Đi Tìm Một Đấng Tối Cao

| 18/05/2013 | 0 Comments

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 15 |   TRỊNH XUÂN THUẬN  Di tim danf toi cao

Sự tiến triển của vũ trụ không phải do tình cờ may mắn, mà cũng không phải bởi một sự can dự thiêng liêng nào, Thay vào đó, chúng bị chi phối bởi luật nhân quả, trong một mối liên hệ duyên khởi, hỗ tương, bao trùm lên tất cả. Bởi vì vạn pháp không hề có thực tại độc lập chúng không thể nào ‘bắt đầu’và ‘kết thúc’ một cách thực sự như là những thực thể tách biệt. Và như thế, ý niệm về một sự khởi đầu và kết thúc của vũ trụ thuộc về tục đế chứ không phải chân đế.

Sự hòa điệu của vũ trụ

Ngành vũ trụ học đương đại đã khám phá rằng những điều kiện cho phép đời sống và trí thức xuất hiện trong vũ trụ này có vẻ như được mã hóa trong các phẩm tính của mỗi nguyên tử , tinh tú và thiên hà trong vũ trụ , cũng như có mặt trong các định luật vật lý chi phối , vận hành chúng . Vũ trụ được xuất hiện trong một hòa điệu lý tưởng như được tạo ra để dành cho một con  người quan sát thông minh có khả năng thưởng thức cái cấu trúc và sự hòa điệu này. Cái ý tưởng vừa nêu chính là cơ sở của “ nhân bản thuyết” vốn xuất phát từ danh từ “ anthropos” có nghĩa là “con người” của Hy Lạp. Về lý thuyết này, có hai nhận xét cần được đặt ra. Thứ nhất cái định nghĩa mà chúng tôi vừa trình bày chỉ liên hệ đến mặt “mạnh”của nhân bản thuyết, đồng thời cũng còn một mặt “yếu”cho là không giả định trước bất cứ ý hướng nào trong việc tạo thành thiên nhiên. Nó có vẻ rất gần với phép lập thừa ( **) – những phẩm tính của vũ trụ phải được tương xứng với sự có mặt của con người – và đây là điều mà tôi cũng sẽ không bàn thảo đến. Thứ hai , cụm từ “nhân bản thuyết” là không thích đáng bởi vì nó hàm ý rằng nhân loại là mục đích mà vũ trụ được tạo ra. Trong thực tế , những lập luận về nhân  bản thuyết có thể được áp dụng cho bất kỳ các loài có tri giác nào ở trong vũ trụ.

Đâu là cơ sở khoa học của nhân bàn thuyết ? Cách thế mà vũ trụ của chúng ta được tạo ra dựa vào hai loại dữ kiện : 1). những điều kiện sơ khởi , cụ thể như tổng số khối lượng và năng lượng mà chúng có, độ trương nở ban đầu v.v.., và 2).khoảng 15 hằng số vật lý: hằng số trọng lực, hằng số Plank, tốc độ ánh sáng, khối lượng của các hạt cơ bản không phân tách được v.v.. Chúng ta có thể đo được trị số của những hằng số này môt cách cực kỳ chính xác ., tuy nhiên chúng ta không có bất cứ lý thuyết nào để tiên đoán chúng . Bằng cách cấu trúc “những mô hình vũ trụ” với những điều kiện sơ khởi và những hằng số vật lý . Những nhà vật lý không gian đã khám phá ra một điều rằng , tất cả những yếu tố này phải được phối trí trong một trật tự cực kỳ hòa diệu : chỉ cần một sai biệt cực nhỏ trong những hằng số vật lý và những điều kiện sơ khởi này thì chúng ta hẳn đã không có mặt ở đây để nói về chúng. Cụ thể như, chúng ta hãy xem một cái tỷ trọng ban đầu của vật chất trong vũ trụ. Vật chất có một lực kéo phản ứng lại với lực tương phản của vũ trụ gây ra vụ nổ Big Bang và làm tiết giảm độ trương nở của vũ trụ . Nếu cái tỷ trọng ban đầu này quá cao, vũ trụ sẽ sụp đổ sau một thời gian tương đối ngắn ngủi – một triệu năm, một thế kỷ, hoặc một năm không chừng, tùy theo độ chính xác cua tỷ trọng. Với một sinh mệnh ngắn ngủi như thế, rất khó cho những tinh tú có thể hoàn tất được sự biến đổi hạt nhân có thể sản xuất ra những nguyên tố nặng , cụ thể như carbon vốn cần thiết cho đời sống. Ngược lại nếu tỷ trọng ban đầu của vật chất quá thấp , sẽ không có đủ trọng lực để những vì sao có thể hình thành. Và không có những vì sao, tức là không có những nguyên tố nặng, và không thể có đời sống ! Như vậy, tất cả mọi vật đều được duy trì ở trong một trạng thái quân bình hoàn hảo.Tỷ trọng ban đầu của vũ trụ phải được cố định ở một con số thật chính xác là 10^-60.Sự chính xác tuyệt vời này có thể được đem so sánh với một tay bắn cung thiện nghệ nhắm trúng mục tiêu 1 centimet vuông  , được đặt cách xa 14 tỷ năm ánh sáng , ngay tận đầu bờ vũ trụ mà khả năng ta có thể quan sát được ! Mức chính xác của sự hòa điệu biến đổi tùy theo hằng số đặc biệt hay điều kiện ban đầu. Thế nhưng trong mỗi trường hợp , chỉ một thay đổi nhỏ cũng đủ làm cho vũ trụ khô cằn, trống vắng sự sống và ý thức.

Có một nguyên lý nào chi phối cấu trúc vũ trụ ?

Chúng ta suy nghĩ như thế nào trước sự hòa diệu tuyệt vời như thế ? Với tôi như chúng ta có hai cách thế chọn lựa khác nhau : Có thể xem sự hòa điệu này là hệ quả của một tình cờ may mắn hoặc là một tất yếu ( nói theo nhan đề một cuốn sách của nhà sinh vật học Pháp , Jacques Monod. “ Ngẫu nhiên và tất yếu”, Alfred A. Knoff , New York  1971  . Nếu xem đây chỉ là một ngẫu nhiên, thì chúng ta phải mặc nhận một số lượng vô hạn những vũ trụ khác bên cạnh vũ trụ của chúng ta cấu thành cái được gọi là ‘đa vũ trụ’. Mỗi một vũ trụ này sẽ bao gồm một phối hợp của riêng mình với những hằng số vật lý và điều kiện sơ khởi. Tuy nhiên , chỉ riêng vũ trụ của chúng ta là được khai sinh ra bởi một tổng hợp hoàn chỉnh để có thể tạo nên sự sống. Tất cả đều là những kẻ thua cuộc , chỉ có chúng ta là người thắng cuộc, giống như bạn chơi xổ số vô số lần, kết cuộc có ngày bạn sẽ được trúng số. Ngược lại nếu chúng ta bác bỏ giả thiết cho rằng chỉ có một vũ trụ đơn lè, cái mà chúng ta đang sống, thế thì chúng ta phải mặc nhận sự hiện hữu của một nguyên lý về sáng tạo và điều chỉnh sự tiến triển của vũ trụ một cách tốt đẹp.

Làm thế nào để chọn lựa hai khả năng này ? Khoa học không giúp ích được gì cho chúng ta ở đây, bởi vì cho phép cả hai tình huống đều có thể xảy ra. Nếu xem đây là một tình cờ, có rất nhiều cách được đưa ra để giải thích về sự sáng tạo một đa vũ trụ. Cụ thể như , nghiên cứu chung quanh sắc xuất miêu tả về thế giới lượng tử, nhà vật lý học Hugh Everett đã đề xuất rằng vũ trụ tách ra thành vô số những cái giống hệt nhau tùy theo những khả năng và chọn lựa được thực hiện. Một vài vũ trụ chỉ khác nhau bởi vị trí của một electron trong một nguyên tử , những cái khác có thể khác biệt căn bản hơn. Những định luật vật lý và hằng số cũng như những điều kiện sơ khởi của chúng có thể không giống nhau. Một giả thiết khác cho là trong một chu kỳ tuần hoàn của vũ trụ ,đã có một loạt những vụ nổ Big Bang và Big Crunch. Bất cứ lúc nào, vũ trụ cũng được tái sinh từ đống tro tàn của mình để bắt đầu lại trong vụ nổ Big Bang mới. Nó lại được khởi đầu với một tổng hợp mới của những hằng số vật lý và điều kiện sơ khởi. Cũng còn một giả thiết khác về sự sáng tạo vũ trụ, đó là lý thuyết do nhà vật lý Andrei Linde và một số người khác đề ra, cho rằng mỗi một trong vô số lượng những đám bọt lượng tử sơ khai trôi nổi bập bềnh trong không gian đã cấu thành vũ trụ. Như thế thì vũ trụ của chúng ta chỉ là một cái bong bóng nhỏ trong một cái siêu vũ trụ được tạo nên bởi vô số những bong bóng khác . Ngoại trừ cái của chúng ta, không có cái nào trong số những vũ trụ đó nuôi dưỡng được sự sống bởi vì hằng số vật lý và những định luật của chúng đã không thích hợp.

Không hề có một Đầng Sáng Tạo

Thái độ của Phật giáo liên quan đến sự hòa điệu phi thường này như thế nào? Phật giáo có chấp nhận ý niệm có một Đấng Sáng Tạo toàn trí hay là một nguyên lý sáng tạo có khả năng điều chỉnh sự tiến triển của vũ trụ một cách tuyệt vời ? Hay Phật giáo cho rằng, sự hòa điệu chính xác và tuyệt vời của vũ trụ chẳng qua chỉ là một tình cờ may mắn? Vấn đề có hay không một Đấng Sáng Tạo là một điểm then chốt trong việc phân biệt giữa Phật giáo với các truyền thống tín ngưỡng lớn lên trên thế giới. Đối với Phật giáo, ý niệm về một ‘nguyên nhân đầu tiên’ không hề được đặt ra lý giải, do bởi ý niệm về tánh không và duyên khởi đã được bàn đến một cách rất cụ thể. Phật giáo xem là vấn đế “sáng tạo” là không liên quan, bởi vì theo họ, thế giới hiện tượng thực sự không được sinh ra, trong cái ý nghĩa là chúng trải qua tình trạng từ phi hữu trở thành hiện hữu. Chúng có mặt trong một cách thế được gọi là “tục đế” và không hề là một thực tại chân thực. Tục đế hay thực tại quy ước có mặt do sự cảm nghiệm của chúng ta về một thế giới mà chúng ta cho rằng trong đó mọi sự vật hiện hữu một cách khách quan. Phật giáo quan niệm rằng, những nhận thức như thế là sai lầm bởi vì thế giới hiện tượng, nhìn một cách rốt ráo không phải là những thực tại khách quan, có nghĩa là chúng không hề là những hiện hữu tự thân. Đây được coi là “chân đế”. Trong những ý nghĩ này vấn đề sáng tạo trở thành một vấn nạn giả. Cái vấn nạn về một “nguồn gốc nguyên thủy” chỉ bắt nguồn từ sự xác tín vào thực tại tuyệt đối của thế giới hiện tượng . Cái ý tưởng về sáng tạo chỉ cần thiết khi chúng ta tin là có một thế giới khách quan. Nó sẽ tan biến đi khi chúng ta nhận thức rằng thế giới hiện tượng, cho dù chúng ta có thể thấy chúng rõ ràng, thì đó cũng phải là một hiện hữu độc lập, “khách quan”, và một khi sự sáng tạo không còn là một vấn đề , ý niệm về Đấng Sáng Tạo cũng không còn là một yêu cầu được đặt ra .

Tuy nhiên , quan điểm của Phật giáo không hề loại bỏ cái khả năng về sự hiện bày của thế giới hiện tượng. Một điều hiển nhiên ,cái thế giới mà chúng ta nhìn thấy chung quanh mình không phài là phi hữu. Phật giáo cho rẳng, nếu chúng ta khảo xét cách thế mà chúng hiện hữu, chúng ta sẽ nhận ra ngay là chúng không thể được xem như bao gồm một loạt những thực thể độc lập, có hiện hữu tự thân riêng biệt. Nhà triết học lớn của Phật giáo Ấn Độ vào thế kỷ thứ 2, Thánh Giả Long Thọ, đã nói : “ Bản tánh của vạn pháp là duyên khởi; tự nó vạn pháp không hề có tự tánh”. Như thế, sự tiến triển của chúng không phải do tình cờ may mắn mà cũng không phải do môt sự can dự thiêng liêng nào. Thay vào đó, chúng bị chi phối bởi luật nhân quả, trong một mối liên hệ duyên khởi và nhân quả hổ tương bao trùm lên tất cả. Bởi vi vạn pháp không hề có thực tại độc lập, chúng không thể nào ‘bắt đầu’ và ‘kết thúc’ một cách thực sự như là những thực thể tách biệt. Và như thế, ý niệm về một sự khởi đầu và kết thúc của vũ trụ thuộc về tục đế chứ không phải chân đế.

Như vậy, quan điểm này phù hợp với nền khoa học vũ trụ đương đại như thế nào ? Chúng ta thấy duy chỉ có một loại vũ trụ không có khởi điểm và tận cùng là loại vũ trụ tuần hoàn với một loạt những vụ nổ vô tận của Big Bang và Big Crunch ở trong quá khứ và tương lai. Thế nhưng cái trạng huống mà trong đó vũ trụ của chúng ta tự sụp đổ vào một ngày nào đó bởi một Big Crunch có vẻ như không phù hợp với quan sát đương đại khi cho rằng mật độ khối lượng của những quang chất (0,5 % trong tổng số khối lượng và năng lượng tích chứa trong vũ trụ  , vật chất tối (29,5 % ) và năng lượng tối ( 70 % ) cộng lại với nhau chỉ là một cái tỷ trong tới hạn . Điều này có nghĩa rằng, cái hình học của vũ trụ là hình học phẳng, tức là nó sẽ trương giản đến bất tận ,và độ gia tốc trương giản này sẽ không đi đến số không sau một khoảng tời gian vộ tận ở tương lai .Như thế , với mức độ kiến thức hiện nay , có vẻ như chưa chấp nhận được ý niệm về một loại vũ trụ tuần hoàn .

Những suối nguốn của ý thức với thế giới vật chất

Bây giờ trổ lại vấn đề nhân bản thuyết. Theo như Phật giáo quan niệm, sự hòa diệu tuyệt vời của vũ trụ đủ để cho ý thức xuất hiện không hề là công trình của một Đấng Tối Cao nào cả, bởi vì nhân vật này không hề hiện hữu. Đây cũng không phải là sản phẩm của một tình cờ may mắn mà những ngưởi ủng hộ lý thuyết về một đa vũ trụ đề xuất; chúng ta có mặt và sống ỏ đây, trong vũ trụ này, chỉ là ngẫu nhiên đầy may mắn do sự phối hợp chính xác của những hằng số và điều kiện vật lý. Phật giáo cho rằng cái vũ trụ vật chất này và ý thức đã luôn cộng hữu, cái thế giới hiện tượng này phải phù hợp một cách hỗ tương, và do đó , tạo ra sự hòa diệu kỳ diệu. Cái sau sinh khởi vì vật chất và ý thức không thể loại trừ nhau, và vì bởi chúng có mối liên hệ duyên khởi. Quan điểm này phù hợp nư thế nào với khao sinh học thần kinh đương đại ? Khoa sinh vật học quả  là vẫn đang còn trên một lộ trình dài lâu mới có khả năng lý giải được nguồn gốc của ý thức. Tuy nhiên, theo quan niệm của đại đa số những nhà sinh vật học , không cần thiết giả định rằng những suối nguồn của ý thức cộng hữu với vật chất , bởi vì theo họ cái sau có thể xuất hiện từ cái trước, rằng tâm thức có thể sinh khởi từ vật chất . Tâm thức phát sinh một khi mà hệ thống của những tế bào não bộ trong các sinh vật đạt đến ngưỡng cửa củ một phức hợp. Trên quan điểm này, ý thức đã xuất hiện, cũng giống như sự sống , từ sự phức hợp của những nguyên tử vô sinh.

Đến đây, một câu hỏi được đặt ra: Một khi Phật giáo cho rằng ý thức vượt qua tình trạng vật lý, phải chăng Phật giáo cũng rơi vào chủ nghĩa nhị nguyên tâm –thân phân lìa của Descartes. Qua đó cho rằng, có hai loại thực tại, một của tâm (hay tư tưởng ) và một của thế giới vật chất ? Câu trả lời là không. Quan điểm của Phật giáo hoàn toàn khác biệt từ căn bản với chủ nghĩa nhị nguyên của Descartes. Chỉ có một sự khác biệt trên mặt tục đế giữa vật chất và ý thức, bởi vì điểm tận cùng, cả hai đều không có một hiện hữu tự thân. Bởi vì Phật giáo bác khước cái thực tại rốt ráo của thế giới hiện tượng, nó đồng thời cũng bác khước luôn cái ý tưởng cho rằng ý thức là độc lập và hiện hữu tự thân.

Tài liệu tham khảo :

1-         Goleman  Daniel . ed , Healing Emotions Conversations with the Dalai Lama on Mindfulness, Emotions and Heath , Boston , Shambhla Publications . 1997 .

2-         Destructive Emotions : A scientific Dialodue with the Dalai Lama , New York . Bantam  Doubleday , 2002.

3-         Hayward , Jeremy W, Shifting Worlds Changing Minds : Where the Sciences and Buddhism Meet Boxton , Shambala  Publications 1987 .

4-         Houshmand , Zara , Livingston , Robert B , Wallace , B Alan eds . Consciousness at the Crossroads Conversations with the Dalai Lama on Brainscience and Buddhism Ithace , New York , Snow Lion Pulications , 1999.

5-         Verela,Francisco J.ed Sleeping, Dreaming and Dying : An Exploration of Consciousness with the Dalai Lama . Boston .Wisdom Publications, 1997.

6-         Valera, Fracisco J,and Hayward Jeremy , eds , Gentle Bridges : Conversations with the Dalai Lama on the sciences of Mind , Boston . Shambhala Publications , 2001 .

7-         Zajonc , Arthur m ed, The New Physics and Cosmology : Dialogues with the Dalai Lama , New York , Oxford Univerity Press , 2004 .

8-         Ngoài ra môt số công trình khác thảo luận về những  mối tương quan giữa khoa học và Phật giáo .

9-         Wallace , B Alan , The Taboo of Subjectivity : Toward a new science of consciousness , New York , Oxford University Pfess 2000 .

10-    Ed , Buddhism and Science : Breaking New Ground , New York , Columbia University Press , 2003 .

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 15 |   TRỊNH XUÂN THUẬN

(Visited 94 times, 1 visits today)

Tags: ,

Category: Sưu Tầm, Trịnh Xuân Thuận

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *