Nội dung tuồng tích “trong chay ngoài bội” (Kỳ 2)

| 24/09/2013 | 0 Comments

Tạp Chí Văn Hoá Phật Giáo số 40 | Huỳnh Ngọc Trảng   (Tiếp theo VHPG số 39 và hết)

trong-chay-ngoai-boi

II.  ĐỌC LẠI NỘI DUNG MỘT SỐ TUỒNG ĐÁM

Tuồng đám trong hình thức chay bội có nhiều loại khác nhau: một là có thể có loại tuồng đồ hài hước,châm biếm thói hư tật xấu phổ biến chung cho sân khấu đời lẫn đạo; hai là loại tuồng chuyện đời ý đạo, dưới cái dạng phồn tạp thế tục, hàm chứa ẩn ý về đạo pháp; và ba là, loại tuồng có nguồn gốc từ Phật thoại, từ tín lý Phật giáo.

1. Loại tuồng có nguồn gốc từ Phật thoại có vở Mục Liên Thanh Đề (bắt nguồn từ tích Mục Kiền Liên cứu mẹ thoát khỏi ngạ quỷ trong kinh Vu Lan Bồn), vở Tam Tạng thỉnh kinh (Tây du ký); đặc biệt đáng chú ý là Quan Âm giáng thế. Đây chính là loại “tuồng đám” chính hiệu bởi nội dung của nó thể hiện trực tiếp tín lý của tín ngưỡng thờ vị “Tầm thinh cứu khổ” Bồ tát và việc biểu diễn tuồng này cũng có phần gắn bó hữu cơ với việc thực hành nghi lễ (Đàn Quan Âm-Thổ Địa).

Cốt truyện của vở tuồng này khá đơn giản: Bồ tát Quan Âm nghe lời khấn nguyện hồng danh của mình liền giáng thế đến chứng lễ. Xuống đến trần gian, để đến đúng nơi đang thiết lễ trai đàn, Ngài bèn gọi Thổ Địa và Thổ Kỳ đến dẫn đường. Cốt truyện là vậysong nội dung vô cùng phong phú, bởi trên đường đi, hai thần chưởng quản đất đai là Thổ Địa và Thổ Kỳ “sinh sự” nhiều mảng trò hài hước, kéo mọi việc xuống đời và kéo dài vở diễn đến một hai giờ. Một cách tổng quát, tuồng Quan Âm giáng thế là anh em song sinh với chặp bóng tuồng Địa Nàng (Ông Địa và Tiên nương của Tây Vương Mẫu) trong lễ cúng miễu; tức chúng có chức năng kép: vừa phổ truyền tín lý, vừa đáp ứng nhu cầu vui vẻ thưởng ngoạn của người dự lễ (1).

2. Khác với tính chất biểu hiện trực tiếp các thông điệp tín ngưỡng của loại tuồng đám nói trên, loại tuồng “chuyện đời ý đạo” là những bức tranh biếm họa các thói hư tật xấu thế tục và dưới tầng nghĩa bề mặt đó là các thông điệp giới ác khuyến thiện theo luân lý nhà Phật. Chính vì sự khuất lấp đó mà xưa nay loại tuồng này được ghép chung vào loại tuồng đồ, tuồng dân gian-khác với tuồng pho, tuồng thầy chủ vào xu hướng tôn vinh giá trị trung hiếu tiết nghĩa của Nho gia. Trong danh mục tuồng đồ ấy, các vở tuồng Ông Trượng-Tiên Bửu, Trương Ngảo, Trương Đồ Nhục là những sáng tác ẩn chứa tư tưởng Phật giáo rõ rệt, nếu được nhìn dưới sự phân giải và đối chiếu với giáo lý Phật giáo (2).

Tuồng Ông Trượng-Tiên Bửu, đúng ra là một bản “thơ tuồng” (loại sáng tác kết hợp thể văn vần lục bát với các thể văn của kịch bản tuồng dùng để Nói tuồng: Một diễn viên duy nhất vừa nói thơ vừa hát các bài hát bội (nói lối, bạch xướng, hát nam, hát khách…). Nội dung gây cười chủ yếu của sáng tác này là những lời đối đáp chọc ghẹo khiếm nhã, thậm chí là táo tợn, của Ông Trượng 85 tuổi với Tiên Bửu, cô gái chèo đò 15 tuổi. Song đừng để những chi tiết hài hước dung tụcđó đánh lừa, cốt truyện của nó, nói về tính chất vọng tưởng của tri thức thế gian, sự vô thường giả tạm của thân xác con người, những sự khổ do ái ly biêt, cầu bất đắc..Cốt truyện kể: Tiên Bửu, cô gái 15 tuổi, làm nghề chèo đó ở bến Giang Tân để kiếm tiền nuôi mẹ. Ông Trượng, 85 tuổi, xuống bến sang đò,giả làm thương khách thử lòng Tiên Bửu. Sau một hồi tán tỉnh, Tiên Bửu cố chối từ, nhưng vì bị thua trong cuộc đối đáp nên đành chịu kết hôn với Lão Trượng. Cuộc hôn nhân già trẻ bất xứng đó đã khiến Tiên Bửu bất bình, do đó, Tiên Bửu buộc ông Trượng nhảy vào chảo dầu sôi để già hóa trẻ. Ông Trượng “chết”. Tiên Bửu vội vã trở lại bến Giang Tân chèo đò. Ông Trượng vốn là tiên nên hóa thành chàng tráng sĩ ra bến đò. Tiên Bửu gặp chàng tráng sĩ trẻ nên phải lòng, nguyện gắn bó làm chồng vợ. Nhưng khi đò cặp bến, Tiên Bửu cầm tay tráng sĩ thì chàng bay lên không biến mất.

* Tuồng Trương Ngáo, tên đầy đủ là Trương Ngáo đòi tiền Phật, cũng là một vở tuồng đồ hài hước, nhưng các biểu hiện giáo lý nhà Phật biểu lộ rõ nét hơn, không chỉ ở tuồng tích mà cả ở tên gọi các vai tuồng: Lục Trần, Tam Bành, Hứa Chơn Tâm…Tích tuồng: Tam Bành là một phụ nữ tinh tướng. Trương Ngáo (chồng của Tam Bành) là một gã đàn ông thật thà đến mức trì độn. Tam Bành vay của Lục Tồn (nhà giàu, góa vợ, chuyên cho vay lãi) 5 quan tiền đem về giao cho Trương Ngáo mang xuống chợ mua hàng về bán lẻ kiếm lời. Ra chợ, thấy nhiều người góp tiền đúc tượng Phật ở chùa Vạn Linh, Trương Ngáo tò mò hỏi sự việc và được đáp rằng việc “Đem đồ đi cúng là lưu tử tôn hậu thế, hưởng lợi lộc vô cùng. Bây giờ cúng 10 đồng, ngày sau…trả mà quá chục. Lời tục tin rằng đi cúng , ngày sau chẳng khác cho vay. Hễ là tích đức ngàn ngày, thời cũng nhờ ơn muôn thuở”. Trương Ngáo nghe thế liền cúng hết 5 quan tiền vào việc đúc tượng Phật. Vì việc làm này, Ngáo bị Tam Bành đánh đuổi khỏi  nhà.

Ngáo gặp cảnh ngộ như vậy bèn quyết lên đường qua Tây phương tìm Phật để đòi lại tiền. Vô tâm đạo dị tầm. Ngáo gặp được Phật. Phật ban cho Ngáo ba hoàn thuốc “định thần” (giúp Ngáo khai mở trí tuệ) và đổi lại tên là Hứa Chơn Tâm. Trở về, Hứa Chơn Tâm trở lại thăm quán trọ và cô chủ quán tên là Hà Như Ý yêu mến. Họ kết nghĩa vợ chồng và cùng nhau lo việc buôn bán làm ăn, chẳng bao lâu trở nên phát đạt.

Nói về Tam Bành, vì món nợ và cũng vì Lục Tồn có tình ý từ trước nên họ kết hôn làm vợ chồng. Song vì tính ham cờ bạc, Tam Bành đã làm tan gia bại sản. Cuối cùng cả hai đành theo Bóng Sỏi để làm nghề ca hát. Một hôm, vợ chồng Hứa Chơn Tâm –Hà Như Ý mời gánh hát Bóng Sỏi đến nhà cúng lễ tạ ơn Bà Độ Mạng. Những người quen biết cũ nhận  ra nhau: Lục Tồn và Tam Bành bị Hứa Chơn Tâm đuổi đi.

Như vậy, Trương Ngáo đòi tiền Phật là vở tuồng phát ra một thông điệp về nhân quả báo ứng, đồng thời khuyến giáovề công đức tạo tượng. Mặt khác, tên các nhân vât chính là những minh dụ về sân si (Tam Bành), lục tặc (Lục Tồn), Chơn Tâm (Hứa Chơn Tâm) : đó là những đặc ngữ của nhà Phật.

* Có phần khác với các vở tuồng trên, tuồng Trương Đồ Nhục vốn có nguồn gốc từ Sự tích chàng Trương Ẩn nhân quả báo ứng trong kinh Kim Cang linh nghiệm. Dị bản truyện này ở xứ ta thường được gọi là truyện Hồn Trương Ba, da hàng thịt.

Cốt truyện: Diêm chúa sai sứ bắt hồn của tay đồ tể Trương Đồ Nhục đã mãn số, đưa về âm phủ để xét tội sát sinh. Nhưng do Thổ Địa sơ ý, quỷ sứ lại bắt nhầm hồn của Trương Hòa thượng (một nhà sư đạo hạnh trang nghiêm, có tên trùng với tên của Trương Đồ Nhục). Khi đem ra xét xử, Diêm chúa phát hiện ra sự nhầm lẫn đáng tiếc này nên cho Trương Hòa thượng được hoàn hồn sống lại. Oái oăm là lúc đó nhục thân của Trương Hòa thượng đã được Tăng chúng ở chùa hỏa táng thành tro rồi. Do vậy Diêm chúa ban lệnh cho hồn Trương hòa thượng nhập vào xác Trương Đồ Nhục. Việc này dẫn đến cuộc tranh chấp giữa vợ Trương Đồ Nhục và Tăng chúng ở chùa. Cuối cùng cả hai bên nhờ quan huyện xét xử. Sau khi biết rõ sự tình, quan huyện cho phép Hòa thượng “Trương Đồ Nhục”cạo đầu đi tu và nhà chùa trả tro xác của Trương Hòa thượng cho vợ Trương Đồ Nhục mang về mai táng.

Nhìn chung, đây là vở tuồng có nội dung khuyến thiện giới ác rõ rệt, cụ thể là nêu ra giới cấm sát sinh, một trong ngũ giới, đồng thời đề cao việc tu hành tinh tấn và ở đó,cũng biểu thị quan niệm về luân hồi, tái sinh theo lý nhân quả báo ứng của đạo Phật.

Những phân giải sơ lược trên đây đã chỉ ra việc có một tập hợp tuồng đám , hát Phật, đặc sản của sân khấu lễ hội “trong chay ngoài bội” mà xưa lan luôn được gộp chung vào loại tuồng đồ,tuồng hài. Nếu tuồng thầy,tuồng pho được sáng tác trên cơ sở đề cao trung hiếu tiết nghĩa của Nho gia thì tuồng đám “trong tay ngoài bội” lại tập trung chủ ý vào giáo thuyết nhân quả báo ứng của nhà Phật, phối hợp ít nhiều với đạo đức thực tiễn dân gian.

III. THAY LỜI KẾT

Như một nỗ lực kiên trì cạnh tranh với hình thức diễn xướng nghi lễ, hội hè dân dã và quan phương, nhà chùa đã cố tìm những hình thức biểu cảm khế hợp với căn cơ của quần chúng nhằm tăng cường hiệu quả công việc hoằng hóa đạo pháp của mình.

Việc trình thức hóa nghi lễ (khoa nghi Phật giáo) có lịch sử lâu đời và khá thịnh hành ở Đàng Trong thời chúa Nguyễn. Theo đó, nhạc lễ , vũ đạo (múa rọi trong nghi Phần chỉ), các hình thức nghi lễ, nghi lục cúng, thập cúng, xá mã, xá hạc, các điệu bạch, thỉnh, nguyện, đọc, tán,tụng…đã làm cho giáo pháp và hình tượng tôn giáo được rõ ràng hơn, dễ tiếp thu và gây ấn tượng hơn. Những kỹ năng mà đội ngũ chư Tăng thực hành khoa nghi ứng phú sở đắc là tiền đề thuận lợi cho việc hình thành hình thức Hát Phật trong trai hội “trong chay ngoài bội” và đây cũng là bước tiến mới của việc tìm kiếm cách thức hấp dẫn hơn trong nỗ lực hoằng hóa (3).

Thoạt tiên,dường như tuồng Quan Âm giáng thế gắn với Đàn Quan Âm- Thổ Địa hay tuồng Mục Liên Thanh Đề gắn với Lễ hội Vu lan là hình thức tá dụ, tức sân khấu nghi lễ còn gắn bó chặt chẽ với chính buổi lễ. Tất nhiên, sự gắn bó này có phần mong manh bởi lời hát, nội dung lời thoại và diễn xuất đã khác biệt với tính trang nghiêm của nghi lễ, mặc dù nghi lễ tự thân nó cũng có tính trình diễn. Bởi vậy, các tuồng diễn này khá gần kịch bản lễ thức.

Loại tuồng “chuyện đời ý đạo” đúng là kịch bản lễ thức. Nếu hoạt động thực hành khoa nghi ứng phú là phương cách “dĩ huyền độ chơn”thì ở đây là “dĩ lộng độ chơn”. Trong nội dung của loại tuồng này, do nhà chùa muốn làm cho phương tiện hoằng hóa trở nên sắc bén hơn nên các chủ đề đạo pháp được tạo ra cách hiểu có tính chất thế tục và có tính thời sự. Đồng thời, kỷ thuật dàn dựng, biểu diễn cũng dần được hoàn thiện cho kịp với những tiến bọ của nghệ thuật tuồng ngoài đời. Việc biểu diễn được chuyển ra ngoài lễ thức- “ngoài bội” , do đó nó không bị câu thúc bởi tính trang nghiêm và quy phạm vủa khoa nghi nên chúng mở rộng phạm vi phản ánh: tràn ngập các tình tiết, lời thoại thế tục. Các mô típ thế tục tác động đến đề tài, thành phần tham gia, cách diễn và các hình thức bên ngoài buổi diễn. Chính vì vậy, khi phục vụ đám đông vui vẻ, cótinh thần hướng về hội hè đình đám như vậy, các vở tuồng chỉ hy vọng thành công nếu nó được người xem hiểu ra chủ ý của vở diễn. Do đó, các kịch bản đều phải có giáo đầu tuồng để chỉ rõ chủ đề của vở diễn, để “đặt vấn đề”. Ví dụ:

– Giáo tuồng vở Trương Đồ Nhục:trai-dan-chan-te

(…) Nghề bán thịt danh Trương Đồ Nhục

(lại nói) Như tôi, chuyên nghề củi lục

Ví kịp yêng tam

(nhưng mà) Chữ đại phú do thiên

Câu tiểu phú cần đã

Hễ người trong thiên hạ

Lấy no ấm làm đầu

(như) Làm (thịt) heo mà ví họa sâu

(bằng) Đánh cá chẳng may tội trọng (hay sao?)

Tin chi lời huyền vọng

Mà cất để vào lòng

(Bớ gia đình)

Gia đình bắc nước cạo lông,)

Cho cậu xuống sao chọc huyết.

(…)

Trịu quang gánh nặng dời chơn,

Theo nghề thương mãi há rằng khen chê!

– Giáo đầu vở Trương Ngáo đòi tiền Phật:

(…)Muốn đặng thiện duyên hai chữ

Phải lo tác phước ngàn ngày.

Chùa Vạn Linh từ lập đến nay

Của Tam bảo sắm vô còn thiếu.

(Chừ thôi thời)

Ta đem tiền bạc, nhóm thêm bổn đạo

Mua đồng đúc Phật Trung Tôn.

Bây giờ ta có tiếng đồn,

Ngày sau cũng đặng nhờ chút phước.

Việc nêu rõ chủ đề muốn “gửi gắm”cho người xem như vậy là một thủ tục truyền thống, song mặt khác, là sự lo ngại các tình tiết phồn tạm của vở diễn che lấp cái chủ ý của vở tuồng: thấy “chuyện đời”mà không hiểu “ý đạo”. Nói chung, càng tăng cường các thành tố thế tục để gây hứng thú cho người xem bao nhiêu thì càng xa mục đích ban đầu bấy nhiêu.

Ngay từ chủ trương kết hợp chay-bội đã nội tại mầm mống tiêu diệt chính nó, nó được tạo dựng là để làm cho quần chúng chú ý tới những thông điệp đạo pháp và bây giờ nó lại làm cho người ta xao lãng tư tưởng ấy. Từ đó, càng ngày càng bộc lộ mâu thuẫn sâu sắc giữa yêu cầu trang nghiêm của khoa nghi và khuynh hướng miêu tả hài hước cuộc sống thế tục để đáp ứng yêu cầu vui vẻ mỗi ngày một mạnh mẻ hơn của thế nhân.

Tổ Hải Tịnh xiển dương khoa nghi ứng phú và rồi Tăng trưởng Giáo hội Phật giáo Lục hòa Tăng nghiêm cấm Hát Phật. Hai chủ trương đều đúng bởi cả hai đều xuất phát từ trách nhiệm với tiền đồ tôn giáo của mình. Vấn nạn này là vấn nạn muôn đời.

Chú thích

(1) Xem: Huỳnh Ngọc Trảng: Địa Năng/ chặp bóng tuồng hài Nam Bộ.Nxb. TP.HCM, 1992

(2) Các kịch bản nêu trong bài viết,tham khảo từ các nguồn sau:

– Thơ tuồng Ông Trượng  – Tiên Bửu (Bản in của imp .Commercial, Saigon,1904; Bản in của Nhà in Bảo Tồn, Chơn Lớn,1950 (?); Bản của Bazar Phạm văn Thịnh, Sàigòn, không đề năm xuất bản.

– Trương Ngáo, Claude et Cei imp, Sàigòn, 1904

– Trương Đồ Nhục trong Tuồng hài của Lê Ngọc Cầu, NXB. Văn Hóa ,H, 1980, tr. 254-279

– Tuồng đám (Hán Nôm) do Trương Ngọc Tường sưu tầm ở Lấp Vò, Sa Đéc.

(3) Xem Diễn xướng nghi lễ trong khoa nghi ứng phú Phật giáo/ Trong dân gian Gia Định – Sài gòn. Trung tâm Văn hóa TP. HCM xuất bản, 2002, tr. 270-294

(Visited 285 times, 1 visits today)

Tags: , , ,

Category: Di sản, Huỳnh Ngọc Trảng, Sưu Tầm, Văn Hoá

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *