Hạnh phúc và mùa Xuân của Bạch Vân cư sĩ

| 23/02/2016 | 0 Comments

Hà Thúc Hoan

hanh-phuc-mua-xuan-Bachvan-cusi

Trong tập san Văn Hóa Phật Giáo số 95, ra ngày 15/12/09, tác giả Nguyễn Thế Đăng đã mở đầu bài viết Tản mạn về tiếng Việt bằng cách trích dẫn bài thơ vịnh cảnh nhàn của Bạch Vân cư sĩ Nguyễn Bình Khiêm:

Một mai một cuốc một cần câu,
Thơ thẩn dù ai vui thú nào,
Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn người đến chốn lao xao,

Thu ăn măng trúc đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao,
Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp,
Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”.

Ở bài nói trên, Nguyễn Thế Đăng chỉ mượn thơ nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm để dẫn người đọc vào bài nghị luận trình bày những kiến thức khái quát về “Phép lạ của ngôn ngữ”. Ở đây, chúng tôi phân tích tác phẩm này để tìm hiểu Hạnh phúc và mùa Xuân của Bạch Văn cư sĩ.

Bạch Vân cư sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585) từ thời thơ ấu đã được mẹ là con gái Hộ bộ Thượng thư họ Nhữ và cha là Thái học sinh Nguyễn Văn Định giáo huấn, sau đó theo học với danh nho đương thời là Bảng nhỡn Lương Đắc Bằng. Lớn lên, gặp buổi Lê suy, chính sự đổ nát, Nguyễn Bỉnh Khiêm không đi thi, chỉ ngồi nhà đọc sách và dạy học. Mãi đến năm 44 tuổi, dưới triều Mạc Đăng Doanh, Nguyễn Bình Khiêm mới lai kinh ứng thí và đậu Giải nguyên, năm sau dự kỳ thi hội và đỗ Trạng Nguyên . Được vua nhà Mạc trọng dụng, làm quan đến chức Lại bộ Tả thị lang, dâng sớ xin trị tội 18 lộng thần mà vua không nghe. Nguyễn Bỉnh Khiêm xin về trí sĩ sau 8 năm tham dự việc triều chính. Có một lần vua Mạc Phúc Hải khẩn khoản với Nguyễn Bỉnh Khiêm hồi triều với chức Công bộ Thượng thư, song ông lại xin về ngay để vui sống với cảnh nhàn cho đến lúc mất vào năm 95 tuổi.

Tóm lược tiểu sử tác giả như trên chúng ta mới hiểu hết ý nghĩa của hai câu đề. Quan nhất phẩm triều đình hồi hưu mà không ở nhà cao cửa rộng để gia nhân hầu hạ 2, đến khi xuất hiện trên trang thơ thì không thấy mặc áo gấm hay đeo bài ngà Thượng thư. Thật là ngạc nhiên đến thích thú khi chúng ta nhìn thấy ở đây hình ảnh một Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm bình dị với nhiều dụng cụ lao động:

Một mai một cuốc một cần câu,
Thơ thẩn dù ai vui thú nào”.

Thế mới biết ở vị đại thần đã hưu trí này, ở nhà trí thức lỗi lạc của thế kỷ XVI này, không hề có sự phân chia giàu với nghèo, quan với dân, lao động chân tay và lao động trí oc. Qua đó chúng ta được biết tuy sống với cảnh nhàn nhưng “người học trò già”3 Nguyễn Bỉnh Khiêm không quên lao tác như một lão nông hay một ngư ông. Tuy nhiên, điểm khác biệt ở đây là nhà thơ nhàn không lao động cần cù, vất và như một ngư phủ hay nông dân thứ thiệt. Nhà thi sĩ chỉ “thơ thẩn”…Từ láy điệp phụ âm đầu “thơ thẩn”này, chúng ta không nên hiểu theo nghĩa luân lý mà chỉ nên hiểu theo nghĩa triết lý. “Thơ thẩn”là không gấp gáp bước chân, đã thôi rong ruổi kiếm tìm. “Thơ thẩn” là thong dong cất những bước chân an lạc và thảnh thơi, “vì đã về, đã tới, bây giờ và ở đây”…

Sau Nguyễn Bỉnh Khiêm ba thế kỷ, Giải nguyên Nguyễn Công Trứ dùng cách chiết tự để định nghĩa “nhàn”là tĩnh, trái với “náo”có nghĩa là động 4. Viết hai câu thực, Nguyễn Bỉnh Khiêm diễn tả tự nhiên, dung dị chủ đề cảnh nhàn với ý nghĩa vừa nêu:

Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,
Người khôn người đến chốn lao xao”.

Nơi vẳng vẻ”là cảnh nhàn thanh tĩnh, vô vi. Đó là thiên nhiên với cây cỏ tươi xanh, thôn xóm hiền hòa, ruộng đồng quang đãng mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã từng sống gắn bó từ khi còn thơ ấu cho đến năm 45 tuổi. Đó là Bạch Vân am, nơi nhà hiền triết quy ẩn từ năm 53 tuổi để sống bình dị, thanh cao cho đến cuối đời. “Chốn lao xao” là chỗ ồn ào, náo nhiệt. Đó là cuộc trần ai vinh liền nhục, khóc lẫn cười. Đó là chốn triều đình với nhiều phép tác, lễ nghi ràng buộc mà Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tạm dung thân trong 8 năm, sau đó nhà thi sĩ – đạo sĩ đã cáo quan về hưu để lại trường danh lợi cho 18 lộng thần tranh giành tiền tài và chức vị.

Dưới con mắt của phần đông người đời, Nguyễn Bỉnh Khiêm bị cho là “dại”vì đã từ bỏ quyền cao chức trọng cùng với bỗng lộc hậu hĩ của Nhà Mạc để trở về làng quê sống cuộc đời dân dã, thanh bạch. Cái “dại”này cũng có chỗ tương đồng với cái “dại” của Phật hoàng Trần Nhân Tông khi từ bỏ ngai vàng như ném một chiếc giày rách để lên núi Yên Tử sống đời đạo hạnh của bậc chân tu. Như Tinh Giới thiền sư đời Lý đã “Kham tiếu thiên gia si độn khách”5, Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm nhờ biết “Ngu dại chan chan tính đã quen”6 nên đã tìm thấy hạnh phúc chân thật. Những ai suốt đời chỉ biết chạy theo tiền tài và địa vị để đốt cháy đời mình bằng lửa dục vọng như con thiêu thân tự hủy diệt bằng cách lao vào ngọn lửa đỏ, những ai đó sẽ không thể nào hiểu được hạnh phúc của những xuất trần thượng sĩ đã chấp nhận cái “dại”hiền triết này.

Bạch Văn cư sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm đã trao truyền cho hậu thế nghệ thuật sống để hưởng nhàn, để có hạnh phúc chân thật qua hai câu luận có hình thức giản dị mà nội dung hàm ẩn ý nghĩa sâu sắc như một công án của thiền gia:

Thu ăn măng trúc đông ăn giá,
Xuân tắm hồ sen hạ tắm ao”.

Vào mùa thu, cây tre non sinh trưởng, Nguyễn Bỉnh Khiêm “ăn măng trúc” vừa ngon miệng vừa yên lòng vì thức ăn có nhiều chất xơ này dễ kiếm và có lợi cho sự tiêu hóa của người già. Sang đông măng không còn mọc nữa thì nhà thơ nhàn “ăn giá  cũng là thứ thực phẩm tươi non, nhiều dưỡng chất và dễ tìm mua như măng trúc trước đây. Thu mát, đông lạnh nên nhà hiền triết quan tâm việc ẩm thực để thân thể có đủ nhiệt lượng. Đến mùa xuân khí trời đã ấm áp, vào mùa hạ thời tiết quá nóng bức, cho nên thú vui của nhà thi sĩ – đạo sĩ chuyển đổi từ ăn ngon sang tắm mát. Mùa xuân, Nguyễn Bỉnh Khiêm cảm thấy hạnh phúc khi được tắm mát trong hồ sen trong xanh và sâu rộng. Sang mùa hạ mà vẫn còn xuống “tắm hồ sen” để thỏa sức vẫy vùng thì người ta phải chịu khổ đau vì bị gai của cây sen làm cho xây xát, ngứa ngáy. Cho nên, để làm dịu cái nóng bức của mùa hè, cụ Trạng Trình thảnh thơi, vui thú với làn nước mát của ao nhà.

Nghị luận về hạnh phúc, các thầy giáo, cô giáo thường yêu cầu học sinh định nghĩa hạnh phúc mà không biết rằng định nghĩa không khéo thì người ta có thể bắt đầu mất hạnh phúc. Khi một sinh viên khẳng định hạnh phúc của đời tôi là có được cái bằng tiến sĩ thì ta biết ngay từ phút ấy người bạn trẻ không có hạnh phúc vì chưa có bằng tiến sĩ. Miệt mài học tập, viết luận án và tổ chức bảo vệ luận án là những việc làm hao tâm tổn trí mà khi có học vị tiến sĩ rồi không có nghĩa là hạnh phúc đã tìm thấy! Cho nên người trí không tự ràng buộc vào một khái niệm về hạnh phúc mà biết tổ chức cuộc sống một cách khôn ngoan, linh hoạt và thích ứng như Nguyễn Bỉnh Khiêm để có hạnh phúc trong mọi hoàn cảnh. Đó chính là triết lý sống tùy duyên đã được Phật hoàng Trần Nhân Tôn thể hiện trong “Cư trần lạc đạo phú”:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,
 Cơ tắc xan hề khốn tắc miên”7.

Cao Bá Quát, một nho thần có tư tưởng tiến bộ và ý thức phản kháng đời Nguyễn, đã vẽ nên bức tranh thảm hại của lớp người áo mũ xênh xang với quyền cao chức trọng ở triều đình:

Mũ cánh chuồn đội trên mái tóc, nghiêng mình đứng chực cửa hầu môn;
Áo giới lân trùm dưới cơ phu, mỏi gối quỳ môn sân tướng phủ”8.

Nhìn thấy hoạt cảnh nhục nhã của bọn tham quan ô lại chỉ giỏi việc nịnh bợ, luồn cúi để cầu danh lợi, chúng ta hiểu rõ hơn phẩm cách thanh cao, phong thái ung dung, cuộcsống tự do và hạnh phúc của nhà hiền triết Nguyễn Bỉnh Khiêm khi đã biết từ bỏ “chốn lao xao” để trở về “nơi vắng vẻ”. Ở đó, nhà hiền triết khẽ nâng ly rượu nồng giữa đất trời, nhẹ lòng buông bỏ công danh cùng với những ham muốn vật chất tầm thường, sống giao hòa mật thiết với thiên nhiên cao rộng, trở thành một nốt nhạc trong bản nhã ca vĩ đại của vũ trụ:

Rượu đến gốc cây ta sẽ nhấp,
 Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”.

Phần đông người đời nay đang uống bia bằng ly cối, uống rượu bằng chén tống, uống liên tục không kể ngày đêm, uống trong phòng khách của gia đình chưa đủ thì uống tiếp trong phòng lạnh của nhà hàng, giữa những tiếng “dô”, “dô” ồn ảo hay trong tiếng nhạc đinh tai nhức óc của cái máy phóng thanh đã được sử dụng với công suất tối đa. Trái lại, thưởng thức một trong bốn lạc thú thanh cao của người xưa là cầm, kỳ, thi. Tửu. Nguyễn Bỉnh Khiêm uống rượu với cái ly nhỏ bằng hạt mít, “sẽ nhấp” từng chút hương vị cay nồng, dưới bóng mát của cây xanh là cái máy điều hòa tuyệt hảo của thiên nhiên. Tửu đạo ấy giúp khí huyết người già lưu thông, làm cho tâm trí người lớn tuổi trở nên sảng khoái, minh mẫn để nhận biết tính mong manh, bèo bọt, phù du của vinh hoa phú quý ở đời. Từ đó nhà thi sĩ – đạo sĩ chọn cách sống vị tha vô ngã, chẳng vì công, chẳng vì danh, chỉ vì người khác và cho người khác. Với lý tưởng sống cao đẹp ấy, trí tuệ, tài năng và đức hạnh của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm bao trùm cả thế kỷ XVI, sáng đẹp mãi trong văn học và lịch sử nước nhà 9.

Chịu ảnh hưởng của tư tưởng và học thuật phương Tây, nhiều tác giả Việt Nam cận và hiện đại đã nghĩ rằng người ta chỉ tìm thấy sức sống trong mùa xuân và hạnh phúc khi còn tuổi trẻ. Hậu quả của nhận thức thiếu khôn ngoan này là ngay khi còn có tuổi trẻ và mùa xuân, người ta cũng không được sống hạnh phúc trọn vẹn, vì lo sợ tuổi xuân qua mau và cảnh già nua lụ khụ sẽ đến:

Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,

      Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già,

      Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất” 10.

Triết gia phương Đông không quan niệm hạnh phúc chỉ có trong mùa xuân và với tuổi trẻ. Sống có đạo đức để lòng thanh thản, sống tùy duyên để tâm được an vui, với cuộc đời sáng đẹp như một áng mây trắng trên trời xanh, ở đâu Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng tìm thấy hạnh phúc và với lứa tuổi nào Bạch Vân cư sĩ cũng có mùa xuân:

Lòng thử hỏi lòng không hổ thẹn,
Đến đâu thì cũng có xuân phong”11

Chín mươi thì kể xuân đã muộn,
  Xuân ấy qua thì xuân khác còn”12.■

 

Chú thích:

  1. Nguyễn Bỉnh Khiêm, Bạch Vân quốc ngữ thi (BVQNT), bài số 18.
  2. Nói chung là như vậy. Riêng Nguyễn Bỉnh Khiêm, chúng tôi nghĩ nhà hiền triết không cần và cũng không thể có cửa cao nhà rộng, vì phần lớn tài sản có được sau 8 năm xuất chinh của ông quan thanh liêm đã được dùng làm từ thiện như xây cầu Nghinh Phong và Trường Xuân để nhân dân đi lại thuận tiện, dựng quán Trung Tân ở bên đường để khách bộ hành nghỉ chân và đọc bài văn Trung Tân quán ký của tác giả.
  3. Cách nói khiêm tốn của Nguyễn Bỉnh Khiêm khi viết bài tự Tập thơ am Bạch Vân.
  4. Thị ( ) tại môn ( ) tiền, náo ( )/ Nguyệt ( )lai môn ( )hạ, nhàn ( ). (Chợ họp trước cửa là náo. Trăng treo dưới cửa là nhàn).
  5. Câu thơ này, học giả Ngô Tất Tố dịch là: “Chỉ cười cho mình là kẻ ngây độn ở cửa thiền” (Văn học đời Lý. Nxb Khai Trí, Sài Gòn 1960, tr 91)
  6. Nguyễn Bỉnh Khiêm, BVQNT, bài số 50.
  7. Ở đời vui đạo hãy tùy duyên,Hễ đói thì ăn, mệt ngũ liền
  8. Cao Bá Quát, Tài tử đa cùng phú.
  9. Nguyễn Bỉnh Khiêm đào tạo cho đất nước nhiều nhân tài như Trạng nguyên Giap Hải, Trạng Bùng Phùng KHắc Khoan, danh sĩ Lương Hữu KHánhv.v…Những người học trò giỏi này của Bạch Vân cư sĩ đã để lại dấu ấn xuyên suốt thế kỷ XVII. Chỉ một câu nói “Hoành Sơn nhất đái vạn đại dung thân”. Trạng Trình đã chỉ lối cho Nguyễn Hoàng tiến về Nam, góp công đầu vào việc mở mang bờ cõi rộng lớn như ngày nay.
  10. Xuân Diệu, Vội vàng
  11. Nguyễn Bỉnh Khiêm, BVQNT, bài số 46
  12. Nguyễn Bỉnh Khiêm, BVQNT , bài số 41.

ky-niem-Bach-Van-Cu-siTạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 98-99Xuân

 

(Visited 262 times, 1 visits today)

Tags: , , ,

Category: Hà Thúc Hoan, Sưu Tầm

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *