Nghiệp văn tự

| 09/04/2014 | 0 Comments

Tạp Chí Văn Hóa Phật Giáo số 15 | VŨ THẾ NGỌC

nghiep-van-tuViết sách làm báo  khá lâu nhưng  cho đến khoảng  1969 khi chuẩn  bị xuất bản  nhật báo Sóng Thần ở Sài Gòn tôi mới biết đến nhóm  người  rất  quan  trọng  trong  nghề sách báo là những người thợ sắp chữ. Thủa đó công đoạn sắp chữ là một công việc thủ công nghệ vô cùng tỉ mẩn. Mỗi chữ được ráp lại bằng từng hoạt tự (chữ rời a b c và là chữ ngược) cũng lại phải sắp ngược, thí dụ chữ ‘Tối’ thì phải sắp ngược ba hoạt  tự /i/ô/T/ (và thêm  dấu huyền, tức là dấu sắc ngược) để khi in ra mới thành ‘Tối’. Từng chữ từng chữ được ráp lại rồi bó chung  theo  hàng, tập hợp thành  cột, thành  trang (sách) hay mảng lớn (trang báo).

Mỗi nhà in hay nhà báo đều phải có một nhóm thợ sắp chữ riêng. Lúc đó cũng là thời gian ở miền Nam thanh niên phải đi quân dịch, nên đại đa số nhân viên sắp chữ là các em thiếu niên, có em mới chỉ có 12, 13 tuổi. Nhìn các em lấm luốc trong  mực đen, chui rúc dưới mái tôn nóng bỏng thường ở tận tầng thượng cao nhất hay trong phòng tối tăm nhất tại tòa soạn hay nhà in, người ta có thể thấy ngay trước mắt hoạt cảnh khai thác nhân công trẻ thơ trong văn chương của Charles Dickens thời cách mạng kỹ nghệ Tây phương. Các em thợ sắp chữ đi lại chen chúc trong không khí nóng nực trước hằng trăm hộp đựng chữ để chọn từng mẫu tự. Có rất nhiều hộp, vì là hoạt tự nên các chữ được phân loại thành  khổ chữ (size) và loại (font). Các em nhỏ thường  chỉ sắp được vài ba câu ngắn, rồi lại đưa cho một em lớn hơn và cũng ‘có tay nghề cao hơn’ đọc sơ lại rồi dồn thành từng cột, ghép lại thành trang… Đương nhiên không có máy móc nào trợ giúp ở đây, sắp chữ hoàn toàn là việc thủ công sắp tay, không những thế, chỉ cần bỏ một chữ hay thêm một chữ, là lập tức có ảnh hưởngdây chuyền đến toàn cột, toàn trang…

Sau khi được sắp thành  trang hay một phần trang, sếp typo, tức trưởng nhóm sắp chữ, làm thử “bản vỗ” chuyển cho “thầy cò” để đọc lại sửa lỗi. Bản in thử này gọi là ‘bản vỗ’ vì chỉ là tờ giấy bản vỗ nhẹ trên một đoạn hay một trang vừa được sắp chữ, có in chữ lờ mờ đóng chìm vào mặt giấy bản. Sau khi thầy cò đọc và sửa lỗi, toàn bộ trang báo (hay nhiều trang sách của một mặt in) mới được sắp thành  một bản như một trang  báo hoàn toàn bằng thép sắt (gồm các chữ ghép bằng hoạt tự đã được chèn  chặt với nhau, những  khoảng  cách giữa hai chữ là các miếng sắt giống như các hoạt  tự nhưng ngắn hơn, nghĩa là không có chữ). Khi sẵn sàng cho in, người ta mới đổ bản chì, là nguyên cả một bản đúc chì cho máy in typo (sau này là bản phim cho máy in offset). Bản đúc chì thì được ráp vào máy in (mực lăn trên mặt chữ và in vào mặt giấy in). Còn các chữ nguyên  thủy được tháo rời trở lại, các thợ sắp chữ lại phải trả lại từng mẫu tự (hoạt tự), bỏ trở lại các hộp đựng chữ như cũ, để tiếp tục dùng lại…

Không ngờ duyên nghiệp  con chữ lại theo đuổi tôi qua cả một không gian, thời gian và cả hoàn cảnh khác hẳn. Vào cuối thập niên 1970’s. Đang thong  dong làm kỹ sư ở Silicon Valley ‘thung lũng hoa vàng’, có nhiều “ma dẫn lối quỉ đưa đường” khiến tôi lại phải tự ý làm thêm việc viết sách làm báo, một “nghề chơi” vừa tốn tiền vừa tốn sức khủng khiếp.

Bấy giờ không  có các em  thợ  sắp  chữ như  ngày xưa; phải thay công việc của khâu này tôi càng nhớ và thấm thía nghiệp dĩ của mấy em nhỏ thời ấy. May còn có anh Nguyễn Kim Bảng, một ‘thiên tài đánh máy’ trợ giúp phần đánh chữ với giá cả ‘văn nghệ’ vì anh “lãnh lương” nhà nước ở nhà coi bốn con đi học và người vợ ốm đau. (Bảng về sau trở thành  một “danh nhân” với một đám tang lớn nhất của người Việt ở hải ngoại, đám tang còn lớn hơn đám tang của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ở trong nước vì có tới bốn năm ngàn người đeo tang trắng hẳn hoi – đã có người khai thác chuyện đời anh trong vài bút ký). Mỗi ngày cơm nước xong, con cái tôi (và của Bảng) đã đi ngủ tôi mới chạy lại anh, hai anh em làm việc chung đến nửa khua về sáng, đều đặn hai ba đêm mỗi tuần (hai ba đêm khác là dạy điện tử giúp cho người Việt mới qua). Nơi đó chúng  tôi “tranh tài”, tôi không có tài đánh máy như anh nhưng viết nhanh (và viết dối) vô địch. Vừa viết loạn cào cào kinh tế văn học, vừa dịch tin báo tây, báo tầu … mệt  thì giải trí bằng  cách dịch vài bài thơ cổ… Nhưng vẫn thua  xa Bảng. Anh vừa đánh máy hầm bà lằng mọi thứ tạp lục của tôi với tốc độ ‘siêu tốc’ vẫn còn thừa cái miệng để nói chuyện (và sau này là vừa đánh bài vừa nói chuyện điện thoại xin quảng cáo khi anh làm nhật báo). Nhưng thiên tài của anh mà tôi phục nhất là đọc được cái chữ “siêu tốc” của tôi. Gọi là siêu tốc vì bài viết của tôi ngay tại lúc sáng tác thì tôi còn đọc ra, nhưng “nguội” đến ngày sau là chính tôi cũng chịu thua, nhưng  Nguyễn Kim Bảng nhà ta vẫn đọc ra được.

Nhưng làm báo làm sách thời đó vẫn có những cái khó. Mặc dù không phải sắp chữ như ở Việt Nam trước đó vì chữ đã được in ra bằng máy typesetting, nhưng chữ không có dấu tiếng Việt. Máy in chỉ in ra trên giấy loại giấy láng chụp hình, nên phải dùng loại bút riêng chấm mực đen để đánh dấu. Đây là công đoạn gian nan khác. Việc đánh dấu tiếng Việt này vừa bẩn tay vừa phải khéo tay, nhưng  không  cần “kiến thức” hay “chuyên nghiệp” nào. Hầu như “ai cũng làm được”. Nhưng chính đây mới là việc cười ra nước mắt của những người làm sách làm báo  thời đó ở ngoại  quốc. Vì  đánh  dấu  là việc ai cũng làm được, nên thông thường  chẳng ai dò chừng theo bản thảo viết tay. (Riêng bản thảo viết tay của tôi thì có cũng như không). Các chuyện có thật mà không còn làm ai cười, trừ đương sự – nhân vật và tác giả – như “người đàn bà đảm đang” biến thành “người đàn bà dâm đãng” chỉ vì người đánh dấu chẳng ai buồn dò theo bản thảo.

Khoảng đầu  thập  niên  1980’s Nguyễn  Kim  Bảng xoay xở có được mẫu in typesetting đầu tiên có dấu tiếng Việt. Anh có thời gian ngắn kiếm khá tiền là vào thời này chỉ một mình anh có máy typesetting đánh được dấu (và giấu rất kỹ ‘bí kíp nghề nghiệp’ này trong một thời gian). Gian nan vẫn chưa hết, vì giấy phim in ra đã có dấu tiếng Việt nhưng trên màn ảnh chúng ta vẫn chưa thấy tiếng Việt (wysiwyg)*. Thí dụ dù in ra phim có đủ dấu “tôi là người Việt” nhưng trên màn hình vẫn chỉ thấy đại khái như “towi laz nguwowzi viewzt”. Vì thế sách báo vẫn tiếp tục có nhiều lỗi. Sách của tôi có lẽ là có nhiều lỗi hơn vì sách in sớm mà cá nhân tôi quá bận (và lười). Kỷ niệm ở đây là hai việc. Việc thứ nhất là học giả Đỗ Thông Minh ở Nhật, anh công phu viết cho tôi một danh sách dài liệt kê hơn 40 lỗi của quyển Nghiên cứu chữ Hán và tiếng Hán Việt, một bài báo khác là của một bạn chửi rủa thậm tệ về các lỗi của quyển Bồ Đề Đạt Ma. Cả hai người tôi đều có chỗ cám ơn riêng.

Sách báo của tôi xuất bản ở Hoa Kỳ nhờ có NKB nên thường là sách tiếng Việt đầu tiên có dấu. Trước đó có thể có người có in sách trông như dùng bộ chữ có dấu, nhưng  nhìn kỹ là người in tự đánh dấu quá khéo. Có người tưởng vì tôi là kỹ sư nên nghĩ tôi đã giúp gì cho NKB để anh ta có bộ dấu tiếng Việt, vì NKB cũng không biết cả tiếng Anh để đi giao tiếp bên ngoài. Đây chính là “thiên tài ngoại giao” của anh. Nên nhớ NKB là người ra NHẬT BÁO tiếng Việt đầu tiên ở ngoại quốc. Anh làm một lúc hai tờ nhật báo ở San Jose và D.C. Riêng tôi, cho đến nay (2012) vẫn rất lơ mơ về việc đánh chữ Việt hay nhập chữ  Hán chữ  Phạn. Nhưng rất may là ngày nay computer đã quá tiến bộ.

Nhân ngày đầu năm, tôi cùng ông bạn tay hòm chìa khóa của Tạp chí VHPG đến thăm một ngôi chùa nhỏ ở An Phú Đông, mà vị trụ trì cũng là dân Vạn Hạnh cũ. Anh Trần Tuấn Mẫn còn nhắc đến thời làm Tổng Thư ký Học viện Phật giáo Việt Nam tại TP.HCM, vào đến cuối thập niên 1990 mà mỗi lần cần in có vài chữ Hán cũng còn phải đến tận báo SGGP để nhờ đánh giùm vài chữ mang về. Thấy ngài trụ trì ngạc nhiên, tôi mới nhớ lại hai quyển Đường thi (tập 1 và tập 2) dịch in trước đó ở Hà Nội của toàn các bậc thầy trong nghề dịch thuật mà cũng không có chữ Hán. Ba quyển Thơ văn Lý Trần của nhà nước sau đó được chuẩn bị rất công phu (gồm các chuyên viên rất giỏi Hán văn tuy nhiên không có ai hiểu về Thiền học cả). Cả ba quyển rất bề thế nhưng phần chữ Hán cũng chỉ là viết tay vừa xấu xí vừa lem nhem khó đọc. Chẳng bù với sách báo ngày nay, như một báo tư rất đẹp (Suối Nguồn) của tu viện Huệ Quang tôi mới được đọc trong ngày Tết vừa qua.

Tam tạng  kinh điển Hán văn và Pali ngày nay nằm gọn trong chiếc máy điện toán con con. Tạng Sanskrit, Tây Tạng và các ngôn ngữ khác kể cả tiếng Việt thì vẫn còn phải dùng internet  nhưng rất tiện lợi mà chính tôi vẫn dùng  thường  xuyên dù thường  ở trên vùng núi không người. Mỗi lần giở một trang kinh cũ, dù trên giấy trắng  hay trên màn hình, tôi không khỏi mơ hồ nghĩ đến thời các vị cổ đức xa xưa trong những  cuộc hành  trình thỉnh kinh cam khổ chết người. Ngày nay chúng  ta chẳng  cần lẩn trốn  trên Tàng  kinh các để đọc kinh như truyện của Kim Dung, toàn bộ Tam tạng thánh  thư  thâm  viễn hiện  ra chỉ trong  vài nút  gõ… nhưng dường như con người càng ngày lại càng xa lạ với chúng hơn bao giờ.

Tự về hưu thật sớm, hơn mười năm trước tôi tự nghĩ mình khôn ngoan  khác người vì còn sức khỏe du lịch rong ruổi. Và thật sự có tự hào hơn người vì trong quãng đường  còn lại mình còn thú vui với văn tự sách vở… Nhưng gần đây mới thấy gần mười ngàn quyển sách trong  ngôi nhà nhỏ ở thung  lũng hoa vàng lại chính là sợi xích vô hình nhưng có thật vẫn tiếp tục cột chân mình… Tôi chợt nhớ cụ XXX, người tự treo cổ sau khi đá đổ đám kinh điển ông kê làm thang dưới chân…

Vì vậy đoạn văn này tôi gọi là Nghiệp ư với nghĩa đen của nó.

Chú thích

* wysiwyg là viết tắt của what you see is what you get, nguyên là tên của một chương trình ứng dụng trên computer, ở đây đại ý nói, điều nhìn thấy đã là kết quả cuối cùng rồi.

(Visited 108 times, 1 visits today)

Tags: , , , , , ,

Category: Sưu Tầm

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *