Campuchia huyền bí

| 16/01/2013 | 0 Comments

ĐI DỌC DÒNG SÔNG PHẬT GIÁO |   Trần Đức Tuấn   (Viết tiếp kỳ trước)

Với chuyến đi làm phim Mekong ký sự, lần đầu tiên chúng tôi đặt chân lên Nông Pênh và bị nó cuốn hút. Thế rồi mỗi lần nhớ về mảnh đất này, dòng suy nghĩ lại miên man khó dứt. Mỗi dân tộc có hoàn cảnh riêng của mình, không đâu tránh được tai họa và bão tố. Song hình như nỗi dằng xé giữa niềm tin và số phận đã tạo nên nét bí ẩn về tính cách con người của một dân tộc. Nhìn ánh mắt của người Campuchia, ta có cảm tưởng như họ đang nén trong tim cả nỗi uất hận của quá khứ, lòng biết ơn Trời, Phật, sự an phận và cả nỗi bàng hoàng vừa thoát cơn hoạn nạn.

Hoàng cung

Nét đẹp tiêu biểu của Nông Pênh chính là sông nước, cung điện và chùa chiền. Dòng sông Phật giáo sau trên 4.000 cây số bôn ba vất vả tới Nông Pênh đã tìm được những giây phút an nhàn. Hoàng cung và những ngôi chùa tỉnh lặng soi bóng bên dòng nước êm đềm gieo vào lòng khách viễn du đang bồng bềnh trên mặt nước Mê Kong một niềm khoan khoái,dễ chịu và thán phục. Vẻ đẹp huyền ảo về cảnh sắc thiên nhiên u buồn và kỳ vĩ ở thượng lưu đã nhường chỗ cho nét thanh tao quyến rũ uy nghiêm của những kiến trúc vương triều lộng lẫy bên cạnh vẻ thiêng liêng, tự tại, mơ màng của những công trình Phật giáo cổ xưa. Khi lênh đênh cùng du thuyền trên mặt nước Tong6lesap, chúng tôi hoàn toàn chìm ngập trong cảm xúc đạt dào về một chốn Đào nguyên và nghĩ rằng chỉ cần bước lên bờ là tức khắc sẽ lạc vào một miền đất Phật. Chùa chiền ở Nông Pênh nhiều đến nỗi bạn không cách gì có thể tham quan tường tận hết được. Cách duy nhất đối với đoàn làm phim chỉ có thể là “cưỡi ngựa xem hoa” và cũng chỉ lướt qua được 5 ngôi chùa trong hàng trăm tòa lâu đài Phật giáo đó, bao gồm Ụ Nà Lòm như đã nói tới ở bài trước, cùng ngôi chùa Bạc tại hoàng cung, chùa Núi, các chùa Tul Tum Bung, Butum Vô Tây và Mô Ha Muntray. Trước hết, xin nói về ngôi chùa Bạc và quần thể kiến trúc Hoàng cung, trái tim của kinh đô vương quốc. Hoàng cung gồm hàng loạt những công trình lộng lẫy, cao vút, nổi bật trên bầu trời Nông Pênh, tọa lạc tại đại lộ SamĐec Siethearos gần bờ Tong6lesap. Bên ngoài tường thành là sảnh đường Chăn Chaya bề thế, tức khán đài để nhà vua và quần thần dự lễ duyệt binh và xưa kia còn là nơi tổ chức các cuộc chiêu đãi trọng thể có trình diễn nghệ thuật cung đình. Bên trong tường thành là hàng chục lâu đài được xây dựng trên nền của một tòa thành cổ đã bị phá hủy. Hoàng cung được xây dựng lần đầu vào năm 1434 dưới thời vua Pô Nhe Y Át, riêng thế kỷ XIX được xây dựng lại tới ba lần, trước toàn bằng gỗ, mãi sau mới xây lại bằng gạch theo đúng hình dáng xưa. Trong hàng chục công trình lộng lẫy phải kể tới chính cung, tức điện ngai vàng, nơi làm việc và đăng quang của nhà vua, có ngôi tháp cao tới 59m được xây lần đầu vào năm 1869, sau được vua Xi Xô Vát nâng cấp vào năm 1919. Hầu hết các đồ vật quý của chính cung đã bị Khome đỏ tàn phá và cướp hết. Gần cung chính là điện Bô Cha Ni lợp ngói xám, nơi biểu diễn nghệ thuật của hoàng tộc và chiêu đãi của nhà vua. Giữa chập chùng các lâu đài kiến trúc theo trường phái Campuchia nổi lên một công trình xây dựng Tây Âu không sử dụng màu vàng, đỏ như thói quen bản xứ, đó là cung “Napoleon” do chính Napoleon đệ tam lệnh cho xây dựng tặng vua Nô Rô Đôm để kỷ niệm sự kiện Campuchia thừa nhận sự bảo hộ của Pháp vào năm 1863, góp phần hậu thuẫn cho quân Pháp hoạt động ở Nam Kỳ. Lịch sử hoàng cung tương đối ngắn bởi kinh đô vương quốc xưa kia đóng ở Angkor trên bờ Biển Hồ. Do bị Thái Lan o ép và xâm lược, vua Pô Nhê Y Át phải rời bỏ Angkor về Nông Pênh vào năm 1434. Sau khi triều đình về Nông Pênh, người Thái vẫn chưa chịu buông tha, đến nỗi vào năm 1833, vua Ang Chan đệ nhị đã phải cầu cứu sự can thiệp của triều đình Huế, dẫn đến cuộc chiến tranh Thái-Việt kéo dài suốt 12 năm sau đó. Vào các thế kỷ XVIII, XIX, cả Campuchia và Lào thường xuyên bị Xiêm La đe dọa, quấy nhiễu, và cũng là thời kỳ mà Phật giáo hai xứ này thể hiện vai trò và sức mạnh đoàn kết dân tộc trong việc bảo vệ và khôi phục đất nước.

Chùa Bạc

Trong quần thể các lâu đài cung điện hoàng gia có một công trình tôn giáo rất khó phân biệt nếu không được hướng dẫn. Bởi lẽ hình dáng, kích cỡ và cấu trúc của nó chẳng khác gì một lâu đài. Đó chính là ngôi chùa Bạc, một kiến trúc Phật giáo đế vương vô cùng lộng lẫy và sang trọng. Sở dĩ có tên chùa Bạc vì sàn chùa được lát 5.000 viên gạch bằng bạc, mỗi viên nặng 1.125 grames. Chùa được xây bằng gỗ lần đầu vào năm 1892 do ý tưởng cảm hứng từ ngôi chùa Phật Ngọc ở Băng Cốc, và được xây lại vào năm 1962. Trong chùa có một pho tượng Phật bằng vàng lớn như người thật, đính 9.584 viên kim cương, nặng 90kg, cùng với một pho tượng Phật bằng ngọc màu xanh, nên chùa còn có tên “Phật ngọc thạch”. Rõ ràng những gì quý nhất ở trên đời đã được Phật tử dành riêng cho niềm tin thiêng liêng của mình. Xá lợi Đức Phật từ Tích Lan chuyển về cũng được thờ trong chùa. Chùa Bạc là nơi để hoàng gia hàng ngày triều bái Đức Phật, đồng thời là nơi để “tăng vương” Tếp Vung và các vị cao tăng từ chùa Ụ Nà Lòm tới thực hiện các lể nghi tôn giáo cho nhà vua và hoàng hậu. Đó là những nghi thức cực kỳ long trọng, biểu tượng tinh thần tối cao của xã hội trước giáo hội và vương quyền. Nó đặc biệt được toàn dân chú ý, có ý nghĩa rất lớn trên cả hai mặt tình cảm và tâm lý, không hề đơn thuần mang tính hình thức. Hình ảnh vua sãi Tếp Vung ân cần làm lễ và Quốc vương Xi Ha Núc cung kính tiếp nhận được coi là biểu tượng đoàn kết dân tộc của một đất nước lấy Phật giáo làm quốc giáo.

Hội đua thuyền

Rất may cho đoàn làm phim là chúng tôi được chứng kiến lễ hội truyền thống đua thuyền hàng năm trên sông Tông lê sáp ngay trước hoàng cung , dưới sự chủ trì của Quốc vương Xi Ha Núc và Chính phủ Hoàng gia. Hội đua thuyền diễn ra trong 3 ngày liền: ban ngày đua thuyền, ban đêm trình diễn thuyền rồng và bắn pháo hoa. Có tất cả 372 thuyền dua, chia thành 186 cặp trong đó có 7 cặp nữ. Trên nữa chiều dài của Mê kong từ đất của người Tây song Bản Nạp ở Trung Quốc tới đất của người Thái, người Miến, người Lào, người Campuchia, và cuối cùng là ở đồng bằng sông Cửu Long, tất cả đều có tục đua thuyền, một hoạt động mang tính văn hóa nhiều hơn là thể thao. Tục đua thuyền trước hoàng cung Nông Pênh gần giống với hội đua ghe ngo ở Sóc Trăng. Ở đây các thuyền đua đại diện cho các địa phương trong nước, còn ở Sóc Trăng các thuyền đua thường đại diện cho các chùa.

Khi hoàng hôn vừa phủ khắp kinh thành, những ngôi tháp huyền bí chìm dần trong đêm tối, cả không gian mênh mông sôi động trên mặt nước Tông lê sáp và đôi bờ của nó cũng dần lắng xuống nhường chỗ cho sự rạo rực mong đợi đêm hoa đăng của hàng trăm ngàn người. Hàng chục chiếc thuyền rồng kết đèn hoa rực rỡ sùng sững như những đại hạm, nguy nga tráng lệ, với màu sắc và ánh sáng mờ huyền ảo giữa trời đêm, hồi hộp đợi lệnh nhà vua để nhập cuộc. Khi Quốc vương Xi Ha Núc đốt đèn hiệu lệnh, tất cả các thuyền rồng đều bật sáng, cả dòng sông lung linh hiện ra từ trong đêm tối mịt mùng như trong truyên cổ tích, pháo bông rộn ràng màu sắc và âm thanh vang vọng đất trời cổ vũ cho những con thuyền diễm lệ diễu hành trên mặt nước tạo nên một quang cảnh vừa bí ẩn lại vừa huy hoàng. Dòng nước Me6kong bôn ba suốt trên 4.000 cây số về đây thật sự có cảm giác như vừa được Đức Phật thương yêu dẫn vào cõi Niết bàn!

Những ngôi chùa nuôi sinh viên ăn học

Tiếp tục cuộc hành trình thám sát kinh thành Phật giáo, chúng tôi tời thăm 3 ngôi chùa có chung một đặc điểm là nuôi cho học sinh và sinh viên nghèo ăn học:

– Chùa Tul Tum Bung: Ngôi chùa cao nhất Nông Pênh, được xây vào những năm 1940, có 67 nhà sư, có trường tiểu học và trung học 32 phòng, từ lớp 6 đến lớp 12. Nhà chùa còn nuôi 70 sinh viên nghèo, lo ăn ở, mặc, học phí, để họ theo học ở các trường đại học cho tới khi tốt nghiệp.

– Chùa Bu Tum Vô Tây: Nơi lưu giữ hài cốt gia đình của các vua Campuchia nhiều đời, với khuôn viên rất lớn, trong đó diện tích ký túc xá dành cho 500 sinh viên rộng gấp 10 lần diện tích chùa, 500 sinh viên này hoàn toàn do nhà chùa nuôi cho ăn học như 70 sinh viên cùa chùa Tul Tum Bung vậy. Khuôn viên chùa rộng mênh mông, như là một thế giới biệt lập của sinh viên gồm nhiều đường ngang dọc, vườn hoa, cổ thụ, sân chơi, nhà ở, nơi dành cho xe hàng vào bán cho sinh viên…, gần giống như một khu dân cư. Rõ ràng nhà chùa đã trở thành chỗ dựa vô cùng quý giá cho sinh viên nghèo và gia đình của họ.

– Chùa Mô Ha Mun Tray: Có trường tiểu học và hệ thống ký túc xá chăm nuôi cho 500 sinh viên nghèo theo học tại các trường đại học.

Tất cả các ngôi chùa ở Campuchia đều sẳn sàng cho người nghèo ở xa lỡ bước hoặc không có tiền vào ở trọ và ăn uống miễn phí. Riêng chùa Bu Tum Vô Tây còn mở cả một trường Phật học dành riêng cho các tu sĩ.

Chùa Núi

Ngôi chùa cuối cùng mà chúng tôi tới thăm ở Nông Pênh chính là công trình Phật giáo có sự tích xuất xứ nổi tiếng nhất ở kinh thành, có tên là chùa Núi vì nằm trên ngọn núi duy nhất của thành phố, cao 27m. Hoàn cảnh xuất xứ của chùa Núi rất ly kỳ. Năm 1373, có một người đàn bà tên là Pênh nhìn thấy trên đoạn sông bốn mặt (tức ngả tư Nông Pênh ngày nay) có một khúc gỗ chỉ nổi chứ không trôi trong lúc mọi vật khác đều trôi theo dòng chảy. Thấy lạ bà Pênh bèn chèo thuyền ra vớt lên thì thấy trên khúc gỗ có 4 bức tượng Phật. Bà nghĩ có thể là điềm báo rằng Đức Phật đã rời bỏ Angkor về đây nên bà bèn đắp núi xây chùa để thờ hai tượng, hai tượng còn lại được thờ ở một ngôi chùa có sẳn ở bên kia sông. Ngọn núi do bà Pênh đắp để xây chùa được dân chúng gọi là núi bà Pênh. “Núi” tiếng Khome đọc là PhNom. Núi bà Pênh đọc là Phnompenh. Đó chính là tên của kinh thành Phnom Pênh mà nhiều người phát âm đơn giản thành Nông Pênh như ta vẫn gọi. Sau này chùa được xây dựng lại vào các năm 1434 (tức năm rời đô về Nông Pênh), 1806 và 1926. Ngọn tháp tròn, cao, tọa lạc trên đỉnh núi 27m đã trở thành một trong những tòa kiến trúc xinh đẹp, lộng lẫy và ấn tượng nhất của kinh thành. Ngoài thờ Phật, chùa Núi còn có điện thờ cả thần bảo hộ Preah Châu, thần Vishnu của Ấn độ giáo, Khổng Tử và hai hiền triết Trung Hoa. Người Khome, người Hoa, người Việt tới lễ rất đông. Họ thường đến để cầu thi đỗ hoặc làm ăn phát tài, hay tới lễ tạ ơn như tại miếu bà Chúa Xứ Châu Đốc vậy.

Thật đáng trân trọng

Campuchia quả là một vương quốc kỳ lạ. Điều đó không chỉ được biểu hiện từ một nền văn hóa đặc sắc, từ bộ mặt kiến trúc tôn giáo đặc trưng, từ tính cách con người bộc trực mà còn từ sự thôi thúc, khơi dậy dòng suy tưởng không nguôi nơi lữ khách xa gần về cuộc đời một thời bất hạnh của cư dân, về số phận của một quốc gia, một dân tộc. Dù đây là ngoại bang gần gũi nhất đối với người dân Nam Bộ Việt Nam, song, nếu nói rằng chúng ta đã thấu hiểu cặn kẽ người bạn láng giềng chất phác này thì cũng chưa hẳn bởi còn quá nhiều điều không dễ lý giải. Đó chính là sự bí ẩn đầy sức lôi cuốn của vương quốc cổ xưa này, một nét quyến rũ của Me6kong kiều diễm.

Nông Pênh chỉ cách biên giới Việt Nam 80km, cách Sài Gòn 260km nên việc thông thương rất thuận tiện. “Lên Nam Vang” xưa nay vốn là chuyện quá bình thường đối với người Việt, bằng cả đường bộ và đường sông. Dân ta lên làm ăn buôn bán hoặc làm công chức trong bộ máy hành chánh của thực dân Pháp khá nhiều trong đó không thiếu những nhân vật nổi tiếng trên nhiều lĩnh vực. Tác giả của “Con thuyền không bến” và “Giọt mưa thu” chẳng hạn đã từng lăn lộn kiếm sống một thời phiêu lãng ở chốn này.

Với chuyến đi làm phim Me6kong ký sự, lần đầu tiên chúng tôi đặt chân lên Nông Pênh và bị nó cuốn hút. Thế rồi mỗi lần nhớ về mảnh đất này, dòng suy nghĩ lại miên man khó dứt. Mỗi dân tộc có hoàn cảnh riêng của mình, không đâu tránh được tai họa và bão tố. Song dường như nỗi dằng xé giữa niềm tin và số phận đã tạo nên nét bí ẩn về tính cách con người của một dân tộc. Nhìn ánh mắt của người Campuchia, ta có cảm tưởng như họ đang nén trong tim cả nỗi uất hận của quá khứ, lòng biết ơn Trời, Phật sự an phận và cả nỗi bàng hoàng vừa thoát cơn hoạn nạn. Đã không ít lần chúng tôi lang thang dưới trời đêm Nông Pênh, đắm chìm vào suy nghĩ, và loay hoay với muôn ngàn cách lý giải. Những con đường mang tên Mao Trạch Đông, De Gaulle, Dimitrop, Nô Rô Đôm, Xi Xô Vát…đứng lặng giữa đêm trường chập chờn dưới ánh đèn khuya thanh vắng gợi bao nỗi niềm u ẩn. Một dân tộc vốn cởi mở, chan hòa, đầy thiện chí bỗng bị Lon Non rồi Pôn Pốt dồn đến chân tường, giờ đây đang hồi sinh từ đống tro tàn và từ những trái tim tan nát. Một dân tộc sùng kính đạo Phật, chọn lối sống từ bi, từng kiến tạo nên những đền đài vĩ đại, từng bị rơi xuống vực sâu, đang lặng lẽ suy nghĩ về cuộc đời, về thời thế thịnh suy, về nhân tình thế thái, về bạn và thù, về lẽ rũi may phải trái… rất đáng được thông cảm, chia sẻ và kính trọng. Bức tranh định mệnh trớ trêu của đất nước này đã khiến mọi người không thể thờ ơ. Đó là lý do mà chúng tôi cố tiếp cận cái thế giới tinh thần và tình cảm đầy vẻ uẩn khúc, khả dĩ giải thích được phần nào điểm tựa cân bằng về tâm lý hầu giúp cho dân tộc này đi hết con đường của họ.

Có lẽ đó là niềm tự tôn thầm kín, tình yêu đối với tự do, công bằng, sáng tạo, nhân ái, từ bi cùng với bài học đường đời…Những yếu tố này đang ầm ỉ hun đúc tài năng, khát vọng và cả tính cách của một dân tộc. Là người bạn láng giềng, chúng ta luôn trân trọng mọi tình cảm, niềm vui, nỗi buồn và cả sự im lặng của họ.

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 24 | ĐI DỌC DÒNG SÔNG PHẬT GIÁO |   Trần Đức Tuấn

(Visited 120 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Danh Thắng, Sưu Tầm, Trần Đức Tuấn

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *