Dấu ấn Phật Giáo trên nhũng nẻo đường Trung Hoa kỳ 3 – Cao xương – Thiên sơn – Hoả Diệm sơn

| 07/04/2012 | 1 Comment

DẤU ẤN PHẬT GIÁO  TRÊN NHỮNG NẺO ĐƯỜNG TRUNG HOA  Kỳ 3
Trần Đức Tuấn | Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo 6

 Cao Xương là một tòa thành khá lớn, chu vi rộng hơn 5 cây số, gồm 3 lớp: ngoại thành, nối thành và nối cung. Trong thành có tháp và đại điện thờ Phật, rộng khoảng 1000m2. Khu vực này là cao nguyên nhưng mùa hè lại rất nóng vì lượng mưa quá ít. Tuy nhiên cũng do thời tiết ấy mà thành quách bằng đất có thể “trơ gan cùng tuế nguyệt” hiện diện đến tận bây giờ. Giống như Ngọc Môn Quan, thành cổ Cao Xương là một trong những di sản văn hóa, du lịch nổi tiếng do nằm trên Con đường tơ lụa, và nhất là trên đường Tây du của Đường Huyền Trang khi xưa…dau an thien son

Trên đường làm phim, chúng tôi đã đi khá nhiều địa phương ở Trung Quốc nhưng xa xôi hẻo lánh nhất là khu tự trị Tân Cương của người Duy Ngô Nhĩ. Tân Cương nằm trên Con đường tơ lụa cổ xưa, có một nền văn hóa đặc sắc, phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ lạ kỳ và là nơi xưa kia cao tăng Huyền Trang đã từng đi qua.

Chúng tôi từ Vũ Hán tới Urumxi bằng đường hàng không. Đây là thủ phủ của khu tự trị. Tân Cương rộng tới 1 triệu 600 ngàn cây số vuông, xưa kia được người Trung Hoa gọi là “Tây vực” tức là vùng đất ở phía Tây Đôn Hoàng, nơi biên ải xa xôi của đất Hán. Urumxi chính là vùng đất trung tâm của Tây vực cổ đại, ở phía Bắc dãy Thiên sơn hùng vĩ. Urumxi, tiếng Mông Cổ có nghĩa là “Mục trường xinh đẹp”, tiếng Hán-Việt gọi là Ô Lỗ Mộc Tề, vào thời Con đường tơ lụa, đây là một thảo nguyên mênh mông, nay là một đô thị rất hiện đại. Sử sách Trung Quốc gọi vùng đất này là nước Đột Quyết của người Hồ. Vì là một cao nguyên, vĩ độ cao hơn cả Bắc Kinh: 44 vĩ độ Bắc (Bắc Kinh 40 vĩ độ Bắc) nên nhà thơ Sầm Tham đời Đường đã miêu tả: “Gió Bắc thổi quét sát mặt đất, cây cỏ gầy liệt, Trời sứ Hồ tháng tám tuyết đã rơi, cung nỏ đóng băng không rút ra được…”. Hơn hai ngàn năm trước mục trường Urumxi rộng đến nỗi bao gồm hàng loạt tiểu quốc du mục được gọi là các “Hành quốc”, tức các bộ lạc đi tìm nguồn nước để chăn nuôi. Khu tự trị này có tới 40 dân tộc cùng chung sống nhưng đông nhất là người Duy Ngô Nhĩ, rồi tới người Hán, người Cadắc, người Nga…

Thiên Sơn

Urumxi nằm ở chân núi phía Bắc Thiên sơn. Đây là dãy núi nổi tiếng nhất vùng Tây vực cùng với dãy Côn Lôn huyền bí. Giữa hai dãy núi khổng lồ quanh năm tuyết phủ này là hai bồn địa, cũng là hai sa mạc lớn nhất Trung Quốc là Taklamacal và Gô-bi. Ngày 15 tháng 7, vào giữa mùa hè oi bức, chúng tôi đi thăm hồ nước tự nhiên “Thiên sơn Thiên trì” trên núi Thiên Sơn. Dãy núi này dài tới 1.700 cây số chạy theo hướng Tây Đông, từ Kazacstan (thuộc Liên Xô cũ) tới Tân Cương. Vùng núi mênh mông này đầy các đỉnh tuyết vĩnh cửu và những khu rừng vân sam cổ thụ xanh thẳm, quả là một bức tranh thiên nhiên diễm lệ. Tới đây chúng tôi mới biết Lý Bạch được sinh ra trên bờ hồ Iskul nằm trong lãnh thổ Kiếc-ghi-gi (thuộc Liên Xô cũ), nơi cao nhất trong dãy Thiên sơn, quê hương của cây thuốc phiện từng được nói tới trong bộ phim “Hoa anh túc bên bờ hồ Iskul” rất nổi tiếng của Liên Xô trước đây. Xưa kia Tân Cương và một số quốc gia láng giềng Trung Á phía Tây, được người Hán gọi chung là đất của người Hồ, vì vậy mới có chuyện Lý Bạch được gọi là “Hồ nhân”. Trên núi Thiên Sơn có năm lạnh tới 51 độ dưới không, chỉ thua kỷ lục của Hắc Long Giang có 1 độ (-52oC). thông thường, vào mùa Đông, khí trời xuống tới -40oC, mùa hè mát dịu. trên đường lên núi, chúng tôi ghé thăm một làng Cadắc, sống trong các lều bạt để thưởng thức món trà nóng pha sữa ngựa và muối rất ngon miệng. Người Cadắc sống trên núi cao, cường tráng, giỏi cưỡi ngựa, và có tập tục cấm nam nữ có quan hệ huyết thống từ 5 đời trở xuống được kết hôn. Xưa kia ai vi phạm sẽ bị phạt tội chết. Nay tội tử hình đã được bãi bỏ, nhưng người vi phạm sẽ bị đuổi ra khỏi cộng đồng. Ở Trung Quốc có hai dãy Thiên Sơn, và Thiên Sơn nói ở đây là “núi trời” còn Thiên Sơn ở vùng Đông Bắc là “ngàn núi”. “Thiên sơn Thiên Trì” trên dãy Thiên Sơn là một cái hồ được ví như viên ngọc quý, cực kỳ lộng lẫy, nằm ở độ cao 2000m, chung quanh là các Tuyết Sơn vây kín, nước trong xanh, sâu từ 60m đến 110m, rộng 6 cây số vuông (diện tích bằng Tây Hồ của Hàng Châu-Trung Quốc và Hồ Tây của Hà Nội-Việt Nam cộng lại) nhưng hùng vĩ và tráng lệ hơn nhiều. Chúng tôi đã lãng du trên mặt nước phẳng lặng in bóng những đỉnh núi tuyết kỳ vĩ quanh hồ hàng giờ, và như lạc vào một cõi thần tiên vậy. Đây là xứ sở của người Cadắc, nhưng xa xưa, thời Con đường tơ lụa, đây đã từng là nơi dừng chân của các nhà truyền giáo Ấn Độ và Trung Hoa, những người đã đưa Phật giáo thâm nhập vào Trung Hoa. Thiên sơn không chỉ là nơi du lịch tuyệt diệu mà còn là một “mục trường” rộng lớn, giàu có và hết sức ngoạn mục. Chúng tôi tới thăm một trong những mục trường đẹp nhất trên sườn Bắc của dãy núi này. Đó là những đồng cỏ mênh mông, non tươi, mịn màng phủ lên hàng trăm ngọn đồi cao thấp lên tới tận những khe núi sâu thẳm. Hai loài vật chủ yếu được nuôi ở đây là dê và cừu. Vào mùa hè, hàng trăm căn lều du mục Cadắc hình trụ tròn ven đồi tạo thành một điểm quần cư xầm uất, làm cho cả vùng núi hiu quạnh từng bừng hẳn lên. Mùa Đông người Cadắc sẽ dỡ lều, đưa dê cừu xuống đồng bằng để tránh băng tuyết.

Tô Lô Phan

Từ Urumxi, chúng tôi băng qua một đoạn của sa mạc Gô-bi khoảng 250 cây số về phía Đông Nam để tới một nơi rất nổi tiếng trong lịch sử cổ đại, có liên quan rất nhiều tới Phật giáo là Tô Lô Phan (từ Hán-Việt là Thổ Lỗ Phồn). Giao thông giữa hai đô thị này gồm một con đường cũ và một tuyến đường sắt. Nghe nói sa mạc Gô-bi tuy hoang vắng nhưng vẫn còn đỡ hiu quạnh và bí ẩn hơn sa mạc Taklamacal ở sườn Nam Thiên Sơn, cách Gô-bi vài trăm cây số. Sa mạc Taklamacal rộng thứ nhì thế giới, sau sa mạc Sahara ở Bắc Phi. Nơi đây đã có nhiều đoàn thám hiểm vào sâu trong sa mạc và không thấy trở về, người ta phái máy bay trực thăng đi tìm nhưng trực thăng cũng biến mất luôn. Tô Lô Phan là một ốc đảo giữa hoang mạc, sống nhờ vào nguồn nước tuyết từ Thiên sơn chảy về một số sông suối. Ngày xưa, Con đường tơ lụa khi tới Tân Cương thì chia làm 3 tuyến: tuyến Bắc vòng lên vùng núi An Tai; tuyến giữa men theo rìa Bắc sa mạc Taklamacal đi qua Tô Lô Phan; tuyến Nam men theo rìa Nam hoang mạc khổng lồ này. Theo các nhà nghiên cứu thì Đường Huyền Trang đã Tây du theo hành trình sau: rời Tây An đi qua các điểm trên hành lang Hà Tây, tức một bộ phận của con đường tơ lụa bao gồm: Thiên Thủy, Vũ Uy, Tửu Tuyền, Gia Dụ Quan, An Tây (tức Hương Châu, Đôn Hoàng, có tài liệu nói ngài không đi qua Đôn Hoàng) rồi qua cửa ải  Ngọc Môn Quan để sang Tây Vực. Khi tới Tân Cương, ngài đã chọn tuyến giữa của Con đường tơ lụa để tiếp tục đi về phía Tây. Cuốn “Tùy thư” ghi: “Từ Đôn Hoàng tới Tây Hải (Địa Trung Hải) có 3 đường: đường giữa từ Cao Xương tới Ba Tư…”. Trung tâm nước Cao Xương cổ đại chính là Tô Lô Phan. Đường Huyền Trang sau khi ra khỏi Ngọc Môn Quan, định đi theo tuyến Bắc nhưng sau đó lại đổi hướng, đi qua Tô Lô Phan để theo tuyến giữa. Chúng tôi tới thăm thành cổ Cao Xương ở ngoại ô Tô Lô Phan để tìm hiểu đôi điều về vương quốc này và về những dấu ấn của Đường Huyền Trang. Thành cổ Cao Xương hiện chỉ còn là một phế tích hoang tàn bằng đất, trải quan 2100 năm dãi dầu sương gió. Thời đó Hán Vũ Đế sai Lý Quang Nghi chinh Tây, đánh Cazacstan nên lập một trại dịch tại đây, dần dần, lái buôn, binh lính qua lại nhiều nên trở thành trấn, rồi được Hán triều cho xây thành lũy bằng đất, cao 10m, rộng 1,2 km2. Trong thành có xây chùa để các cao tăng giảng kinh Phật. Lúc Đường Tăng tới đây (thế kỷ thứ 7) nó đã trở thành kinh đô của nước Cao Xương từ lâu. Trong hàng loạt hạng mục công trình còn lại tới nay có một tòa kiến trúc bằng đất bề thế, gọi là “Giảng kinh đường”, cũng chính là nơi Đường Huyền Trang giảng kinh Phật cho quốc vương Cao Xương Các Văn Thái và quần thần nghe. Khi Đường Huyền Trang tới kinh thành vào lúc nửa đêm, nhà vua đích thân cầm đuốc ra cửa hoàng cung nghênh tiếp và tự xưng là đệ tử và quỳ lạy mời ngài ở lại Cao Xương giúp chính sự, và khuyên ngài đừng đi thỉnh kinh nữa. Đường Huyền Trang một mực từ chối khiến vua phải dùng biện pháp uy hiếp. Không còn cách nào khác, Đường Huyền Trang đã phải tuyệt thực 3 ngày để phản đối. Cuối cùng, vua đành phải quỳ lạy và mời ngài lên đường. Tính ra Đường Huyền Trang đã ở lại Cao Xương hơn một tháng. Lúc ra đi, vua cúng dường ông 100 lạng vàng, 30 ngàn đồng tiền bạc, 30 con ngựa và 24 lá thư giới thiệu tới các nước, kèm theo mỗi thư là một tấm lụa.  thanh-co-cao-xuong

Cao Xương là một tòa thành khá lớn, chu vi rộng hơn 5 cây số, gồm 3 lớp: ngoại thành, nối thành và nối cung. Trong thành có tháp và đại điện thờ Phật, rộng khoảng 1000m2. Rất tiếc là người ta không cho phép quay phim nên chúng tôi chỉ có thể ghi hình từ bên ngoài. Khu vực này là cao nguyên nhưng mùa hè lại rất nóng vì là một lòng chảo giữa sa mạc. Chính vì lượng mưa quá ít nên thành quách bằng đất có thể “trơ gan cùng tuế nguyệt” mà tồn tại đến tận bây giờ, giống như Ngọc Môn Quan vậy. Di tích lịch sử này hiện được liệt kê vào danh sách bảo tồn văn hóa trọng điểm và trở thành một điểm du lịch nổi tiếng do nằm trên con đường tơ lụa, và nhất là trên đường Tây du của Đường Huyền Trang khi xưa.

Hỏa Diệm Sơn

Ngày 16-7, chúng tới thăm Hỏa Diệm Sơn, một dãy núi màu đỏ rực, dài gần 100 cây số, rộng 9 cây số, cao gần 900 mét, so với mặt nước biển, nằm trong lòng chảo Tô Lô Phan, là bồn địa thấp thứ hai trên thế giới. Khi mặt trời chiếu vào, toàn cảnh dãy núi đồ sộ, lung linh một màu lửa đỏ nên mới có tên là “Hỏa Diệm Sơn”. Thực tế đây không phải là một núi lửa. khi chúng tôi tới thăm, vào lúc 13 giờ, bước ra khỏi xe máy lạnh, không khí bên ngoài tạt vào như một chảo lửa, nóng rát cả mặt, nhiệt độ ngoài trời vào khoảng 60oC. Chúng tôi phải tranh thủ ghi hình và chụp ảnh trong vòng khoảng 30 phút rồi rút lui bởi không chịu nổi cái nóng khủng khiếp ấy. Tài liệu thống kê ghi lại, vào 3 năm 1952, 1953 và 1954, Tô Lô Phan  nóng tới gần 48oC trong bóng râm vào đúng ngày 24-7 của cả 3 năm. Nguyên nhân cái nóng chính là do địa hình ở giữa sa mạc lại thấp hơn mặt biển (mặt hồ Ngải Đình thấp hơn mặt biển tới 154 mét). Lúc nóng nhất, mặt sa mạc lên tới 80oC, có thể làm chín trứng.

Hỏa Diệm Sơn nổi tiếng vì nhiều lẽ, trong đó có đặc điểm khắc nghiệt của khí hậu và sự hùng vĩ tráng lệ của thiên nhiên. Tuy nhiên, nguyên nhân của việc nó lừng danh thiên hạ chính là nhờ ở sự miêu tả tài tình trong tiểu thuyết bất hủ “Tây du ký” và trong những áng thơ Đường.

Trong bài Kinh hỏa sơn, nhà thơ biên tái đời Đường là Sầm Tham đã viết như sau: “Lửa đỏ thiêu tầng mây. Khí nóng hun biên Tây. Than âm dương nào biết. Sao chỉ đốt nơi này? Ta đến vào giữa Đông. Núi non trùm gió nóng, Người ngựa mồ hôi mướt. Ai hiểu được hóa công?”

Còn trong Tây du ký, Ngô Thừa Ân đã viết: “Ngọn lửa phun cao ngàn trượng, dài 800 dặm”. Rõ ràng đây là một hư cấu văn chương để nói đến chuyện Đường Tăng  khi tới đây phải dừng bước rồi sai Tôn Ngộ Không lên thiên đình mượn chiếc quạt ba tiêu của Thiết Phiếu công chúa về dập tắt núi lửa để thầy trò tiếp tục lên đường thỉnh kinh. Khi làm phim, đạo diễn Dương Khiết đã đưa đoàn làm phim tới đây để dựng trường đoạn hấp dẫn này.

Ngay trên sườn núi còn có một di tích Phật giáo rất nổi tiếng, đó là “Thiên Phật động” một loại hang động nhân tạo được khoét vào núi đá để thờ Phật, giống như hang Mạc Cao ở Đôn Hoàng nhưng quy mô nhỏ hơn.

DẤU ẤN PHẬT GIÁO  TRÊN NHỮNG NẺO ĐƯỜNG TRUNG HOA  Kỳ 1
Cố đô Trường An,Hành lang Hà Tây, Gia Dụ quan, Đôn Hoàng

DẤU ẤN PHẬT GIÁO  TRÊN NHỮNG NẺO ĐƯỜNG TRUNG HOA  Kỳ 2
Hang động Mạc Cao – Núi Minh Sa – Hồ Nguyệt Nha – Dương Quan – Ngọc Môn Quan

(Visited 202 times, 1 visits today)

Category: Danh Thắng, Sưu Tầm, Trần Đức Tuấn

Comments (1)

Trackback URL | Comments RSS Feed

  1. Thành thật cảm ơn và xin hân hạnh giới thiệu
    Tranh thêu chữ thập trở thành những món quà ý nghĩa dùng làm quà tặng, tranh trang trí tô điểm cho ngôi nhà của bạn,thích hợp với không gian phòng ngủ ,phòng khách và phòng làm việc,cầu thang. Tranh thêu cũng có vai trò trang trí tuyệt vời tại các văn phòng, công ty hay các cơ quan nhà nước.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *