưỡng và phát huy được những đức tính tốt như thái độ hiểu biết khiêm tốn, thiểu dục, thân làm thiện, miệng nói thiện, ý nghĩ thiện; mặt khác, có khả năng khắc phục và loại bỏ dần các lề thói không hay như thái độ tự kiêu ngã mạn; lòng tham dục, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Sau đây là toàn văn lời khuyên dạy của Phật (4):

“Có năm sự kiện này, này các Tỷ-kheo, cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia. Thế nào là năm?

“Ta phải bị già, không thoát khỏi già” là sự kiện phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.

“Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh” là sự kiện phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.

“Ta phải bị chết, không thoát khỏi chết” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.

“Tất cả các pháp khả ái, khả ý đối với ta sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt”, là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.

“Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân , bởi tại gia hay xuất gia.

Do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị già, không thoát khỏi già”, là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân , bởi tại gia hay xuất gia?

Có những loài hữu tình, này các Tỷ-kheo, đang còn trẻ, kiêu mạn trong tuổi trẻ, say đắm trong kiêu mạn ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện này, sự kiêu mạn tuổi trẻ trong tuổi trẻ được hoàn toàn đoạn tật hay được giảm thiểu. Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, “ta phải bị già, không thoát khỏi già”, cần phải thường xuyên quán sát như vậy bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.

Do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị bệnh, ta không thoát khỏi bệnh” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia?

Có những loài hữu tình khỏe mạnh, này các Tỷ-kheo, kiêu mạn trong khỏe mạnh. Do say đắm trong kiêu mạn ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện này, sự kiêu mạn khỏe mạnh trong khỏe mạnh được hoàn toàn đoạn tận hay được giảm thiểu. Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị bệnh, không thoát khỏi bệnh” cần phải thường xuyên quán sát như vậy bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.

Do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị chết, ta không thoát khỏi chết”, là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia?

Có những loài hữu tình đang sống, này các Tỷ-kheo, kiêu mạn trong sự sống. Do say đắm trong kiêu mạn ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện này, sự kiêu mạn sự sống trong sự sống được hoàn toàn đoạn tận hay được giảm thiểu. Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, “Ta phải bị chết, không thoát khỏi chết” cần phải thường xuyên quán sát như vậy bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.

Do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, “Tất cả pháp khả ái, khả hỷ đối với ta sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia?

Có những loài hữu tình, này các Tỷ-kheo, có lòng tham dục đối với các vật khả ái. Do say đắm với lòng tham dục ấy, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát sự kiện ấy, nên tham dục đối với các vật khả ái được đoạn tận hoàn toàn hay được giảm thiểu. Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, “Tất cả các pháp khả ái, khả hỷ đối với ta sẽ phải đổi khác, sẽ phải biến diệt” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát như vậy bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia.

Và do duyên lợi ích như thế nào, này các Tỷ-kheo, “Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia?

Có những loài hữu tình, này các Tỷ-kheo, thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác. Do vị ấy thường xuyên quán sát như vậy, ác hạnh được hoàn toàn đoạn tận hay được giảm thiểu. Do duyên lợi ích này, này các Tỷ-kheo, “Ta là chủ nhân của nghiệp, là thừa tự của nghiệp, nghiệp là thai tạng, nghiệp là quyến thuộc, nghiệp là điểm tựa. Phàm nghiệp nào ta sẽ làm, thiện hay ác, ta sẽ thừa tự nghiệp ấy” là sự kiện cần phải thường xuyên quán sát như vậy bởi nữ nhân hay nam nhân, bởi tại gia hay xuất gia”.

Các bậc hiền nhân cùng thời với Ngài nêu nhận xét tế nhị rằng Phật là người dựng đứng lên những gì bị ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín. Quả thực như thế. Cứ thử chiêm nghiệm những lời Phật khuyên dạy ở trên thì ý nghĩa và giá trị dích thực của sự sống được tìm thấy trong chính sự hiện hữu mong manh của đời người, trong cái giới hạn sinh diệt bất toại của hiện hữu. Ở đây hẳn không ai còn mơ hồ mà cho rằng đạo Phật là tiêu cực chán đời bởi đạo Phật nhấn mạnh viễn quan vô thường khổ đau trần thế. Cái sự thật già, bệnh, chết đầy trắc ẩn và trớ trêu của nhân thế đã được vận dụng sáng suốt cho mục tiêu cao quý của nhân sinh: hoàn thiện đạo đức, hoàn thiện nhân tính vì lợi ích an lạc của tự thân và lợi lạc cho cuộc đời.■

 

Chú thích:

  1. Kinh Nanda, Tương Ưng Bộ
  2. Kinh Sợ hãi trong tương lai (1)-(2), Tăng Chi bộ
  3. Kinh ví dụ hòn núi, Tương Ưng Bộ.
  4. Kinh Sự kiện cần phải quán sát, Tăng Chi bộ.

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 102

(Visited 191 times, 1 visits today)

Tags: , , , ,

Category: Mãn Hạnh Trinh, Phật Pháp

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *