Tu tập Chánh tư duy

| 25/07/2015 | 0 Comments

Nguyên Bìnhtu-tap-chanh-tu-duy

Tư duy hay suy tư nghĩa là hướng tâm đến hay nghĩ về một đối tượng tư duy nào đó và để cho dòng tâm thức hoạt động.

 Sự hướng tâm hay nghĩ về một đối tượng nào đó khiến tâm thức vận hành thì được gọi là tầm (vitakka). Đạo Phật phân biệt rõ hai loại tầm, theo đó các tư duy sinh khởi và hoạt động. Loại thứ nhất gồm dục tầm, sân tầm, hại tầm và loại thứ hai gồm ly dục tầm, vô sân tầm, bất hại tầm. Loại tầm thức nhất có động cơ là dục, sân và hại, đưa đến sự dấy khởi và vận hành của dòng tâm thức bất thiện gọi là tà tư duy gồm dục tư duy, sân tưduy, hại tư duy. Loại thứ hai có động cơ là ly dục, vô tham và bất hại, dẫn đến sự vận hành của dòng tâm thức thiện gọi là chánh tư duy gồm ly dục tư duy, vô sân tư duy, bất hại tư duy.

Đức Phật nói cho chúng ta biết rằng tầm (vitakka) đóng vai trò quan trọng trong chiều hướng suy tư , bởi tầm là khởi điểm của các hoạt động tâm thức hay tư tưởng. Để nuôi dưỡng và phát triển chánh tư duy, Ngài khuyên chúng ta từ bỏ các bất thiện tầm (dục tầm, sân tầm, hại tầm) và nuôi dưỡng các thiện tầm (ly dục tầm, vô sân tầm, bất hại tầm). Phật cũng lưu ý với chúng ta một thói quen liến hệ đến hướng phát triển tâm thức. Đó là việc người ta thương suy tầm hay nghĩ ngợi nhiều về vấn đề gì khiến cho tâm thức thiên nặng về vấn đề ấy, lâu ngày thành ra một thói quen hay tập quán. Chẳng hạn, một người hay suy tầm, nghĩ ngợi về dục lạc thì lâu ngày tâm thức của vị ấy sẽ thiên nặng về lòng dục, bị nung nấu bởi dục vọng, chứa đầy dục vọng, hễ móng tâm thì khởi nghĩ về dục hay rơi vào quỹ đạo của dục vọng. Trái lại, một người quen nghĩ về ly dục thì tâm thức cua vị ấy luôn luôn có khuynh hướng thiên về ly dục, thoát khỏi dục vọng, không còn bị dục vọng chi phối, lòng trở nên thanh thản, nhẹ nhàng. Điều này gợi ý tưởng rằng con người ta nên tập một thói quen suy tư sao cho tâm hồn luôn luôn được trong sáng nhẹ nhàng, tránh để cho các tư tưởng dục, sân và hại làm cho u ám nặng nề. Kinh nghiệm điều tâm sau đây của Đức Phật (1) giúp cho chúng ta cách điều chỉnh tư duy theo chiều hướng tốt đẹp:

“Chư Tỷ-kheo, trước khi Ta giác ngộ, khi chưa thành Chánh giác và còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: “Ta sống suy tư và chia hai suy tầm”. Chư Tỷ-kheo, phàm có dục tầm nào, sân tầm nào, hại tầm nào, Ta phân thành phần thứ nhất; phảm có ly dục tầm nào, vô sân tầm nào, vô hại tầm nào, Ta phân thành phần thức hai.

Chư Tỷ-kheo, rồi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm,tinh cần. Khi dục tầm khởi lên, Ta tuệ tri: “Dục tầm này khởi lên nơi Ta, và dục tầm này đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết-bàn”. Chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư: “Dục tầm này đưa đến tự hại”, dục tầm được biến mất, Chư Tỷ-kheo, khi ta suy tư: “Dục tầm đưa đến hại người”, dục tầm được biến mất. Chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư: “Dục tầm đưa đến hại cả hai”, dục tầm được biến mất. chư Tỷ-kheo, khi Ta suy tư diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết-bàn”, dục tầm được biến mất. Chư Tỷ-kheo, như vậy Ta tiếp tục trừ bỏ, xả ly và đoạn tận dục tầm. chư Tỷ-kheo, trongkhi Ta sống không phóng dật, nhiệt tâm,tinh cần, sân tầm khởi lên…hại tầm khởi lên. Ta tuệ tri: “Hại tầm này khởi lên nơi Ta, và hại tầm này đưa đến tự hại, đưa đến hại người, đưa đến hại cả hai, diệt trí tuệ, dự phần vào phiền não, không đưa đến Niết-bàn”, hại tầm biến mất. Chư Tỷ-kheo, như vậy Ta tiếp tục trừ bỏ, xả ly và đoạn tận hại tầm.

Chư Tỷ-kheo, Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều vấn đề gì, thời tâm sanh khuynh hướng đối vấn đề ấy. Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo suy tư, quán sát nhiều về dục tầm, vị ấy từ bỏ ly dục tầm. Khi tâm đã nặng về dục tầm, thời tâm vị ấy có khuynh hướng về dục tầm. Chư Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo suy tư quán sát nhiều về sân tầm…về hại tầm, vị ấy từ bỏ vô hại tầm. Khi tâm đã đặt nặng về hại tầm, thời tâm vị ấy có khuynh hướng về hại tầm. Chư Tỷ-kheo, ví như vào cuối tháng mùa mưa, về mùa thu, khi lúa đã trổ hạt, một người mục đồng chăn giữ bò, cầm roi đánh các con bò bên này, đánh bên kia, chế ngự chúng, ngăn chận chúng. Vì sao vậy? Chư Tỷ-kheo, vì người mục đồng thấy do nhân duyên này, đưa đến sự chết, sự tù tội, sự đánh đập hay sự trách móc. Chư Tỷ-kheo, cũng vậy, Ta đã thấy sự nguy hại, sự hạ liệt, sự uế nhiễm của các pháp bất thiện, và thấy sự viễn ly, sự lợi ích, sự thanh tịnh của các thiện pháp”.

Chú thích: Kinh Song tầm, Trung Bộ.

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 78

(Visited 251 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Nguyên Bình, Phật Pháp

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *