Đi tìm lai lịch chiếc vạc đồng chùa Hội Thượng

| 08/01/2017 | 0 Comments

Bài & ảnh:  TRẦN  VĂN  DŨNG

Trên tạp chí Văn Hóa Phật Giáo số 195 chúng tôi đã gửi đến độc giả bài viết “Về chiếc vạc đồng triều Nguyễn vừa mới phát hiện tại chùa Hội Thượng”. Sau một thời gian tiến hành điền dã, khảo sát thực tế, thu thập thông tin trên địa bàn làng Thượng An (thuộc xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế), đồng thời kết hợp với việc tra cứu, tham khảo các nguồn tư liệu thư tịch cổ của triều Nguyễn; chúng tôi xin phép được đưa ra những phác thảo về lai lịch chiếc vạc đồng chùa Hội Thượng mang tính chất gợi mở cho những ai quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu.

di-tim-lai-lich-vac-dong

Theo lời kể của các vị cao niên của làng Thượng An, chiếc vạc đồng chùa Hội Thượng đã được dân làng gìn giữ cẩn thận trong suốt gần 200 năm. Trước đây, do dân làng sợ thực dân Pháp trưng thu vạc đồng để đúc súng đạn, nên các vị bô lão trong làng họp bàn quyết định đào một cái hố gần chùa Hội Thượng, lót rơm lên, rồi huy động trai làng khuân vạc đồng chôn giấu xuống hố. Qua nhiều đời sau, vị trí chôn giấu vạc đồng bị lãng quên theo năm tháng. Cùng với sự ra đi của các bậc tiền bối hữu công, số người biết được chuyện này thưa dần rồi mất hẳn, dẫn đến việc nảy sinh ra các câu chuyện huyền thoại về chiếc vạc đồng tại chùa Hội Thượng. Một sự kiện bất ngờ đã xảy ra, vào khoảng năm 1950, khi dân làng Thượng An tiến hành đào mương  ở mảnh  đất gần khuôn viên chùa Hội Thượng bỗng phát hiện một vật lạ ẩn dưới lớp bùn lầy. Dân làng đào lên, thì phát hiện là một chiếc vạc đồng lớn. Sau đó, các vị bô lão của làng quyết định khiêng chiếc vạc đồng lên và đặt nó vào vị trí trang trọng trong khuôn viên chùa Hội Thượng. Có thể đây cũng là lý do để hiện nay, dù trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử chiếc vạc đồng vẫn còn được lưu giữ tại chùa làng Hội Thượng.

Cho đến tận bây giờ, lai lịch và thời khắc hiện diện đầu tiên của chiếc vạc đồng chùa Hội Thượng tại làng Thượng An vẫn được xem là một điều bí ẩn chưa có lời giải đáp chính xác. Có chăng chỉ là những câu chuyện truyền khẩu giữa chốn dân gian. Những câu chuyện đó có thể chẳng bao giờ xác minh được, hoặc khi xác minh lại thấy không đúng. Chúng tôi không dám lạm bàn về tính thực hư của các câu chuyện trên, nhưng rõ ràng chiếc vạc đồng chùa Hội Thượng có màn sương bao phủ huyền thoại như vậy đã làm cho nó vốn dĩ đã quý lại càng thêm quý.

Sau một  quá  trình điền  dã, khảo sát thực  tế, thu thập thông tin từ các vị trưởng thượng  sinh sống trên địa bàn làng Thượng An, đồng thời kết hợp với việc tra cứu, tham khảo các nguồn tư liệu thư tịch cổ của triều  Nguyễn; chúng tôi xin đưa ra một số giả thuyết lý giải về nguồn  gốc hiện diện của chiếc vạc đồng  tại chùa Hội Thượng như sau:

Giả thiết thứ nhất, do một cảnh huống  lịch sử nào đó mà chiếc vạc đồng  bị lưu lạc đến làng Thượng An và được nhân dân địa phương  lưu giữ cẩn thận trong chùa làng. Dựa vào các tài lịch sử vùng đất cố đô Huế, chúng  ta có thể ngờ rằng sự kiện ngày 5/7/1885, khi quân Pháp đánh chiếm kinh thành  Huế, giữa lúc vua Hàm Nghi và hoàng gia xuất bôn ra Quảng Trị, rồi ra Hà Tĩnh, thì quân Pháp lại tràn vào cướp bóc tất cả đồ đạc quý giá đang trưng bày và thờ tự trong các cung điện ở Đại nội. Trong hoàn cảnh lịch sử rối ren này, chiếc vạc đồng đã lưu lạc đến làng Thượng An và được dân làng xem như báu vật của làng. Sau đó, chiếc vạc đồng được người dân đưa vào trưng bày ở chùa Hội Thượng vốn là nơi sinh hoạt chung của cả cộng đồng.

Giả thiết thứ hai, chiếc vạc đồng do triều đình phong kiến, mà đứng đầu là vua Minh Mạng, ra lệnh đúc và được đưa đến chùa Hội Thượng (làng Thượng An) có chủ đích. Bởi lẽ, trong lịch sử triều Nguyễn (1802 – 1945) đã từng có sự kiện triều đình ban tặng chiếc đỉnh đồng lớn cho phủ Kiên Thái vương. Đó là vào năm 1888, dưới thời vua Đồng Khánh (1885 – 1889), một chiếc đỉnh lớn đúc từ thời Minh Mạng được dâng tặng Kiên Thái vương. Hiện nay, chiếc đỉnh này vẫn còn được đặt trong phủ Kiên Thái vương, còn gọi là Nội từ (số 179 Phan Đình Phùng, thành phố Huế), ngay phía sau chiếc bình phong  tiền của nhà thờ chính. Chúng tôi đang băn khoăn một điều rằng, vì sao bao nhiêu quốc tự, chùa sắc tứ, tổ đình ở gần Kinh thành  Huế dưới triều Nguyễn như chùa Linh Mụ, Thiền Lâm, Quốc Ân… nhà vua không ban tặng vạc đồng cho những danh lam cổ tự này mà lại dành sự ưu ái ban tặng cho một ngôi chùa xa xôi ở làng Thượng An.

Sau một quá trình nghiên  cứu, chúng  tôi nhận thấy rằng, giả thiết thứ hai cũng có rất nhiều cơ sở thuyết phục.  Theo lời kể của các vị trưởng thượng trong làng, trước đây chùa Hội Thượng là một nơi danh thắng đẹp, lại nổi tiếng đảo vũ linh ứng nên có lần vua Minh Mạng đã chọn một ngày tốt dịp đầu năm mới cùng các quan đại thần đến chùa Hội Thượng lễ Phật, cầu cho dân chúng no ấm, đất nước thái bình. Hẳn nhiên, nếu có sự kiện đó thực thì việc vua Minh Mạng ra lệnh cho đúc một chiếc vạc đồng để tặng chùa Hội Thượng làm minh khí trưng bày để vừa bày tỏ lòng tôn kính Phật pháp vừa thể hiện quyền năng của vương triều là điều rất có thể xảy ra.

Hơn nữa, theo điều tra khảo sát, chúng tôi phát hiện tại hậu điện chùa Hội Thượng vẫn còn thờ bài vị của một nhân vật được xem là vị quan chủ quản công việc đúc các đồ vật cung đình bằng đồng thời đó. Bài vị ghi rõ: “武 库 僉 事 弘 德 侯 陳 公 府 君 神 位 –– Võ khố Thiêm sự Hoằng Đức hầu Trần công phủ quân thần vị” (Bài vị của ngài họ Trần, chức quan  Võ khố Thiêm sự, tước Hoằng Đức hầu). Từ xưa đến nay, bất kỳ một nhân vật nào đã được cả cộng đồng làng xã tôn vinh, thờ cúng thì chắc chắn phải có công lao to lớn với cộng đồng ấy. Có thể là công lao khai canh, khai khẩn, dạy dân nghề nghiệp mưu sinh, hoặc đơn giản là có công đức xây dựng  các công trình công cộng hoặc công trình tôn giáo, tín ngưỡng cho cả cộng đồng… Dẫu hiện nay chúng tôi chưa tìm thấy những tài liệu ghi chép về mối quan hệ của ngài Võ khố Thiêm sự với làng Thượng An song có một điều chúng tôi có thể ngờ rằng, nhân vật này nếu không phải là con cháu trong làng thì cũng là người đã có công giúp chùa Hội Thượng trùng tu, sửa chữa và đúc một số minh khí quý bằng đồng.di-tim-lai-lich

Hiện tại, ngoài chiếc vạc đồng ra, chùa Hội Thượng vẫn còn lưu giữ một chiếc đại hồng chung có thân cao 0,8m, quai chuông cao 0,2m. Chu vi giữa thân chuông là 1,33m, gần miệng chuông là 1,64m. Căn cứ vào minh văn khắc chữ Hán trên  thân  chuông, chúng  tôi biết được quả đại hồng chung chùa Hội Thượng do một vị quan giữ chức Võ khố Thiêm sự tên là Trần Văn Hoằng, tước Hoằng Đức hầu đứng  ra làm hội chủ vận động tịnh tài của thập phương thiện tín để chú tạo vào mùa Thu năm Bính Tuất, niên hiệu Minh Mạng thứ 7 (năm 1826). Nguyên văn văn tự khắc trên thân chuông  mà chúng tôi đã ghi lại được: “明 命 柒 年 歲 次 丙 戌 仲秋 穀 日 造. 重 貳 百 貳 拾 觔. 會 主 武 库 僉 事 弘 德 侯 陳 文 弘– Minh Mạng thất niên tuế thứ Bính Tuất trọng thu cốc nhật tạo, trọng nhị bách nhị thập cân, Hội chủ Võ khố Thiêm sự Hoằng Đức hầu Trần Văn Hoằng” (Chuông đúc vào mùa Thu năm Bính Tuất đời vua Minh Mạng thứ 7 – 1826, trọng lượng 220 cân, Hội chủ là Trần Văn Hoằng, chức Võ khố Thiêm sự, tước Hoằng Đức hầu).

Qua những dòng tư liệu chữ Hán quý đó cho chúng ta thấy một điều là ngài Trần Văn Hoằng là vị quan lớn quyến  mộ đạo Phật và có tiền của nên  đã có nhiều đóng góp để trùng tu chùa, đúc đại hồng chung cúng dường  chùa Hội Thượng. Vì vậy,  danh  tước ngài Trần Văn Hoằng do chùa Hội Thượng thờ tự và được đại hồng chung khắc ghi.

Lần theo chính sử, chúng tôi nhận thấy sách “Đại Nam thực lục” do Quốc sử quán  triều Nguyễn biên soạn đã dành khá nhiều trang viết ghi chép một số sự kiện lịch sử liên quan đến danh tính vị quan Võ khố Thiêm sự Hoằng Đức hầu Trần Văn Hoằng. Từ những sự kiện ấy gợi lên cho chúng ta một suy đoán, chính nhờ vào tước vị và quyền hành của mình, Võ khố Thiêm sự Hoằng Đức hầu Trần Văn Hoằng đã có sự tác động  ít nhiều để triều đình phong kiến, đứng đầu là vua Minh Mạng, dành đặc ân ban tặng cho chùa Hội Thượng chiếc vạc đồng để làm vật kỷ niệm.

Sự nghiệp  của Trần Văn Hoằng thăng  tiến dần theo sự nỗ lực của bản thân  ông qua từng nhiệm  vụ được giao. Năm Gia Long thứ 15 (1816), ông được cử làm Cai bạ Nhà đồ Bắc Thành. Đây là bước mở đầu trong  con đường hoạn lộ của Trần Văn Hoằng. Một thời gian sau, ông được thăng  dần lên chức Lang trung Võ khố. Năm Minh Mạng thứ 5 (1824), ông được cử trông coi việc ở Tạo tác cục. Năm Minh Mạng thứ 6 (1825), ông được thăng chức Thiêm sự Võ khố. Võ khố là cơ quan cơ quan cất giữ bảo quản các loại vũ khí, thiết bị của quân đội với nhiều kho tàng lớn nằm bên trong kinh thành Huế. Năm Minh Mạng thứ 7 (1826), ông được giao nhiệm vụ giữ chức Hộ lý ấn quan phòng  Võ khố. Từ đây, chúng ta có thể thấy một điều, vào thời điểm này, Trần Văn Hoằng đã đứng ra làm hội chủ vận động những người quy y cửa Phật phát tâm đóng góp tiền của đúc đại hồng chung làm pháp khí cúng dường Tam bảo chùa Hội Thượng. Tiếp đến năm 1827, vua Minh Mạng ban thưởng  cho Trần Văn Hoằng vì đã có công trong việc trông coi đúc kim bảo, ngọc tỷ – được xem là vật thể hiện quyền lực cao nhất của nhà vua. Sách “Đại Nam thực lục” có đoạn chép khá rõ: “Bắt đầu đúc ấn ‘Hoàng đế tôn thân’ (vuông 3 tấc 2 phân, dày 3 phân 6 ly), ấn ‘Sắc mệnh chi bảo’ (vuông 3 tấc 2 phân, dày 3 phân 2 ly), đều núm hình rồng cuốn, ấn ‘Khâm văn chi tỷ’, ấn ‘Duệ võ chi tỷ’ (đều vuông 2 tấc 7 phân, dày 3 phân 2 ly). Lại đúc lại ấn ‘Trị lịch minh thời’ (vuông 2 tấc 8 phân, dày 3 phân 2 ly), đều núm hình rồng ngồi. Dùng vàng mười mà đúc. Sai Bộ Lễ hội đồng với Nội vụ và Vũ khố coi việc đúc ấn. Đúc xong, buộc ấn bằng giây tơ vàng, thưởng cho thợ đúc 30 lạng bạc ; bọn chuyên biện là giám lâm Vũ khố Trần Văn Hoằng, Nguyễn Đăng Uẩn đều được thưởng một thứ kỷ lục”1.

Năm Minh Mạng thứ 9 (1828), ông được thăng chức Lang trung Nội vụ phủ. Đây là cơ quan quản lý việc chế tác và cất giữ những bảo vật, vật dụng của hoàng cung. Liên hệ đến chiếc vạc đồng chùa Hội Thượng, chúng ta có thể suy đoán vào thời gian này với chức quan Lang trung  Nội vụ phủ, ông đã có những  tác động  đáng  kể đến triều đình phong kiến triều Nguyễn dẫn đến sự kiện vua Minh Mạng ban tặng chiếc vạc đồng cho chùa Hội  Thượng. Đọc tiếp sách “Đại Nam thực lục”, chúng ta được biết đến năm Minh Mạng thứ 10 (1829), ông được vinh thăng Thị lang Nội vụ phủ2, mang hàm Chánh tam phẩm văn ban, đứng đầu quản lý Nội vụ phủ. Được tiến cử giữ chức này chứng tỏ ông được nhà vua và triều đình rất tin dùng. Nhưng một điều đáng tiếc đã xảy ra, tháng 7/1829, do ông quản lý thuộc hạ phụ trách cất giữ gương đồng ở kho Phủ Nội vụ không tốt dẫn đến sự cố có nhiều vết mờ trên gương đồng của vua Minh Mạng mua từ nước Pháp. Do vậy, Bộ Hình đưa ra xét xử vụ án và sau đó tuyên án ông vào tội đồ3. Vụ án tâu lên, vua Minh Mạng gia ân đổi làm cách chức, phát vãng làm binh ở cơ Định Man đạo Cam Lộ4. Đến đây sự nghiệp quan trường của ông không còn được viết lại trên sách Đại Nam thực lục.

Từ những thông tin nêu trên, chúng ta có thể khẳng định: chức tước của ngài Trần Văn Hoằng được ghi trên bài vị và văn khắc chuông  chùa  trùng  khớp với các sự kiện lịch sử mô tả rõ ràng trong chính sử. Trần Văn Hoằng làm quan đến chức Thị lang Nội vụ phủ. Theo các vị cao niên trong làng, Trần Văn Hoằng với vị thế của mình lúc này có thể là người đứng ra làm người đại diện của dân làng thỉnh cầu vua Minh Mạng dành đặc ân ban tặng chiếc vạc đồng cho chùa Hội Thượng để làm kỷ niệm. Vì vậy,  do những  công lao và đóng  góp lớn cho chùa Hội Thượng nên sau khi ông mất các tộc trưởng của làng Hội Thượng đã quyết định thờ linh vị ông một cách trang trọng phía sau hậu điện của chùa.

Những chiếc vạc đồng là hiện vật có giá trị đặc biệt quý hiếm. Nó là minh chứng sinh động cho kỹ nghệ đúc đồng xứ Huế đã đạt đến độ hoàn hảo vào thế kỷ thứ 19. Nếu tính thêm chiếc vạc đồng vừa mới phát hiện tại chùa Hội Thượng thì cho phép  chúng  ta có thể khẳng định rằng tại đất cố đô Huế hiện nay vẫn còn bảo lưu được 16 chiếc vạc đồng độc đáo. Tất cả những chiếc vạc này đều là bảo vật của Huế, là biểu trưng một thời cho sự hưng thịnh và phát triển của triều Nguyễn. Do trải qua nhiều biến cố thăng trầm của lịch sử, cổ vật triều Nguyễn đã bị thất lạc nhiều trong dân gian. Chắc chắn là ngày xưa, Huế không chỉ có chừng ấy vạc đồng, mà có thể nhiều hơn rất nhiều. Nhưng dù sao, với số lượng 16 chiếc vạc còn lại, Huế cũng có thể tự hào là một nơi hiện đang sở hữu số báu vật thuộc loại này phong phú nhất. ■

 

Chú thích:

  1. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 2, Nxb.Giáo Dục, Hà Nội, tr.820.
  2. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 2, Nxb.Giáo Dục, Hà Nội, tr.826.
  3. Tội đồ là tội bắt làm nô lệ cho biết nhục, kéo dài từ 1 đến 3 năm, chia làm 5 bậc, bậc thấp nhất là bị bắt làm nô lệ một năm và bị đánh 60 trượng, bậc cao nhất phải chịu mức án đồ 3 năm, phạt 100 trượng.
  4. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 2, Nxb.Giáo Dục, Hà Nội, tr.871.

Văn Hoá Phật Giáo số 210

(Visited 68 times, 1 visits today)

Tags: , ,

Category: Sưu Tầm, Trần Văn Dũng

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *